32.07 - Nhapcua (type done).

31/8/15
32.07 - Nhapcua (type done).
  • 5 cây nhân-sâm nở hoa tía, người ta tìm lấy củ sâm rửa qua, chưng sơ, cạo qua loa, ban ngày thì phơi, ban đêm thì sấy.

    Thứ sâm nầy cũng có rằn ngang không khác gì với sâm bên Tàu.

    Vị của sâm nầy thanh và ngọt dùng để làm cho sinh tân-dịch trong cơ-thể, bổ khí rất có công-hiệu.

    Sâm sản-xuất ở làng Sóc-sơn trấn Thanh-hóa thì hoa màu vàng trắng, vị thơm ngọt nhưng niêm-lực mỏng không bằng sâm Nghệ-an.

    Ở Kinh-bắc và Phượng-nhỡn cũng có sâm.

    Nhưng sâm Nghệ-an không quý lắm, một lượng chỉ trị-giá 30, 40 tiền.

    Sâm bên Tàu do khách thương đem đến thì khí-chất hoàn-toàn đã biến đổi, một lượng trị-giá đến 80 quan, về sau lại lên đến 150, 160 quan, Bậc công-hầu hoàng-tộc dốc tiền ra mua.

    Tôi bảo: Như thế cũng chỉ là chán gà nhà thích le-le đồng vậy thôi.

    Sản-vật tốt phần nhiều sản-xuất ở vùng Đông- [67a] nam. Cùng núi ven biển đều là kho-tàng của trời đất.

    Liêu-đông, Cao-ly, Tân-la đều là đất cực đông cho nên sản-xuất nhân-sâm.

    Châu Hoan châu Thuận ở nước Giao-chỉ là đất cực nam, cho nên trầm hương, tốc hương, đàn hương, quế đầy dẫy cả rừng núi.

    Vậy việc sản-xuất nhân-sâm lại có đáng gì là lạ đâu mà cứ cho sâm bên Tàu mới là thứ thiệt, còn trầm hương, tốc hương, đàn hương và quế cũng phải đòi cho được thứ ở hải-ngoại do thuyền tàu chở sang nữa hay sao?

    Thứ sâm Tây-dương do thuyền biển chở vào, nay người Tàu cũng ưa thích, một cân có khi giá đến 10 lượng bạc.

    Tôi đã từng uống thứ sâm ấy thật đã thấy khô chát vô vị, nào có ích lợi gì cho khí lực đâu.

    Gần đây người ở Hàng-châu viết sách Bổn-thảo tùng tân có khen sâm Tây-dương có thể bổ phế (bổ phổi), giáng hỏa (hạ nhiệt), sinh tân dịch trong cơ-thể, trừ phiền muộn cũng là quá khen vậy.

    [67b] Sản-vật tốt phần nhiều sản-xuất ở phương Nam, hương liệu, dược-phẩm hoa quả rau câu có thứ bên Tàu không có.

    Từ khi nhà Hán khai-thác đất Giao-châu, tìm-tòi những thứ trân kỳ thì các thứ lạ lùng thơn-tho đã bày la-liệt ở thiên-phủ (phủ tang của triều-đình).

    Sách Thảo-mộc trạng do Kê-Hàm thuật vào thời Tây-Tấn, tuy thu thập chưa được rộng-rãi, đại-lược cũng là đủ.

    Những sách Quảng-châu chí, Ích-bộ ký, Quế-hải chí và các sách phổ biên đều là hạng hậu tấn của sách ấy.

    Sách Thảo-mộc trạng của Kê-Hàm chép: Trái cau tươi (tân lang) ăn thì có vị đắng và chát, nhưng chẻ bỏ cái vỏ ra đem nấu chín thì nó như trái táo khô, đem ăn chung với trầu và vôi thì thấy trơn ngon hạ khí tiêu cơm. Người ở Giao-châu và Quảng-châu cho là quý, khi cưới gả thì đem trầu cau ra đãi khách trước nhất, nếu gặp nhau mà không bày trầu cau ra thì người ta sẽ oán hờn. Phong-tục ngày nay cũng còn như thế.

    Sách Bổn-thảo lại chép: Cau sản-xuất ở Giao-châu thì trái [68a] nhỏ mà có vị ngọt. Cau sản-xuất ở Quảng-châu thì trái to mà chát.

    Sách Quảng-đông tàn-ngữ chép: Ở Quỳnh-châu nhà người dân đều có vườn câu vườn dừa. Đó là sản-vật đất màu-mỡ.

    Sách Quế hải ngu hành chí chép: Người Nam ưa ăn cau, lấy bạc lấy thiếc làm cái hộp nhỏ, một cái đựng vôi, một cái đựng trầu, một cái đựng cau.

    Sách Quảng tây thống chí chép: Đổng-Phó-Sách có bài thơ về trầu cau:

    []

    1 – Cấp cước Man nô kế bán tà

    2 – Khách lai đề hộp thủ song xoa

    3 – Tân lang kinh xuất ban lan phiến

    4 – Khôi bạch trầu[1] (1) thanh đương hiến trá.

    Dịch nghĩa

    1 – Đứa tớ người Man nhanh chân đầu tóc nửa lệch,

    2 – Hai tay bưng cái hộp (đựng trầu cau vôi) ra khi khách đến.

    3 – Cau bưng ra có miếng màu rằn-ri,

    4 – Vôi trắng trầu xanh thay cho việc dãi nước trà.

    Dịch thơ

    Tớ Mán nhanh chân tóc nửa tà,

    Hai tay bưng hộp, khách thăm nhà.

    Cau màu lốm-đốm bày từng miếng,

    Vôi trắng trầu xanh thế nước trà.

    Tác-giả tự chú-thích: Người ở Ung-châu và Quảng-châu lấy lá trầu xanh têm vôi với miếng cau mà ăn gọi là thay nước trà khi đãi khách tới nhà.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ của Khuất-Đại-Quân chép: Ở Quỳnh-châu lúc cây cau bắt đầu trổ hoa chưa kết trái, người ta lấy cộng hoa non mà [68b] ăn để thay nước trà.

    Có câu ca dao:

    []

    Tân-lang bạch bạch sinh hoa,

    Thực hoa đế đương thanh trà.

    Dịch nghĩa

    Cây cau bắt đầu trổ hoa trắng trắng,

    Người ta lấy đế hoa mà ăn thay nước trà trong.

    Dịch thơ

    Cây cau trắng trắng trổ hoa

    Cuống hoa ăn lấy thay trà nước trong.

    Có câu ca-dao nữa:

    []

    Tân-lang thanh, tử sơ thành

    Thử thanh tử, đương trà thanh.

    Dịch nghĩa

    Cây cau xanh, trái mới thành

    Ăn trái xanh thay nước trà trong.

    Dịch thơ

    Cau xanh, trái mới tượng ra,

    Trái xanh ăn lấy thay trà trong veo.

    Chuối ở Giao-chỉ có mấy giống:

    - Ải tiêu (chuối lùn), trái to, vỏ xanh, vị ngọt hơi chua.

    - Thanh tiêu (chuối xanh), trái to, vỏ cũng xanh, thịt trong trái nhiều và dài, vị ngọt hoàn-toàn.

    - Phật tiêu (chuối bụt), trái to, vỏ vàng, ngọt nhất.

    - Diệp tiêu (chuối lá), trái to, vỏ vàng, vị hơi ngọt.

    - Ô tủy tiêu (chuối mỏ quạ), trái như trái chuối lá mà dài, hơi chua

    - Mộc diệp tiêu (chuối lá cây), trái nhỏ, vỏ vàng lợt, thịt bở, ngọt nhất.

    - Miêu nhĩ tiêu (chuối tai mèo), trái nhỏ mà dài, vỏ đỏ, vị lạt.

    - Hột tiêu (chuối hột), trái rất to, vỏ có chỗ xanh chỗ vàng, thịt trong trái có nhiều hột, ngọt nhất.

    - Sơn tiêu (chuối núi), cây thấp nhỏ hơn chuối lùn, người ta ít được ăn trái.

    Những giống chuối kể [69a] trên, cây lá và trái không giống nhau, được người ta thường trồng.

    Sách Thảo-mộc trạng chép về chuối hơi chưa rõ ràng.

    Sách Tạp-trở của Tạ-Tại-Hàng chép: Chuối phiên tiêu giống như chuối phụng vĩ mà nhỏ hơn, trồng nó sẽ trừ được hỏa-hoạn.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Người ở Tây-châu thuộc Tăng thành thường trồng chuối, ba bốn năm liền đốn hết chuối để trồng mía trắng. Mía được đất đã trồng chuối mọc rườm-rà ngon ngọt tốt đẹp.

    Trồng mía được một hai năm, đổi lại trồng chuối, trồng xen kẽ với khoai thì đều được thơm ngon.

    Chuối với mía trồng thay đổi nhau, khi vị hợp nhau hơn ở chỗ khác.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Lá cây chung, hình-trạng giống như lá chuối, lúc còn tươi dùng để gói bánh nếp, lúc đã khô dùng [69b] để bao lót đồ, bịt miệng hũ, cất đồ vật được lâu, chôn xuống đất ngàn năm không hỏng, có thể dùng để chùi đánh ngà voi cho trơn bóng. Tính ra các thứ là dùng ở Việt-trung thì lá chung được dùng nhiều nhất.

    Cho nên bài Trúc chi tư (bài từ cành trúc) có câu:

    []

    Ngũ nguyệt nhai đầu nhân mại diệp

    Quyển thành phiến phiến tự ba-tiêu.

    Dịch nghĩa

    Tháng năm ở đầu đường người ta bán lá.

    Từng tấm cuốn lại giống như lá chuối.

    Dịch thơ

    Thán năm bán lá đầu đàng

    Giống như lá chuối, cuốn mang từng tờ.

    Vẻ đẹp-đẽ của trái lệ-chi (trái vải), người xưa đã khen nào là như hồng tăng[2] (1), như tử tiêu[3] (2), như thủy tinh, như giáng tuyết[4] (3).

    Bạch Lạc-thiên (Bạch Cư-Dị) và Thái Quân-mô[5] (4) đều có ngợi khen ở những sách đồ tự phổ ký.

    Nước Nam sản-xuất trái lệ-chi nhiều nhất. Thứ trái lệ-chi ở xã An-nhơn huyện Đường-hào là ngon, ngọt và thơm không thể nào tả được.

    Trái lệ-chi ở những chỗ khác cũng ngọt và thơm nhưng không bằng thứ lệ-chi ở xã An-nhơn.

    Đầu tháng tư trái lệ-chi chín, cuối tháng tư thì hái đã xong, không để lâu được. Người thích ăn chỉ ăn không quá sáu bảy chục trái. Ăn trái lệ-chi quá nhiều thì bế khí sinh đàm.

    Những phổ biến trong sách Thuyết-phu đều lấy từ trái lệ-chi sản-xuất ở đất Mân làm ngon nhất. [70a] Loại trái lệ-chi nầy có thứ Nhất phẩm hồng, thứ Trạng nguyên hồng.

    Có bốn giống lệ-chi là Ma-thắng, Bàn-họa, Kê-dẫn, Thước-noãn đều chín vào tháng 7.

    Có thư lệ-chi hột nhỏ như hột đậu, có thứ trái giẹp mà không hột.

    Thứ lệ-chi chín vào tháng tư gọi là hỏa-sơn (núi lửa), thịt mỏng vị chua là thứ hạng chót.

    Có người chê Tô Đông-pha ăn trái lệ-chi vào tháng tư, bảo Tô Đông-pha chưa từng đến đất Mân, không biết lệ-chi thứ thiệt ở đấy. Trái lệ-chi mà ông đã ăn chỉ là thứ hỏa-sơn thôi.

    Sách ấy lại chép: Những người thưởng-thức có kẻ một ngày ăn một hai trái, có kẻ ăn một ngày ba trăm trái.

    Tôi thường phụng sứ sang Trung-quốc được các quan đại-phu ở các tỉnh tặng cho ăn trái lệ-chi muối, lại được vua của Trung-quôc ban cho yến tiệc có thứ lệ-chi khô. Trái và hột lệ-chi không khác gì thứ lệ-chi ở nước nhà.

    Sách Hoa-mộc ký chép: Có mười thứ trái nại, có thứ gọi là Tần-bà, ở Yên-kinh nhiều nhất.

    Lệ vua ban yến cho [70b] các sứ-thần nước phiên sang cống có trái nại thứ tròn mà vỏ to, vỏ xanh, thịt trắng, vị ngọt thanh, hột nhỏ như hột trái khế. Đó mới thật là thứ ngon.

    Sách Sơ-học ký không có tên trái nại.

    Cây cỏ nước Nam như dưa hấu (tây-qua) ở thành Cổ-lộng tại La-khê, cả ở xã đại-lữ tại trại An-lãng, khoai ở bến Đông-dư, củ mài ở lăng Cổ-pháp, lệ-chi (trái vải) ở làng An-nhơn, trái bưởi ở xã Đông-lao đều là thứ thượng hạng vì thích-hợp vởi phong-thổ ở đấy.

    Sách Nhất-thống chí chép: Nước An-nam sản-xuất trái ba-la-mật (trái mít) to như trái đông-qua (trái bí), vỏ có gai mềm, tháng 5 tháng 6 thì chín, vị rất ngọt thơm, hột có thể nấu ăn rất bổ-dưỡng con người. Mít sản-xuất ở Gia-lâm thì ngon nhất. Nay hỏi người bổn-thổ ở đấy thì họ bảo là không thơm ngon, mà mít trồng ở Đông-ngạn ở Cổ-loa ngon hơn.

    [71a] Sách Quy-diền lục chép: Ở khoản châu Đường châu Đặng có nhiều giống hồng to (đại sĩ). Trái lúc mới ra thì chát và cứng như đá. Lấy một trái minh tra hay trái ôn-bột cũng được, để chung vào trong một trăm mưới trái hồng thì trái hồng chín đỏ mềm như bùn mà ăn được ngay. Người bổn-thổ gọi là hồng sĩ (giú hồng), không phải dùng lửa để giú cho chín mà dùng các như thế.

    Ở nước ta, hai trấn phía tây-bắc (Sơn-tây và Kinh-bắc) có nhiều hồng. Người bổn-thổ hái trái để vào trong


    [1] Chữ [] phải đọc theo chữ nômtrầu, còn đọc theo chữ nho là lu, lâu (một thứ cỏ để nấu cá).

    [2] Tăng, tên chung gọi các thứ lụa. Hồng tăng là lụa hồng.

    [3] Tiều, tơ sống. Tử tiêu là tơ có màu tía.

    [4] Giáng tuyết (tuyết hồng), tên thứ thuốc đơn cuả tiên.

    [5] Thái Quân-mô, tức Thái-Tương, người ở đất Tiên-du đời Tống, tự là Quân-mô, tính trung-thành cứng-cỏi, giỏi về thi-văn, thông về sử, trong niên-hiệu Thiên-thánh đỗ tiến-sĩ, làm quan đến chức Tri-gián viện, thăng Trực-sử quan, ra làm Tri-châu ở Khai-phong, ở Phúc-châu, ở Tuyền-châu, ở Hàng-châu. Tại Tuyền-châu ở bến Vạn-an ông có làm cái cầu đá, đời sau gọi là cầu Lạc-dương (Lạc-dương kiều). Ông có viết những sách: Trà lục, Lệ-chi phổ, Trái trung huệ tập
  • Đang tải...