32.08 - Linh_tt (type done).

17/9/15
32.08 - Linh_tt (type done).
  • Rổ tre, lấy lá xuyên-luyện giú vài ngày thì trái hồng chín đỏ, gọi là hồng giú.

    Ngâm hồng vào trong nước để trừ vị đắng vài ngày thì trái hồng chín mềm, gọi là hồng tẩm (hồng ngâm).

    Những phương pháp nầy đều thích-nghi cả.

    Xem xét ở sách Bổn-thảo thấy chép: Giú hồng để vào trong hũ cho hồng tự nhiên chín đỏ họi là hồng sĩ (hồng đỏ), phơi hồng ra nắng cho khô gọi là bạch sĩ (hồng trắng), lấy lửa sấy hồng cho khô gọi là ô sĩ (hồng đen), ngâm hồng trong nước gọi là lâm sĩ (hồng ngâm).

    Phương-pháp từ xưa đến nay không khác nhau.

    [71b] Phương-pháp làm hổng trắng: gọt vỏ, đè nhận cho giẹp, ban ngày phơi nắng, ban đêm phơi sương cho đến khi hồng khô có phấn trắng gọi là sĩ binh (bánh hồng). Nay ở phố Thiên-tân thứ hồng trắng này rẻ lắm, một cân chỉ đáng giá mười tiền. Đến Đài-trang hồng trắng nầy đã đắt đến 18 tiền một cân. Từ Dương-châu trở về nam giá hồng trắng đắt gấp bội.

    Cây bễ sĩ (cây cậy) được sách Bổn-thảo chú thích: Cây bễ sĩ như cây sĩ (cây hồng) nhỏ mà thấp, trái giã nhỏ ngâm nước gọi là sĩ tất (sơn cậy), có thể dùng để nhuộm quạt lụa và các món khác.

    Đó tức tục nước ta gọi là cây cậy, cây cũng không thấp. Lúc trái cậy còn xanh, người ta hái ngâm nước, lấy nước ấy nhuộm quạt.

    Để một khối sắt vào, nước cậy có màu đen nhánh.

    Trái cậy không hái để chín giống như trái hạnh, màu vàng, ăn cũng ngọt ngon nhưng có nhiều hột.

    Lý-Thời-Trân nói: “Trái cậy chín cũng có màu xanh đen, hoặc là một giống khác”.

    Lại theo sách Giới am mạn bút chép: [79a] Hồng thứ lớn thứ nhỏ có rất nhiều loại, có thứ hỏa bồn sĩ (hồng hỏa bồn) to mà giẹp, có thứ phương sĩ (hồng vuông) có bốn cạnh hay sáu cạnh, có thứ can nhương (hồng khô) không có hột rất ngon, có thứ hỏa châu (hồng hỏa châu) nhiều hột không ngon, có thứ lục sĩ (hồng xanh) là thứ hạng chót.

    Những loại hồng này đều không chép vào sách Bổn-thảo.

    Quít (quất) và bưởi (dụ) thấy chép ở thiên Vũ-cống trong kinh Thư và chép trong sách Chu-thư, đó là thức trân quý ở phương Nam đầu tiên được đưa vào Trung-quốc.

    Nước Giao-chỉ thuộc nhà Hán có đặt một vị trưởng quan coi về quít hàng năm dâng cống cho vua.

    Sách Hán-thư chép: Ở Giang-lăng được một ngàn cây quít thì được phong ngang với tước Thiên-hộ-hầu.

    Lý-Hành để lại cho con một ngàn cây cam quít (mộc nô, tên riêng của cam quít) được dồi-dào, mỗi năm hoa lợi được bằng mấy ngàn tấm lụa.

    Mối lợi về quít lớn lao là như thế.

    Trái lê ở nước ta và ở Quảng-tây vừa thô vừa chát. Lê ở Giang-nam hơi mềm. Bắc-trực, Hà-giang sản-xuất [79b] thứ hương lê to như nắm tay, vỏ màu vàng trơn bóng, vị ngọt thanh.

    Tôi còn nhớ ở Trác-châu, nửa đường mệt khát, được mấy trái lê liền ăn ngay, lúc ây cho là quỳnh tương ngọc dịch (thức nước quý như ngọc của thần tiên dùng) cũng không hơn được.

    Mía và chuối sánh với lê chỉ là hạng tôi đòi.

    Tay gọt vỏ lê mà suốt ngày còn nghe mùi thơm.

    Sách Thanh dị lục chép: Ở Kiến-nghiệp, có người ở nhà quê trồng lê khoe vị ngọt của lê, gọi lê là mật phụ [1], người trồng đào cậy sắc trái đào, gọi đào là sáp huynh [2].

    Ở Giang-hữu có nhiều tùng thái (một thứ rau). Người bán măng tre ghét thứ rau ấy, mắng nó gọi là tâm tử thái, bởi vì rau là hạng tôi thiếp của măng.

    Nước Nam, cam cũng có nhiều giống:

    - Liên cam (cam sen).

    - Nhũ cam (cam vú), vỏ sần, vị rất ngọt.

    - Trứng cam, vỏ mỏng trơn bóng, vị ngọt hơi chua.

    - Sanh cam (cam sành), vỏ dày, vị chua.

    - Mật cam (cam mật), [73a] vỏ mỏng vị ngọt.

    - Chỉ cam (cam giấy) tức kim quất (quít vàng), vỏ mỏng nhất màu hồng dễ thương, vị chua.

    - Động-đình cam (cam Động-đình), trái to nhất, vỏ dầy nhất, vị chua nhất.

    Bài Quy điền lục của Ân-công chép: Muốn để quít vàng được lâu thì giấu nó vào trong đậu xanh, trải qua thời-gian lâu quít không biến đổi, bởi vì quít tính nhiệt mà đậu tính hàn cho nên có thể giữ được lâu.

    Trái củ-duyên, sách Thảo-mộc trạng chép: Hình-trạng nó giống trái dưa, vỏ nó giống vỏ cam mà màu vàng rất thơm, thịt rất dày màu trắng như trái lô-phục, thợ khắc hình hoa chìm giầm vào mật ong trông rất đẹp-đẽ khéo-léo. Đó tức là trái hương-viên, tục gọi là trái thanh-yên, người ta ăn vào thì tỉnh-táo khỏi chứng chóng mặt.

    Mộc-qua (đu đủ), người Tàu hái trái đu-đủ dùng làm thuốc. Người Nam gọi là cây đu-đủ, hái trái [73b] ngào mật hay bẻ trái chín ăn tươi, vị nửa ngọt nửa chua.

    Sách Thanh dị lục chép: Trái đu-đủ có tính bồi-dưỡng phần hạ bộ cơ-thể con người, gân cốt ở chân có đau thì ăn trái đu-đủ mà chữa, cho nên gọi là thiết cước lê (trái lê làm cho chân cứng như sắt).

    Sách Hoa mộc kỳ chép: Đu-đủ có 5 thứ khác nhau:

    1) Sơn mộc-qua (đu-đủ núi).

    2) Nhuyến điều mộc-qua (đu-đủ cành mềm).

    3) Tuyên-châu mộc qua (đu-đủ ở Tuyên-châu).

    4) Hương mộc-qua (đu-đủ thơm).

    5) Minh-tra mộc-qua (đu-đủ minh-tra).

    Trái hồ-đồi lại gọi là hoàng-bã-nãi.

    Sách Bổn-thảo nói: Thân cây hồ-đồi cao sáu bảy thước, cành mềm yếu như dây leo, lá dài hẹp mà nhọn, bề mặt thì xanh, bề lưng thì trắng có những chấm nhỏ, tháng giêng trổ hoa trắng, kết trái nhỏ, dài như trái sơn thù-du, ở trên có những đốm nhỏ, trái sống màu xanh, trái chín màu hồng, trước tiết lập-hạ, người ta hái ăn vừa chua vừa chát.

    Sách Phi tuyết lục [3] ghi chép: Nước An-nam có thứ trái nhỏ màu hồng gọi là trái lô- [74a] đô.

    Đó tức tục gọi là trái nhót. Lấy lá nhót sắc thành thuốc thang mà uống thì trị được bịnh ỉa kiết nhiều công-hiệu. Trái nhót đem nấu cá thì chẳng kém gì canh mơ.

    Sách Quảng-châu ký chép: Cây quang-lang to chừng bốn năm ôm, cao năm sáu trượng, thẳng suốt không có nhánh, trong lớp vỏ có bột như bột mì, màu đỏ vàng, có cây chứa nhiều đến mấy mươi hộc, ăn nó như bột mì thường không có khác chi hết.

    Bài Thục đô phú có câu: Miến hữu quang-lang 麫有桄榔 = Bột mì có thứ mì quang-lang.

    Chú-thích: Bột mì quang-lang sản xuất ở Cửu-chân Giao-chỉ, thứ mà tục nước nầy gọi là cây phụng.

    Phần Ngô-lục trong sách Bổn-thảo chép: Ở nước Giao-chỉ có cây tương, trong lớp vỏ có bột gạo trắng, đem phơi khô và giã ra và lấy nước nhồi làm bột mì thì có thể làm bánh.

    Sách Thục-ký chép: Cây sa, trong lớp vỏ có bột mì trắng độ một thạch [4], đem mài thành bột nấu cơm ăn thì nhẹ-nhàng trơn mướt đẹp ngon hơn bột quang-lang. Đấy tức tục gọi là [47b] cây bảng.

    Hai cây phụngbảng khác nhau, ở núi Mỹ-lương có rất nhiều. Dọc theo núi, nhân-dân thường kết bọn chừng mấy mươi người, mỗi người đem theo ba ngày lương-thực, họ mới vào núi mà khấn rằng: “Tạ ơn ông Phụng bà Bảng, kẻ dân mọn đói khát thiếu ăn, mong được gánh nặng đem về”.

    Họ đi một ngày đến chỗ sản-xuất thứ cây ấy, làm cái lều nhỏ, gặp ban đêm thì đốt củi đốt pháo để phòng thú rừng, chờ đến sáng đi tìm mà lấy thứ cây ấy.

    Thứ cây nầy ưa mọc ở núi đá, mọc ở chỗ tối-tăm thì thường cứng và chát không có bột, mọc ở chỗ có nắng chiếu thì màu là dòn bở trơn bóng là thứ tốt, người ta đốn lấy đem về, chẻ ra từng miếng đem giã được bột rất nhiều, hòa với đường đem nấu thật ngon.

    Nhân-dân ở địa-phương bán một cây thứ thượng hạng được 700 đồng, hạng trung được 600 đồng, hạng chót được 300 đồng.

    Những năm đói kém người ta nhờ thứ cây nầy làm lương-thực.

    Núi ở Kim-bảng hạt Hoài-an cũng có thứ cây nầy.

    [75a] Người nào ở An-ấp có được một ngàn cây táo, ở Yên-tần có được một ngàn cây lật, ở Hà-bắc có được một ngàn cây lê, ở Giang-lăng có được một ngàn cây quít, ở Vị-xuyên có được một ngàn mẫu trúc (tre) thì người xưa cho là thiên-hộ hầu, ý nói thu lợi được nhiều.

    Ở Giao-châu thì trong vườn cau, vườn trà, vườn cam, vườn quít, vườn lê chỉ trồng được một ngàn cây thì hàng năm thu lợi đến ba bốn trăm quan.

    Ở Sơn-đông táo nhiều nhất. Người ta mua trái táo khô, thuê người chở một lần đến mấy trăm hộc, sở phí thuê thuyền cũng đến ngàn vàng, đem đến vùng Giang-Quảng, đầu tiên một cân trị giá 10 tiền, đến An-nam một cân đến giá 100 quan.

    Sách Tiểu nhĩ-nũ chép: Trái của cây cức gọi là trái táo, thì chín cây cức [5] là chín cây táo.

    Cây cảm-lãm (cây trám), trái có vị trước đắng sau ngọt, cho nên gọi là trái trung-gián (trung-trực can-gián) có thể chữa tất cả trứng độc cá.

    [5b] Sách Bổn-thảo chép: Cây cảm–lãm, ở khoảng những đốt trên cành có nhựa như nhựa cây đào. Người ta lấy nhựa ấy và vỏ lá sắc lấy nước như thiếc đen gọi là lãm đường, dùng để xảm thuyền (trét kẽ hở ở ghe thuyền) lâu năm như keo như sơn, càng nhúng nước càng khô cứng.

    Ngũ liễm tử (trái khế) có năm cạnh, mỗi cạnh giống như hình sống gươm, có một tên nữa là dương-đào (đào dê).

    Sách Thảo-mộc trạng chép: Người Nam gọi cạnh là liễm, cho nên đặt tên là ngũ liễm tử (trái năm cạnh).

    Sách Lĩnh-nam tạp ký chép: Trái khế giải được độc vì ăn thịt, giải được độc người ta thuốc để hãm hại và giải được sơn lam chướng khí.

    Người bổn-thổ lấy khế giầm mật hay ngâm muối để có thể để lâu ngày đem đi xa.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Lấy nước gạo nếp tưới thì cây khế có trái ngọt. Người trúng độc, đâm khế vắt lấy nước mà uống thì mửa độc ra. Người không hợp thủy thổ (ngã nước) và bị sốt rét uống nước khế đều có thể trị được. Tục gọi trái nầy là trái khế.

    Trái nhân-diện (trái mặt người, trái sấu), sách Thảo-mộc trạng chép: Trái nhân-diện ngâm mật thì có thể làm đồ ăn. [76a] Nấu thịt gà thịt vịt thì phải dùng trái sấu. Trái sấu cũng có thể ngâm làm dưa.

    Tục gọi là trái sấu.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Những nhà ở núi, muốn để của cho con cháu được giàu có thì thường trồng cây nhân-diện (cây sấu) và cây ô-lãm (cây trám đen). Cây sấu cho người ta bán trqais, cây trám đen cho người ta bán hột và nhân, hơn trăm năm còn hưởng được lợi đời đời.

    Sách Thảo-mộc trạng chép: Cây dung (cây da), bóng mát che được mười mẫu rộng để người ta làm chỗ nghỉ mát. Cây và cành đã rậm-rạp, lá lại nhỏ, mềm, cành dài như cộng mây rũ xuống vừa ăn vào đất thì mọc rễ. Có khi một thân cây có đến bốn năm gốc, cành gie ngang tiếp đến cây lân-cận nối liền hàng mấy dặm.

    Nay tục gọi là cây da, lại gọi là cây đa.

    Cây chử (cây gió), lời sớ trong kinh Thi chép: Người ở U-châu gọi là cây cốc-tang, người ở Giao-châu và Quảng-châu gọi là cây cốc.

    Trong thời vua Thái-mậu (766) cây tang-cốc mọc to thành ôm ở triểu-đình, tức là cây ấy.

    Người ta giã vỏ nó ra làm giấy.

    Nay ở các trấn Sơn-tây, Tuyên-quang, Hưng-hóa, Thái-nguyên, Lạng-sơn nhân-dân có trồng cây nầy.

    Cây này dễ sống, dễ cao, hai năm đã thành cây, lấy vỏ bán khá nhiều.

    Ở Thụy-nguyên người ta làm giấy bằng vỏ cây thương-lục, tục gọi là ngô-quả. Giấy làm bằng vỏ cây nầy trắng tinh mềm dai đáng là phẩm chất thượng hạng.

    Cây nầy không được nhiều cho nên giấy giá đắt, một tờ giấy giá một tiền.

    Ở phường Quảng-đức người ta lấy vỏ cây chử (cây gió) làm giấy.

    Cây chử dễ được cho nên giấy giá rẻ.

    Ở Trung-quốc người ta biết có giấy bạch-thùy ở Cao-ly mà không biết có giấy thương-lục ở nước Nam.

    Cây sanh, sách Bổn-thảo gọi là cây bà-liễu (cây liễu ở ven sông), lại gọi là cây vũ-sư (thầy làm mưa), gọi là cây thùy ty liễu (cây liễu buông tơ), nói khi trời sắp mưa [77a] cây sánh dấy hơi lên để cảm-ứng, và nói khi mưa tưới xuống cây sanh rủ lá buông tơ, lại nói Phật Quan-âm dùng cành cây nầy để rảy nước phép, lại dẫn các sách cho là







    [1] Mật phụ, cha mật, ý nói ngọt hơn cả.

    [2] Sáp huynh, anh của sáp, ý nói trơn bóng hơn sáp.

    [3] Phi tuyết lục, tên sách, có 2 quyển, do Lưu-Tích đời Minh soạn. Cha của Lưu-Tích là Lưu-Huân thạo Mao-thí, Lưu-Tích thừa kế cái học của cha, cho nên sách nầy biện bạch về thi nghĩa rất có căn-cứ. Ông lại giao-du với các bô lão cuối đời Nguyên, cho nên ông chép những điều nghe thấy cũ rất có nguồn gốc uyên-thâm. Nhưng ông chép những mộng ảo khôi-hài giống như những nhà tiểu-thuyết.

    [4] Mười đấu là một thạch.

    [5] Cửu cức, chín cây cức. Đời xưa trồng cây cức làm chỗ đứng chầu của các quan. Chín cây cức phía tả là chỗ đứng chầu của bậc cô khanh đại-phu, các kẻ sĩ đứng ở phía sau. Chín cây cức ở phía hữu là chỗ đứng chầu của bậc công hầu bá tử nam, các chức lại đứng ở phía sau. Đời xưa xử án ở khoảng ba cây hòe và chín cây cức.
  • Đang tải...