32.09 - Nhapcua (type done).

9/9/15
32.09 - Nhapcua (type done).
  • Cây nhỏ, cành yếu, vỏ đỏ, lá bé hoặc như tơ rủ dễ thương, hoặc dùng làm roi.

    Tục gọi là cây si.

    Quạt bồ-quỳ mà Tạ-An[1] (1) cầm, sách Thảo-mộc trạng chép: Cây bồ-quỳ giống như cây tông-lư mà lá mỏng có thể làm nón lá.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Cây bồ-quỳ, thân cây giống như cây quang-lang, hoa cũng giống hoa cây nầy, một chùm có mấy trăm ngàn đóa rủ xuống, trái như trái cây trám. Các làng ở Tân-hội phần nhiều trồng cây nầy rất thích-hợp để làm quạt. Quạt to ba bốn thước có thể che nắng. Ngọn lá dùng làm áo tơi làm đệm làm chiếu hay miếng bồ-đoàn để ngôi. Lá bồ-quỷ cũng có thể lợp nhà.

    Đấy tức là tục gọi lá bồng.

    Vùng thượng [77b] lộ hai con sông Thao và Đà ở Sơn-tây có thứ cây nầy.

    Ở Đô-thành người ta đều dùng lá nầy. Một vạn tấm lá chỉ trị-giá 3600 tiền.

    Dùng lá bồ-quỳ lợp nhà cho dày thì có thể dùng được sáu bảy năm.

    Người ta cũng lựa lấy thứ lá mịn để làm nón.

    Châu Bố-chính trấn Nghệ-an có một giống cây bồ-quỳ lá mịn và nhỏ có thể dùng để lợp mái kiệu.

    Sách Tân-ngữ lại chép: Lá cây du-quỳ giống như lá cây bồ-quỳ hơi mềm, người ta lấy lá cây nầy làm áo tơi để đi mưa dùng được bền lâu.

    Đấy tức gọi là lá tơi.

    Cây hoàn, có một tên nữa là vô hoạn mộc (cây không có họa hoạn), hột cây nầy người ta dùng để giặt rửa đồ dơ, các tăng ni dùng làm xâu chuỗi niệm Phật, lại có tên là hột bồ-đề.

    Sách Cổ kim chú chép: Ngày xưa có một vị thầy pháp có thể lấy vùa bắt các giống quỷ, bắt được quỷ thì lượm cây hoàn làm gậy mà đánh chết con quỷ ấy. Cho nên đời truyền rằng vì thứ cây nầy được các loại quỷ kinh sợ, người ta lấy nó làm đồ dùng để trừ tà, cho nên gọi là cây vô hoạn (cây trừ quỷ cho nên không có họa hoạn).

    Tục nước ta gọi sai ra cây bồ-hòn (vô hoạn đọc sai ra bồ-hòn).

    [78a] Ở Quảng-châu sản-xuất trái thiên-đào to như trứng vịt màu xanh vàng, vị ngọt hơi chát.

    Điền-châu và Thổ-châu ở Quảng-tây cũng sản-xuất trái thiên-đào.

    Mỗi năm đến tháng hai cây thiên-đào mọc cành non, hoa mịn mọc thành chùm màu vàng lợt và kết trái chín vào tháng năm. Trái to giống trái đào, màu vàng, vị ngọt thơm.

    Cây nầy tức tục nước ta gọi là cây ổi. Trái lúc chín có hai thứ: màu vàng và màu trắng. Đâu đâu cũng có thứ trái nầy, đúng là trái đường-đệ. Sách Bổn-thảo gọi là trái ức-lý.

    Rừng núi ở vùng thượng-lộ trấn Sơn-tây có trái đài-hải, to như trái bí (đông-qua) rất béo và mềm, người bổn-thổ nướng mà ăn gọi là huyền chi trư (lợn treo ở cành cây).

    Sách Quần toái lục chép: Thịt trái đài-hải ngay-ngắn và lạt như thịt heo. Trái to như cái [78b] chén, nướng mà ăn thấy có mùi vị như thịt heo mà ngon, tức là trái đó.

    Cây ô-môn (cây mun), sách Bổn-thảo chép: Lá nó như lá cây lông-lư, gỗ như dầu sơn đen rắn chắc có thể làm đũa lại thích-hợp làm roi ngựa, Đất Nhật-nam có loại cây nầy, nhưng không nói để làm nhạc-khí.

    Sách Động thiên thanh lục[2] chép: Mặt cây đàn cầm phải làm bằng gỗ cây đồng, đáy cây đàn cầm phải làm bằng gỗ cây tử, phím đàn phải làm bằng gỗ ô-mộc, lõi cây táo và gỗ cây hoàng-dương.

    Sách ấy lại nói: Gỗ cây ô-mộc bóng láng và xạm đen lại rất kỳ cổ, thuyền biển hay mua, thì thứ gỗ nầy rất tốt có thể biết được

    Nay, người nước ta làm đàn tranh, ván ở hai bên dùng gỗ này thì tiếng trong và khua vang. Thứ gỗ nầy khô thì cứng chắc, thật các thứ gỗ khác không bằng.

    Cây tô-phương, sách Thảo-mộc trạng chép: Cây tô-phương giống cây hòc sản-xuất ở Cửu-chân, người Nam dùng để nhuộm màu đỏ.

    Sách Bổn-thảo chép: [79a] Ở Giao-châu và Ái-châu cũng có thứ cây nầy, cây nầy giống cây yêm-la (cây xoài), cành dương ra dài độ một thước, người bổn-thổ dùng để nhuộm màu đỏ.

    Sách ấy lại chép: Khi nấu nước cây tô-phương phải kỵ đồ sắt, hễ gặp đồ sắt thì nước đổi màu xạm đen.

    Người nước Xiêm-la khinh tiện dùng cây nầy như củi.

    Sách Thù vực chu tư lục lại chép: Cây tô-phương có một tên nữa là cây đa-na. Nay những phủ Nam-ninh Thái-bình bên Trung-quốc cũng có nhiều thứ cây nầy. (Nước Xiêm-la ở phía nam nước Chiêm-thành, nước ta gọi là nước Chiêm-lỗ).

    Về cây đồng, sách Đồng-phổ chép: Xưa nay các thợ mộc có khi làm những món đồ lớn nhỏ đều đo mà dùng gỗ cây đồng.

    Những loại cây gỗ đáng quý là cây ô-bề, cây bạch-dương, cây tử, cây trà, cây khuê, cây sơn-đào, cây bạch-thạch, cây đào, cây lật, cây cánh, cây nam, cây tùng, cây y, cây phỉ. Nhưng có sự phá hoại của mọt mối, nỗi lo phải mục nát, mối hiềm phải gãy vỡ, thể chất phải khô héo cho những loại cây gỗ kể trên.

    Còn gỗ cây đồng thì khác hẳn thế. Dùng làm nhà to, gỗ cây đồng có thể làm đòn dông, làm rường, [79b] làm cột. Không có loại gỗ nào có thể sánh bì về sức kiên cố của gỗ cây đồng.

    Gỗ cây bạch hoa đồng (cây đồng bông trắng) để làm đồ vật-dụng, có tĩnh hoãn.

    Gỗ cây tữ hoa đồng (cây đồng bông tía), sớ gỗ như gỗ cây tử, mà tính gấp, càng tốt hơn nữa.

    Các thứ gỗ đồng khác chỉ có tên mà không làm vật dụng được.

    Sách Bổn-thảo chép: Cây mộc lan, cành và lá đều thưa, hoa ở trong trắng, ở ngoài tía, thịt mịn mà lòng vàng, cho nên gọi là hoàng tâm (lòng vàng), được thợ mộc quý trọng.

    Thứ cây mộc-lan mọc ở trên núi thì to hơn hết, có thể làm thuyền.

    Hồng tuyến truyện của người đời Đường có câu thơ:

    []

    Thái lăng ca phiếm mộc-lam chu.

    Dịch nghĩa

    Hái trái ấu vừa hát vừa thả thuyền bằng gỗ mộc-lan.

    Sách Lý-Bạch thi chú có câu: Mộc-lan chi duệ [] = Mái chèo bằng gỗ mộc-lan.

    Ở trấn Nghệ-an, trấn Tuyên-quang nước Nam ta tục gọi cây mộc-lan là cây vàng là tốt nhất, thứ to rộng hơn 3 thước, sớ mịn, bền-bĩ lâu dài, có thể làm vật dụng, nhưng không thích-hợp để đóng thuyền.

    Sách Động thiên thanh lục chép: Cây tử có nhiều thứ:

    - Có thứ cây thu tử, cưa xẻ ra thấy màu tía hơi đen, dùng làm [80a] đáy cân đàn.

    - Có thứ cây hoàng tâm tử (cây tử lòng vàng), sở giống sớ cây chư mà rất mịn, màu vàng trắng, hay khô mục không kham làm vật dụng, cũng không phải vật-liệu đề làm đàn.

    Sách Bổn-thảo chú-thích: Cây tử ở mọi nơi đều có, có ba thứ:

    - Thứ sớ gỗ trắng là cây tử

    - Thứ sớ gỗ đỏ là cây thu tử.

    - Thứ có vằn đẹp là cây ỷ tử.

    Có thứ nhỏ là cây giá đồng, cũng gọi là cây , không giống với thứ nầy.

    Sách ấy lại chép: Cây thu, thân cây mọc thẳng lên cao và rủ tơ xuống như chỉ, tức là cây tử thứ đỏ.

    Sách ấy lại chép: Cây thu có hai thứ:

    1) thứ cây thu không có gai.

    2) thứ cây thu gai, cây cao lớn, da màu xanh trắng, ở trên có đốm vàng trắng, ở chỗ cành có nhiều gai to, lá mòng mà ngọt, non ăn được.

    Nước Nam sản-xuất mấy thứ gỗ, gọi là gỗ thiết lâm (gỗ lim), gỗ thiết liễn (gỗ sến), gỗ thiết tấu (gỗ táu), gỗ thiết nghiễn (gỗ nghiễn) là tối thượng hạng.

    [80b] Có cây to đến mười ôm, màu tía, màu đen, rắn chắc như đá. Cung thất, chùa chiền, tuyền tàu, vật dụng không có thứ gì là không dùng đến những loại cây ấy.

    Những thứ gỗ ấy sản-xuất ở Sơn-tây và Nghệ-an là tốt nhất, sớ gỗ như cánh chim sẻ, tuyệt nhiên không có một tấc nào hỏng.

    Những thứ gỗ ấy sản-xuất ở Thanh-hóa An-quảng thì kém hơn, còn sản xuất ở Kinh-bắc thì hạng chót.

    Sách Quảng-tây chí khen thứ gỗ thiết đao sản-xuất ở các phủ tại Ngô-châu, lại còn là gỗ thiết lăng, sớ gỗ rắn chắc có thể bền lâu hơn trăm năm, tức là loại ấy.

    Cây khổ luyện, sách Bổn-thảo chép: Cây nầy lớn rất mau, năm ba năm có thể làm được cây đòn tay. Loài thuồng-luồng kinh sợ thứ cây nầy, cho nên người nước Sở lấy lá cây nầy gói bánh ném xuống sông để điếu tế Khuất-Nguyên.

    Tục gọi cây nầy là cây thù-đâu. Người ta lấy gỗ cây nầy đốt làm than hòa với lưu-hoàng làm thuốc sung.

    Loại gỗ nầy sản-xuất ở Thanh-hóa, Hưng-hóa là to nhất, có thể làm nhà, tránh được mọt mối và bền lâu được trăm năm.

    [81a] Cây sam, sách Bổn-thảo chú-thích: Cây sam giống cây tùng mà cứng thẳng, lá tựa vào cành mọc ra như gai như kim.

    Ở Giang-nam, trước và sau tiết Kinh-trập, người ta bẻ cành cây sam cắm xuống đất mà trồng.

    Gỗ sam sản-xuất ở Oa-quốc (nước Nhật-bổn) không bằng gỗ sam sản-xuất ở các động xứ Thục (Tứ-xuyên) xứ Kiềm (Qúy châu).

    Cây sam có hai loại: đỏ và trắng.

    Cây sam đỏ đặc mà nhiều dầu.

    Cây sam trắng xốp mà khô-khan.

    Nay một tỉnh Hồ-nam, người ta trồng cây sam đầy núi. Khách buôn kết bè thả xuống Giang-nam. Người ta bán cây sam rất nhiều, phải lấy số ngàn vạn cây mà tính. Nhà cửa đồ dùng đều dùng cây ấy mà làm, nhưng những cây sam ấy to không đầy một thước.

    Ở nước Nam, cây sam sản-xuất ở Tuyên-quang là giống cây sam đỏ, rộng có khi đến mấy thước.

    Cây sam sản-xuất ở Nghệ-an phần nhiều là giống cây sam trắng, nhưng không bằng thứ cây sam ở Tuyên-quang.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Cây truyền chia ra ba giống: xanh, vàng và trắng.

    Cây truyền vàng tốt nhất, chắc mà [81b] mịn nhặt, mọt không đục, tức là cây lai ở nước Nam, thứ cây mà Vương-Chiêu-Tố[3] (1) đã ném thằng ăn trộm, tức là cây đó.

    Ở bờ biển phần nhiều sản-xuất một loại cây rắn chắc màu đen rất cổ quái.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Cây trạch[4] (2) có hàng ngàn trăm cây mọc thành hàng ở bờ sông bờ biển, lại là thứ cây từ thời vô thủy (?) trở về trước, chất gỗ không mục nát, lửa đốt không cháy. Người dân chài chặt cây nầy để buộc lưới buộc vó.

    Sách Trúc-phổ chép: Trúc (tre) có 61 loại.

    Sách Dưỡng kha mạn bút chép: Ở Thì-châu có một giống trúc nhỏ, gọi là hoàng ty trúc (tre tơ vàng) mọc trong hôc núi, cao vừa đầy một thước, mịn chỉ như cây kim.

    Núi Vũ-lăng có phương trúc (tre vuông), có bốn mặt phẳng như người ta chuốt, cứng chắc có thể làm gậy.

    Sách Hán-thi thoại chép: Trong Tương- [82a] châu có thứ tre bông. Lúc mới mọc trên mỗi đốt có đốm rêu tròn[5] (1) đóng phủ lên rất khắn, người bổn-thổ đốn tre bông ngâm vào trong nước rồi dùng cỏ chà xát rửa hết rêu ra, thì lộ màu tía tươi sáng rất dễ thương.

    Sách Chí-lâm[6] (2) chép: Trúc có cây đực (hung) cây cái (thư). Cây trúc cái có nhiều măng, nên người trồng trúc thường chọn thứ trúc cái mà trồng. Muốn biết cây tre nào đực, cây tre nào cái, phải xem nhánh thứ nhất từ gốc kể lên, có 2 nhánh là tre cái, có một nhánh là tre đực.

    Cách thức trồng măng: Cách rào chôn một con chồn hay một con mèo ở dưới tường, năm sau măng tự nhiên mọc rải rác khắp nơi.

    Sách Trúc-phổ[7] (3) của Đái-Khải-Chi chép: Cức trúc (tre gai) mọc chung rễ ăn sâu, một bụi làm rừng, cũng gọi là ba-trúc dùng thứ trúc gai này để củng-cố thành-trì.



    [1] Tạ-An, người đất Dương-hạ đời Tấn, tự là An-Thạch, phong độ tuấn-tú, thần thức trầm mẫn, ẩn cư ở Đông-sơn thuộc Cối-kê, về sau làm quan Tư-mã, và chức Thị-trung-Hiếu. Vũ-đế lên ngôi, Hoàn-Ôn quyền chấn thiên-hạ, âm thầm có chí khác. Khi Hoàn-Ôn mất, ông làm chức Thượng-thư bộc-xạ, lãnh Trung-thư-lịnh. Bồ-Kiên đem binh trăm vạn đóng ở Hoài-Phì, kinh-đô chấn-động, Tạ-An làm Chinh-thảo Đại Đô-đốc, cả phá được giặc, thăng chức Thái-bảo ra trấn Quảng-lăng, bịnh ngặt trở về thì mấy, được truy tặng chức Thái-phó.

    [2] Động thiên thanh lục, tên sách, có 1 quyển, do Triệu-Hy-Hộc đời Tống soạn, có tên là Động thiên thanh lộc tập, bàn luận phân biệt những cổ khí và thư họa, phân biệt rất tinh xác, viện dẫn khảo chứng rất xác đáng.

    [3] Vương Chiêu-Tố, người ở đất Toan-tảo đời Tống, dốc lòng học tập, có chí-khí hạnh-kiểm, dạy học mà sống. Người trong làng thưa kiện nhau, họ không đến phủ quan, mà đến nhà Vương-Chiêu-Tố phân xử. Ông thông cửu kinh, nghiên-cứu Lão Trang, rất tinh về kinh Thi và kinh Dịch. Trong thời vua Thái-tổ, ông là Quốc-tử Bác-sĩ. Về sau ông tri sĩ mà mất.

    [4] Chữ [] các tự-điển không có, chúng tôi tạm đọc là trạch vì phần chữ trạch [] làm hài-thanh.

    [5] Đài tiền, rêu đóng thành hình tròn như đồng tiền.

    [6] Chi-lâm. 1) Tên sách do Ngu-Hỉ đời Tấn soạn có 30 thiên.

    2) Tên sách có 5 quyển, do Tô-Thức đời Tống soạn, đó là những bài tùy-bút của Tô-Thức, người đời sau sưu-tập lại gọi là Đông-pha thủ trạch, sau lại đổi ra Đông-pha chi-lâm, rồi gọi tắt là Chi-lâm.

    [7] Trúc-phổ, tên sách, có một quyển, do Đái-Khải-Chi đời Tấn soạn, chép hơn 70 loại trúc, chép bằng lối văn tứ ngôn có vần và tác-giả tự chú-thích.
  • Đang tải...