32.10 - Kimduyen (type done).

10/9/15
32.10 - Kimduyen (type done).
  • VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Chú-thích: Tre gai sản-xuất ở các quận Giao-châu, thứ to bề chu-vi được 2 tấc, thịt rất dầy đặc, mắt ( đốt) đều có gai, người ở đấy trồng để giữ thành, khiến quân địch không thể tấn-công.

    Sách ấy chép lại: cân trúc ( tre gân) dùng làm mâu [82b] làm mối lợi khắp ngoài vùng bốn biển (1), mọc ở đất Nhật-nam, gọi là phiếu trúc, dài độ hai trượng, bề chu-vi được mấy tấc, rất chắc và bén, người Nam dùng làm cây mâu. Lúc măng chưa thành tre có thể dùng làm dây nỏ.

    Sách ấy lại chép: tre bạc và miêu-nha, thể-chất đều dùng được, bề chu-vi được mấy tấc. Tre bạc thì đặc, miêu-nha thì rỗng, cung-cấp cho người dân nam-việt dùng làm rường cột.

    Chữ nha [.] nay tục viết ra chữ nha [.].

    Sách Thảo-mộc trạng chép: Bội-trúc sản-xuất ở Giao-chỉ, chức-viên và dân-chúng thường trồng, dài ba bốn trượng, đường kính bề chu-vi được tám chín phân, không dùng làm cột nhà, không biết là ai đúng.

    Sách Dị vật chí chép: có thứ tre bạc ( phúc) to được mấy vi, những đốt cách nhau rất nhặt, trong ruột đầy đặc, chắc mạnh dùng làm cột nhà và rai nhà, tức tục nước ta gọi là tre bang.

    Chú thích: Sách Trúc-phổ chép: chữ [.] âm [83a] bạc, thinh âm cũng gần giống như vậy.

    (1) Hải biều, ngoài bốn biển.

    QUYỂN 9

    Sách Bát quận chí chép: Huyện Mê-linh thuộc châu Phong có thứ tre to mấy vi, đặc ruột, dùng làm rường nhà cột nhà được, dùng lợp nhà thay ngói.

    Sách Chủng thụ thư chép: cây trúc có tính hướng về phía tây-nam.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: cây quang-lang cùng với ba giống cây cau ( tân-lang), cây dừa (da), cây bồ-quỳ đều gọi là tre trong loài cây.

    Cây cau ( tân-lang) lá nhỏ, cây dừa (da) lá to,hai loại cây này người ta lấy trái, còn quang-lang người ta lấy gỗ, cây bồ-quỳ người ta lấy lá.

    Có một giống nam da ( dừa nam) người ta lấy bột, đều là giống cây lạ-lùng dưới trời nam.

    Ở chỗ đền thờ người ta thường trồng cây quang-lang, cây bồ-quỳ, cây mộc-miên. Ở chỗ chùa phật người ta thường trồng cây bồ-đề. Ở làng xã người ta thường trồng cây đa. Ở bờ ao người ta thường trồng cây lệ-chi ( cây trái vải).

    [83b] Bài Ngô đô phú trong sách văn-tuyển chép: cây có loại bình-trọng, quân-thiên, tùng-tử, cổ độ.

    Chú-thích: Bình-trọng là cây lư, sớ cây bằng-phẳng, có thể làm bàn cờ, cho nên bàn cờ gọi là bình [..].

    Quân-thiên, tùng-tử như cây mã-nãi, tục gọi là cây ngưa nhũ sĩ ( cây hồng vú bò).

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Sách Giao-châu ký chép: cây cổ-độ không trổ hoa mà kết trái, trái từ trong lớp vỏ cây lú ra, to như trái thạch-lựu màu đỏ, trái lúc mới ra còn non có thể nấu mà ăn, trong trái có thứ bồ-lê (?) có thể lấy làm bánh.

    Sách Bắc hộ lục lại dẫn sách Việt-nam chí chép: cây cổ-độ, người Nam gọi là cây vả ( viết á thiết = vả), trái từ trong vỏ cây lú ra, như xâu ngọc châu, to như trái anh-đào, màu vàng có thể ăn được, trái quá chín thì trong ruột hoá thành con kiến bay ra.

    Sách Dậu dương tạp trở lại chép: cây a-nhật , không có hoa mà có trái màu đỏ.

    [84a] Sách Bác vật chí chép: Dân nước Mạnh-thư, vị tiên-chủ của nước này dạy các loại chim, đến đời Hạ-hậu người ta mới bắt đầu ăn trứng chim. Mạnh-thư bỏ đi, chim phụng-hoàng cũng bay theo.

    Sách Khách toạ tân văn chép: phàm loài chim hễ cánh hay chân bị gãy, thì lấy thứ phương-ma ( mè thom70 nhai nhỏ đắp lên chỗ đau thì khỏi ngay.

    Sách Bì-nhã (1) chép: mỏ loài chim núi ngắn, mỏ loài chim nước dài.

    (1) Bì-nhã, tên sách, có 20 quyển, do Lục-điền đời Tống soạn, lúc đầu gọi là sách Vật tính môn loại, sau đổi lấy tên Bì-nhã, giải-thích loài cá, loài thú, loài chim, loài ngựa, loài cây, loài cỏ, bầu trời, tất cả có 8 thiên.

    QUYỂN 9

    Hoài-nam-tử nói: "xem chim thước làm ổ thì biết gió sắp nổi lên từ phía nào.

    Chú-thích: năm nào gió nhiều thì chim thước làm ổ ở cành thấp.

    Xem hang con rái thì biết nước dâng lên cao hay thấp.

    Chú-thích: nước dâng lên đến đâu thì loài rái biết tránh mà làm hang.

    Du-Diệm dẫn sách Toả toái lục chép: loài cá lội ngược nước mà lên, chim bay ngược gió, chim bay ngược gió mà đến, cho vảy cá và [84b] lông chim được xuôi chiều.

    Có gió nhẹ mà không biết từ hướng náo thổi đến, cứ xem hướng chim bay thì biết.

    Tôi trộm nói rằng : " cá và chim đều thuộc về loài dương. Chim bay trên không, cá lội dưới nước không có giây phút nào ngừng, thì biết chúng là loài ưa động".

    Thơ của Đỗ-phủ có câu:

    [.........]
    Khinh yến thụ phong tà

    Dịch nghĩa
    Chim én nhẹ đón lấy ngọn gió thổi nghiêng mà bay.
    Chim én rất nhỏ yếu mà còn nghịch gió mà bay, thì những loài chim khác mình có thể biết được.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Sách chiêm nha kinh ( sách đoán tiếng quạ kêu) của Đông-Phương-Sóc đại-khái chép: Trước hết đếm số tiếng quạ kêu, tiếng kêu thứ nhất là giáp thanh, lấy số thập can mà đếm, phân-biệt tiếng kêu hoãn hay gấp mà định làm dữ.

    Sách Tây kinh tạp ký chép: trong thời vua Thành-đế ( 32-7 trước Tây-lịch) nước Giao-chỉ dâng trường minh kê ( gà gáy tiếng dài) . Gà ấy gáy sáng thì đồng hồ cạn, xét nghiệm với bóng mặt trời thì không sai.

    Phần Thích-danh trong sách Bổn-thảo chép: Cù điểu ( 1) , ở Quảng-đông người ta gọi là chim bát-bát. Loài chim nầy ưa tắm, trồng mắt nó trông dáo-dác [85a] sợ hãi. bát-bát là tiếng nó kêu cho nên gọi nó là chim bát-bát.

    Ở Sơn-tây vùng thượng-lộ có nhiều chim công, chúng bay thành bày ăn lúa chín. Người ta bắt làm thị ngon béo hơn gà nuôi ở nhà.

    Chim hoả-cưu sản-xuất ở tỉnh Quảng-đông.

    Mỗi năm đến tháng sáu, cá chép biển từng bày đến bãi cát hoá thành chim cưu, người ta bắt ăn. Đến mùa thu màu đông ở các bờ sông đều như thế. Có người dùng làm quà tặng cho nhau.

    Chim hoàng-tước sản-xuất ở Huệ-châu.

    Mỗi năm đến tháng tám, loài cá hoá thành chim hoàng-tước, đến sau tháng mười thì thành cá trở lại.

    (1) Cù-điểu, chim sáo, lông toàn đen, người ta phải lột lưỡi , nó mới nói được tiếng người, hay kêu bắt chước theo tiếng chim khác.

    QUYỂN 9

    Chim lục-cưu ( chim cu xanh) sản-xuất ở huyện Vĩnh-thuận tỉnh Quảng-tây. chim nầy giống như chim cu cườm (1) mà màu lục do loài cá vàng hoá thành váo tháng chín.

    Nước ta cũng có thứ chim nầy gọi là chim cu ngói, mỗi năm vào tháng tám tháng chín người ta ăn cơm lúa mới thì bắt thứ chim nầy nấu canh.

    Theo tục-lệ người ta bắt thứ chim nầy làm quà tặng cho nhau.

    Sách Giao-châu ký chép: Biển Nam [85b] có thứ cá vàng, đến tháng chín thì hoá thành chim cút.

    Chim lư-tư ( chim cồng-cộc) sách Bổn-thảo chép: chim cồng-cộc sắc đen như chim quạ mà mỏ dài hơi quắm, giỏ lặn lội dưới nước và bắt cá.

    Các thuyền đánh cá phương Nam thường có cột nuôi mấy mươi con cồng-cộc để bắt cá. đó là tục gọi chim cồng-cộc.

    Tôi phụng mệnh đi sứ sang tàu, đi đường ngang qua vùng Dương-sốc Bình-lạc, thấy dân bổn-thổ phần nhiều nuôi giống chim cồng-cộc nầy, lấy cành tre to cột chân nó vào rồi phóng xuống nước cho bắt cá, người-ta dự-bị cột lỏng lỏng sợi giây ở cổ nó khiến nó nuốt cá không được. Khi thấy nó bắt được nhiều , người ta kéo nó lên, mở mỏ nó ra, nghiêng trút số cá nó bắt được khá nhiều.

    (1) Ban cưu, chim cu cườm có đốm.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Nuôi cồng-cộc để bắt cá phải đóng thuế.

    Chim chá-cô, tục gọi là chim đát đa-đa, cũng gọi là cô kê ( gà gô). Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: chim chá-cô là chim trĩ nuoc71Viet65 theo bóng mặt trời ( tuỳ dương Việt trĩ). [86a] nó bay theo hướng mặt trời. số lần bay của nó tuỳ theo tháng: tháng giêng bay một lần mà thôi, tháng 12 bay 12 lần mà thôi.

    Người ở núi lấy số lần bay của nó mà tính tháng.
    Người ta hỏi nhau: " nay là tháng mấy?"- Đáp: " chim chá-cô đã bay mấy lần".(1)

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: người ở Quảng-đông khéo ấp trứng vịt. Lấy năm sáu trăm trứng vịt làm một khuông để trên lò đất, lấy áo mềm phủ lên, lấy mạt cưa đổ chung quanh rồi đốt lửa khi to khi nhỏ ở trong. Trứng ấm nhiều ấm ít thì nâng cái khuông lên hay xuống và thay đổi ngày đêm bảy lần. Như thế đến 11 ngày mói đem lên giường. Đặt trên giường cũng lấy áo mền phủ lót rối lần lần giảm bớt áo mền đi cho trọn một tháng thì vịt non khẻ vỏ trứng mà ra. vịt non nầy lần lần lớn lên thành vịt con.

    Đương mùa thịnh hạ ( nắng dữ) người Quảng-đông thường lấy gừng non xào thịt vịt con trộn với [86b] ít trái nhân-diện ( trái sấu) để ăn.

    (1) câu đáp nầy sách chép thiếu. chúng tôi nghiệm ý cả đoạn nầy mà viết ra như thế, có lẽ cũng không sai.

    QUYỂN 9

    Câu ngạn-ngữ nói: " gừng già xào thịt bò, gừng non xào thịt vịt".

    Nay nước ta ở xã An-vệ huyện Quỳnh-khôi cách-thức ấp vịt không khác như thế.

    Tương truyền ông Bá-lạc (1) có sách xem tướng ngựa . Lời của ông nói : " Ngựa tốt thì đầu mong được vuông, mắt được sáng, xương sống được mạnh, bụng được trương lên, bốn chân được dài, khuông mắt được cao, lỗ mũi được to, đầu mũi có chữ vương [.], trong miệng được đỏ, xương đầu gối tròn mà dài, hai tai được gần nhau mà hướng tới trước , thụ (?) nhỏ mà đầy.

    Phàm xem tướng ngựa trước hết phải trừ tam luy ( ba ngựa ốm) và ngũ nô ( năm ngựa tồi) rồi mới xem tướng những bộ-phận còn lại.

    - Cổ to đầu nhỏ là nhất luy.

    - Xương sống yếu bụng to là nhị luy.

    - Đìu nhỏ móng to là tam luy.

    - Đầu to tai chậm là nhất nô.

    - Cổ dài không gãy là nhị [87a] nô.

    - Chân trước ngắn chân sau dài là tam nô.

    - Đầu gối to xương sườn ngắn là tứ nô.

    (1) Bá-lạc, người giỏi xem tướng ngựa đời xưa.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    - Hông cạn vế mỏng là ngũ nô.

    Xét ra thời xưa dân-gian tự lo sắm ngựa cho nên tinh-thông về cách xem ngựa như thế.

    Về đại giả thạch (1), sách Bổn thảo chép : nghiền ra màu đỏ có thể dùng để điểm sách.

    Sách Sơn hải kinh chép : Son nước ( lưu giả) bôi lên bò ngựa thì không có bịnh.

    Chú-thích: Giả là đất đỏ, ngày nay người ta cũng lấy son bôi lên sừng bò, nói là tránh độc . Điều nầy cũng phải biết.

    Sách Sơn hải kinh chú chép: con tê-giác giống như con trâu, đầu giống đầu heo, chân thấp, chân giống chân voi có ba móng, bụng to, màu đen, có ba sừng: một sừng ở trên trán, một sừng ở trên mũi, một sừng ở đỉnh đầu.

    Sừng trên mũi nhỏ mà không rụng, gọi là thực giác.

    Con tê-giác ưa ăn gai. Trong miệng thường rây máu và nước bọt.

    Con tự (2) cũng giống [87b] như con trâu, màu xanh, có một sừng nặng 39 cân.

    (1) Đại giả thạch, thứ đá đỏ, mặt ngoài đỏ và trơn, ở trong màu tía như gan gà.

    (2) Con tự, như con bò rừng mà màu xanh, nặng ngàn cân, sản-xuất ở Cửu-đức đất Giao-châu, có một sừng, sừng nầy giống như cán roi ngựa dài hơn ba thước.

    QUYỂN 9

    Phần Doanh nhai thắng lãm trong sách Thuyết-phu chép: con tê-giác giống như con bò rừng, mình nó không có lông, màu đen, có vảy da dầy, chân có ba móng, có một sừng tại đầu mũi dài độ 1 thước 5 tấc, chỉ ăn gai và lá cây.

    Sách Giao-quảng chí chép: Đất rợ tây-nam có giống tê lạ-lùng có ba sừng, đi trong ban đêm như cây đuốc to chiếu ra xa mấy ngàn bộ. Bậc vua chúa quý sừng của nó, cho là lạ, dùng làm cây trâm, có thể tiêu trừ được điều hung nghịch.

    Sách Giao-châu ký chép: con tê-giác sản-xuất ở huyện Cửu-đức, lông như lông bò, chân có ba móng, đầu như đầu ngựa, có hai sừng, sừng trên mũi thì dài, sừng trên đầu thì ngắn.

    Sách Uyên-giám chép: Sừng con thông thiên-tê có sớ như chỉ tơ được thứ sừng nầy dài từ một thước trở lên [88a] đẽo khắc thành hình con cá, ngậm vào miệng mà xuống nước , thì nước thường vẹt ra ba thước, dùng cái sừng ấy để dẫn đường.

    Cầm cái sừng thông thiên-tê khuấy vào trong các thứ nước thuốc độc thì đều thấy sùi lên bọt trắng, và nước thuốc độc không còn độc nữa.

    Có ai trúng tên độc, lấy sừng thông thiên-tê ghim vào chỗ vết thương, thì khỏi ngay.

    Vân sừng tê giống như hình trứng cá, gọi là túc văn ( vân hột thóc), trong vân sừng có mắt gọi là túc nhãn ( mắt