32.11 - Linh_tt (type done).

5/9/15
32.11 - Linh_tt (type done).
  • thóc), thứ trong chỗ đen có hoa vàng là chính thấu (thẳng suốt), thứ trong chỗ vàng có hoa đen là đảo thấu (suốt ngược), thứ trong hoa lại có hoa là trùng thấu (suốt hai lần), mới là sừng thứ thượng hạng.

    Thứ sừng tê có hoa như đốm hột tiêu hột đậu thì kém hơn.

    Sách Quảng-nam dị lục chép: Trong khoảng nước Sở nước Việt, loài voi đều màu xanh đen, chỉ ở phương tây nước Phất-lâm [1] nước Đại-thực [2] có nhiều voi trắng.

    Sách Phật chép: voi trắng có sáu ngà.

    Sách Phật lại chép: Một bầy voi tuy nhiều con mà không [88b] đáng sợ.

    Sách Ngô-lục chép: Huyện Đô-đăng quận Cửu-chân có nhiều voi sống ở trong núi. Trong quân và ở Nhật-nam có nhiều voi.

    Sách Bi-nhã chép: Thân voi có đủ thập nhị tiêu (12 con giáp : là chuột, sửu là trâu, dần là cọp, mão là thỏ, thìn là rồng, tỵ là rắn, ngọ là ngựa, vị là dê, thân là khỏ, dậu là gà, tuất là chó, hợi là heo).

    Sách Vật vĩ thư chép: Tinh của sao Dao-quang [3] tán ra mà thành con voi.

    Sách Ngu hành chí của Phạm-Thành-Đại chép: Chế ngự voi thì dùng cây móc. Người quản-tượng ngồi ở cổ voi, lấy cây móc sắt móc vào đầu voi, muốn voi đi sang tả thì móc cổ nó ở bên hữu, muốn voi đi sang hữu thì móc cổ nó ở bên tả, muốn voi lui thì móc trán nó, muốn voi tới trước thì không móc, muốn voi quỳ mọp xuống thì lấy móc nhận đúng và óc nó, nhận đau thì nó kêu rống lên.

    Muốn hàng liệt được tề chỉnh, người ta đều dùng cây móc để khiến voi đi sang bên tả bên hữu tới trước [89a] lui về.

    Với hình thể to lớn, voi chịu đau không nổi, cho nên người ta được mấy tấc lưỡi sắt nhọn mà dạy được voi.

    Con voi được dạy thuần-thục đã lâu, khi người quản-tượng đến, nó cúi đầu, quỳ co đầu gối ở chân trước bên tả, người quản-tượng bước mà leo lên thì nó đứng dậy mà đi.

    Móng chân voi giống như móng chân tê-giác có thể làm dây đai lưng.

    Sách Thuyết-uyển chép: Lỗ tai trái của voi khi có dầu chảy ra người ta bảo là tính núi rừng của nó phát động, nó tuôn chạy làm hại đến người.

    Người chăn voi hễ thấy dầu trong lỗ tai nó chảy ra thì thường lấy dây buộc giữ nó.

    Sách Dậu dương tạp trở chép: Mật voi tùy bốn mùa mà xuống bốn chân.

    - Mùa xuân mật xuống chân trái trước.

    - Mùa hạ xuống chân mặt trước.

    - Mùa thu xuống chân trái sau.

    - Mùa đông xuống chân mặt sau.

    Không có lệ nhất định như loài rùa.

    Sách An-nam chí chép: Khi voi bị bịnh, nó hướng dần về phía nam mà chết.

    Thịt voi to sớ liền với da, nấu dễ chín [89b]. Mầm ngà và thịt bàn chân ăn khá ngon.

    Sách Thị thính sao chép: Voi sợ khói và ánh lửa. Người ta dùng cây sào dài có gắn bó đuốc bằng cỏ tranh ở đầu ngọn, ở xa trông thấy voi đến, đốt đuốc mà chỉ vào voi, voi liền chạy đi.

    Hiện nay nhân-dân ở ven núi giữ lúa cũng đốt đuốc mà ném vào voi rừng để đuổi nó chạy đi.

    Đào-Trinh-Thạch nói: Trong tháng mùa hạ, khi hòa hợp các món thuốc, nên để cây ngà voi ở bên cạnh, như vậy có thể giải được tà khí.

    Sách Chu-lễ chú chép: Lấy răng voi làm thành hình chữ thập 十 , lấy cây sơn-du xâu vào cho chìm xuống nước thì thủy thần chết, mà chỗ vực sâu ấy biến thành gò. Đó là răng voi có thể đuổi quái.

    Sách Bổn-thảo tập giải chép: Voi sản-xuất ở Giao-châu, Quảng-châu và Vân-nam cùng các nước ở Tây-vực.

    Voi có [90a] hai màu, màu xám tro và màu trắng. Con hạng to mình dài hơn trượng, bề cao xứng hợp với nó. Con hạng trung mình dài độ 6 thước, thịt nhiều gấp mấy con bò, mắt như mắt heo, đi thì trước hết cất chân trái, năm năm mới đẻ, sau mười năm xương mới đủ.

    Sách Thảo-mộc trạng chép: Voi đi phân biệt được chỗ nào rỗng chỗ nào đặc. Chỗ nào hơi rỗng voi không chịu bước qua, cho nên lỗ-bộ [4] của bậc đế-vương cho voi đi trước dẫn đường.

    Sách Trang-tử chép: Loài chim ô-thước luyến mến nhau, loài cá truyền bọt cho nhau, con nào lưng nhỏ thì đẻ.

    Chú-thích: Loài ô-thước giao vĩ (đạp mái) thì đẻ. Loài cá truyền bọt cho nhau thì đẻ. Loài ong không có giống cái mà cũng đẻ.

    Sách Hoài-nam tử chép: Tro tàn sinh ra ruồi. Loài ruổi đen thứ to ở trong nhà do đầu dê hóa thành.

    Sách Tạp-trở của Tạ-Tại-Hàng chép: Việc ăn uống của người Nam thật có thể nói là không lựa chọn thật quá lắm.

    Ở đất Mân có loài long [90b] sắt (con cà-cuống) hay trong ruộng nước không khác gì con tác-trùng (côn-trùng trong bếp).

    Trong khoảng nước Yên nước Tề, người ta ăn con cào-cào con châu-chấu. Người ta bắt con thảo-trùng (châu-chấu) rang cho vàng làm món ăn, gọi là nhuế-tử (con châu-chấu) cho là món trân quý.

    Tạ-Tại-Hàng lại nói: Sách Bi-nhã của Lục-Điền chép: Con phù-du giống như con thiên-ngưu (con xén-tóc) mà nhỏ hơn, có vỏ cứng, có xúc-giác dài ba bốn tấc, màu vàng đen, dưới lớp vỏ cứng có cánh bay được. Nướng nó mà ăn thì ngon lắm.

    Hình chất của nó thuộc về loài long sắt (con cà-cuống). Người xưa đã ắt nó làm món ăn đã lâu.

    Sách Tuyền-nam tạp chí lại nói: Con long sắt như con bọ hung trên bãi cứt trâu, đen mà mỏng. Tách vỏ cứng của nó ra mà ăn thì có chút ít phong vị. Con ấy tức tục gọi là con cà-cuống [5].

    Nhuế-tử tức gọi là con châu-chấu.

    Đông-Phương-Sóc nói: Ở Trường-an, đất trồng khoai và gừng rất thích-hợp, nước có nhiều ếch cá, người nghèo lấy đó mà ăn [91a] mà gia-đình khỏi phải đói rét. Đó là bằng-chứng: Người xưa đã ăn thịt ếch.

    Con tằm là loại côn-trùng thuộc dương, ưa chỗ khô ráo, ghét chỗ ẩm ướt. Đất Giao-châu và đất Nam-Việt là miền nóng bức cho nên tằm đặc-biệt rất nhiều, một năm tằm chín 8 lần.

    Bài Ngô đô phú có câu:

    鄉貢八蠶之錦

    Hương cống bát tàm chi cẩm

    Dịch nghĩa

    Hương thôn đem cống thứ gấm bát tàm.

    Sách Vĩnh-gia ký chép: Ở Vĩnh-gia có thứ tằm Bát-bối, thứ tằm Nguyên-trân, ươm tơ vào tháng 3, thứ tằm Thác, ươm tơ vào đầu tháng 4, thứ tằm Nguyên, ươm tơ vào đầu tháng 5, thứ tằm Ái, ươm tơ vào cuối tháng 6, thứ tằm Hán-trân, ươm tơ vào cuối tháng 7, thứ tằm Tứ-xuất, ươm tơ vào đầu tháng 9, thứ tằm Hán, ươm tơ vào đầu tháng 10.

    Phàm các thứ tằm mà chín hai lần, các bậc tiền-bối đều gọi là trân-ái (yên-quý).

    Sách Bác vật chí nói: Lấy tơ nhện bó vào chỗ cục bướu trong bảy ngày thì tiêu hết. Lắm lần đã có hiệu-nghiệm.

    [91b] Sách Kim đài ký văn chép : Người xưa thấy con ong đá mắc vào lưới nhện. Con nhện bò ra bắt con ong, bị con ong chích rơi xuống, chốc lát thì sống lại, bò đến góc tường cát, lấy chân sau bới cứt trùn (giun) đắp chỗ vết thương, chốc lát thì mạnh khỏe, cuối cùng ăn thịt con ong.

    Sách Bút-đàm chép : Người ta thường thấy một con ong to mắc vào lưới nhện. Con nhện bị con ong chích rơi xuống đất cái bụng gần vỡ ra. Con nhện bò chậm chậm vào trong đám cỏ cắn lấy cọng cỏ cho hơi nát rồi đem chà xát vào chỗ bị chích khá lâu. Bụng con nhện lần lần khỏi.

    Ôi ! đã bày ra máy-móc khéo-léo để bắt lấy vật, lại biết tính lý của vật-chất để toàn vẹn thân-thể mới là trí tuệ đấy.

    Sách Loại tụ chép việc con ong chúa. Nay người ở núi nuôi ong mật, cách-thức thật không sai.

    Ong chúa có một giống đầu vàng như cái mũ và eo vàng như dây đai lưng. Bầy ong bộ-hạ [99a] hàng mấy trăm con đều màu đen.

    Ong chúa sinh ra ong con. Khi ong con lớn lên, ong chúa phân bộ quân cho ong con ở riêng như thể thức phong-kiến. Ong chúa tuy nhiều, mà bộ quân không lẫn lộn.

    Đã từng có một người bắt hơn trăm con ong trong bộ quân này đem hớt cánh hết, rồi trộn lẫn với bộ quân khác và đặt vào trong một đồ đựng, xong rồi thả buông ra. Mỗi con ong đều nhận ra chúa mình mà theo, không có một con nào lộn.

    Nhân-dân ở núi thường nuôi ong, khiến chúng tụ lại đông để lấy mật.

    Bầy ong đi lấy mật ở hoa, cắp vào chân để đem về, mật hoa nào quý và thơm thì đội trên đầu để dâng lên ong chúa.

    Ong chúa đi ra ngoài tất có ong quân theo hộ-vệ có hàng liệt. Mỗi ngày bày hàng hai lần.

    Có khi bị mất ong chúa, ong quân nhịn đói mà chết chớ không chịu làm tôi cho ong chúa khác.

    [99b] Mật và sáp đều do ong gây thành, mà mật thì ngọt, sáp thì lạt rất khác biệt nhau.

    Người nào nói chuyenj vô vị, sách Nội-điển [6] gọi là tước lạp … (nhai sáp).

    Có một thứ côn-trùng ăn nước cây đông-thanh, lâu ngày hóa thành chất mỡ trắng. Vào mùa thu, người ta cạo lấy thứ mỡ trắng ấy đem nấu đổ vào trong nước tức thành sáp trắng. Thứ sáp trắng nầy đem đốt đèn tốt hơn sáp ong.

    Sáp trắng ngày nay ở Trung-quốc đều chuộng.

    Sách Hãi-phổ (sách nói về loài cua) chép : Loài cua đến tháng 8 thì cắn mầm lúa hai cọng dài độ một tấc đi về hướng đông đến biển đem đến chỗ cua chúa.

    Sách ấy lại chép : Loài cua cắp bông lúa để đi chầu chúa nó.

    Loài cua có nghĩa vua tôi giống như loài ông loài kiến.

    Sách Lĩnh-biểu lục chép : Giống của đỏ, trong mai có mỡ (gạch) màu vàng đỏ như tròng đỏ trứng gà trứng vịt.

    [93a] Thịt cua màu trắng hòa với gạch cua rồi dồn vào mai cua, thêm đồ ngũ vị, phủ lên lớp bột mì làm món hãi-trạch rất quý và ngon dễ ưa.

    Cua biển là món ăn ngon.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép : loài của gỏi chiêm-nghiệm nước thủy triều lên hay xuống. Khi nước thủy-triều sắp lên loài cua cất hai càng ngẩng lên mà nghinh đón, khi thủy-triều sắp xuống, loài cua xếp sáu chân cúi xuống mà tiễn đưa.

    Người đánh cá thấy loài cua cúi xuống hay ngẩng lên thì biết thủy-triều xuống hay lên.

    Thủy-triều mà lên thì ít cua. Thủy-triều xuống thì nhiều cua.

    Vỏ vừa lột, mình cua mềm yếu như bông gòn, cả thân thể đọng mỡ vừa hồng vừa vàng lẫn-lộn. Đó gọi là nhuyến-hãi (cua lột).

    Cua chưa lột vỏ gọi là cao hãi (cua mỡ). Người ta lấy thứ cua mỡ (chưa lột) làm ngon, lấy thứ cua lột làm quý.

    Nước triều vơi thì cua béo. [93b] Nước triều đầy thì cáy (bánh kỳ, một loài cua) béo.

    Người muối cua lấy thứ con cáy có lông chân bỏ vào nước muối, ngâm hai tháng, nấu nước ấy làm nước mắm bỏ thêm vào vỏ cam vỏ quít, thì mùi vị ngon tuyệt.

    Giải bỏ phần cặn bã, dùng lấy phần tinh hoa cho nên gọi con cua là hãi [7].\

    Xét ra đời xưa có tương hãi (nước mắm cua), có tao hãi (cua nát như hèm), có đường hãi (cua ngọt như đường).

    Sách Thiên-trung ký chép : Vật trong thiên-hạ, thư to có loài cua ở Bắc-hải, nó cất một cái càng đưa lên trên núi, mà mình nó còn ở dưới nước.

    Sách Quảng-đông tân ngữ chép : Con hào [8] sống phụ avof đá liền nhau như phòng (buồng nhiều phòng dính liền nhau) cho nên có một tên nữa là lệ-phòng (còn hàu có từng phòng).

    Đục một phòng, ở trong có một con hàu sắc trắng ngậm phấn xanh, ăn sống được gọi là hào [94a] bạch (hàu trắng). Con hàu nầy đem muối, gọi là lệ-hoàng (con hàu vàng), mùi vị đều ngon.

    Ở Đông-quan có hào điền (ruộng hàu). Người ta lấy đá đốt cho đỏ, đập nhỏ đổ xuống thì loài hàu sinh ra ở phía trên, lấy đá thì bắt được hàu.


    [1] Phất-lâm, tức Đế-quốc Đông La-mã, cũng gọi là nước Hải-tây quốc.

    [2] Đại-thực, tức Đế-quốc A-lạt-bá, thuộc Hồi-giáo.

    [3] Dao-quang, ngôi thứ 7 của chuôi sao Bắc-đẩu.

    [4] Lỗ-bộ, xa giá nghi lễ của vua lúc vua đi ra ngoài.

    [5] Cà-cuống, chính âm là Đà cuống (Triệu-Đà nói dối). Triệu-Đà ở Nam-Việt có dâng cống cho vua Hán một loài côn-trùng ăn thơm ngon, gọi là con quế dõ (mọt ở cây quế). Về sau người ta biết đó không phải là con mọt quế, và gọi đó là con Đà-cuống (Triệu-Đà nói dối). Tiếng đà-cuống chuyển ra cà-cuống.

    [6] Nội-điển, sách giáo-điển của Phật.

    [7] Chữ hải là con cua, có phần bộ hủy là côn-trùng, phần chữ giải là giải bỏ, gạn bỏ cặn bã, dùng lấy tinh hoa.

    [8] Hào tức con hàu, một loài sò ở biển, bám vào đá thành tảng.
  • Đang tải...