32.12 - Linh_tt (type done).

7/9/15
32.12 - Linh_tt (type done).
  • Người ta đốt đá cho đỏ đổ xuống biển, mỗi năm đổ đá hai lần, bắt hàu hai lần.

    Con hàu vốn là vật hàn (lạnh) được lửa thì mùi vị càng ngọt, gọi là chủng-hào (hàu nuôi).

    Khí-cụ bắt hàu: Lấy gỗ làm thành chữ thượng 上ở trên có một cái giỏ. Phụ-nữ một chân đạp lên thanh gỗ ngang, một chân đạp lên bùn, tay cầm thanh gỗ thẳng, đẩy nhẹ thì thanh gỗ ngang trợt trên mặt cát phẳng, thế rất nhẹ nhàng mau lẹ.

    Khi đã đến ruộng hàu, đục phòng đá (hàu đóng thành phòng như khối đá) ra, lấy thịt hàu bỏ vào giỏ, chờ nước thủy-triều lên mới trở về.

    Thanh gỗ ngang dài chỉ một thước, thanh gỗ cao dài mấy thước. Đó cũng là cách-thức đi trên bùn của người xưa còn truyền lại, và cũng là phép đi cà-khiêu trên bùn của người xưa còn truyền lại.

    Ở nước ta, nhân-dân miền duyên-hải đi bắt hàu [94b] cũng như thế.

    Sách Uyên-giám loại hàm dẫn sách Bổn-thảo chép : Thạch quyết minh (bào-ngư) có một tên nữa là phục-ngư.

    Sách Quảng-chí chép : Con phục-ngư (bào-ngư) không có vảy, có cái vỏ một mặt bám vào đá, có những lỗ nhỏ chen lẫn, có con bảy lỗ, có con chín lỗ.

    Nhan-chí-Thôi [1] khen thứ bào-ngư sản-xuất ở Đăng-châu, mùi vị ngon tuyetj. Món mà Vương-Mãng đời Hán thích ăn tức là món bào-ngư này.

    Trong thời Nam-Tề mỗi con bào-ngư trị-giá đến mấy ngàn tiền.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép : Hòa trùng (con-rươi), khi mưa xuống trong mùa hè nóng nực, lúa bị hun uất mà sinh ra con rươi, hoặc là gốc rạ hóa thành, cho nên cũng màu vàng. Con thứ to như chiếc đũa dài độ một trượng, có đốt có miệng, còn sống thì màu xanh, khi chín thì màu đỏ [95a] vàng.

    Trước tiết Sương-giáng, lúa chín thì con rươi cũng chín. Vào ngày mùng một mùng hai và ngày 15 ngày 16, theo nước thủy-triều lên to, con rươi đứt từng đốt bơi nổi trên ruộng, người ta lấy lưới vớt lấy. Nấu rươi bỏ giấm vào thì nước trắng tự nhiên chảy ra, lấy nước gạo lọc qua, chưng làm cao thì ngọt ngon bổ dưỡng con người, bởi vì được phần tinh hoa của lúa.

    Con rươi ướp muối làm khô làm mắm là món ăn của nhà nghèo.

    Lại có thứ côn-trùng hình trạng như con tằm dài một hai tấc, không thuộc chủng-loại gì, trong khoảng mùa hạ mùa thu, từ gốc lúa bò ra.

    Nước thủy-triều dâng lên tràn cả đồng ruộng, loài nầy theo nước thủy-triều trôi ra biển, ban ngày thì nổi, ban đêm thì chìm.

    Khi loài nầy nổi lên, mặt nước đều một màu tía. Người đi bắt dùng thứ lưới miệng to đáy hẹp cột ở bụng, đi ngược dòng mà hứng lấy. Ở đáy lưới có cái túi. Khi túi đã nặng thì nghiêng đổ vào thuyền.

    Sách Lĩnh-nam tạp lục dẫn trong sách Thuyết-linh chép : Con rươi (hòa-trùng) hình giáng giống như [95b] con bách-cước (loài rít có hàng trăm chân), lại giống con mã-hoàng (con đĩa), thân mình mềm như con tằm, nhỏ như chiếc đũa, dài hơn 2 tấc, màu xanh màu vàng xen kẽ nhau, ở trong có nước trắng, hình-trạng rất dễ ghét, sinh sản ở gốc rạ trong ruộng nơi bở biển, mình dài mấy thước hoặc đến độ một trượng, có sợi dài như tơ trắng, theo nước biển mà ẩ, xuôi theo dòng trôi đến bờ biển, tự đứt ra từng tấc, tức là con rươi.

    Người bổn-thổ lấy lưới mà bắt, trước giờ ngọ (12 giờ trưa) gáng đem bán, sau giờ ngọ thì ươn không thể ăn được.

    Bắt con rươi đặt vào trong đồ đựng, đổ một chén giấm vào, thì con rươi tự nhiên nhả ra chất nước, lược lấy chưng với trứng gà mà ăn thì rất ngon.

    Trong thời giặc phiên, con rươi cũng đánh thuế đến mấy ngàn vàng.

    Xét ra loài nầy ở nước ta người ta gọi là con thổ-hà (con tôm đất, tức là con rươi) sinh –sản ở trong ruộng gần biển, khi con rươi xuất-hiện thì ắt có mưa, đã nghiệm [96a] đúng như thế không sai.

    Mỗi năm ngày 20 tháng 9, ngày mùng 5 tháng 10, con rươi xuất-hiện rất nhiều, lênh-đênh theo nước thủy-triều.

    Người bổn-thổ dự-bị lưới vỏ bắt lấy không biết bao nhiêu mà kể.

    Ngày 30 tháng 5, ngày 20 tháng 8 cũng có con rươi.

    Con rươi nầy dài không quá mấy tấc, không đến độ một trượng, chứa trữ mấy ngày không ươn, đem con rươi thui qua trong lửa cho hết lông, trộn với măng tre nấu canh mà ăn.

    Con rươi có nhiều quá, người ta đem muối hay làm mắm đều rất ngon.

    Những huyện Phụng-hóa, Gia-viễn, Yên-mô, An-khang thuộc trấn Thanh-hoa, những huyện Vũ-tiên, Chân-định, Nam-chân, Giao-thủy, Thanh-quan, Thụy-anh, Đông-quan thuộc trấn Sơn-nam đều thường dâng cống lên vua loài rươi nầy.

    Sách Lĩnh biểu lục của người đời Đường chép : Ngõa ốc tử là loài trai sò, ở Nam-trung xưa, người ta gọi [96b] là ham tử (con sò huyết). Bỗng quan Thượng-thư Lư-Quân làm trấn-thủ ở đấy sửa đổi gọi là ngõa ốc tử vì trên vỏ sò huyết có khía giống như mái nhà lợp ngói (loài sò huyết).

    Trong vỏ sò huyết có thịt màu tía mà đầy bụng. Người Quảng-châu càng quý loại sò nầy thường nướng mà uống rượu, tục gọi là thiên luyễn chá (chả thịt trời). Nhưng ăn nhiều thì bế khí, phải đau lưng mỏi chân.

    Sách Hải vật lục chép : Vỏ con sò huyết có vằn như cái bình đứng (?), ở ngoài thì vun gồ lên, ở trong thì lõm sâu xuống [2].

    Xét ra trong sách Đường-sử thấy chép : Khổng-Quỳ [3] và Nguyên-Chân [4] đều can gián vua Đường, xin dừng bắt dâng cống sò biển nữa, sợ nhọc sức dân. Thế thì loài sò nầy cung-cấp lên vua đã lâu.

    Mao-Thắng đời Tống gọi con sò là Đạm-nhiên-tử, phong nó làm Thiên vị đại tướng quân và khen nó có câu :

    体雖脆異,用寔芳鮮

    Thể tuy xuế dị, dụng thực phương tiên.

    Thể-chất thịt con sò tuy mềm bở lạ-lùng, mà ăn thật là thơm ngon.

    Lời của Mao-Thắng thật là có ý vị.

    Sách Bổn-thảo gọi con ly 蜊(loài sò hến) là khôi, gọi con cáp 蛤(loài sò hến) làm ham, bảo rằng thịt của hai loài nầy nhuần ngũ tạng, trị dứt chứng tiêu [97a] khát và ích-lợi cho khớp xương.

    Sách Tuyền-nam tạp chí lại chép : Con sò to mà béo thì ngon đặc-biệt lạ-lùng.

    Sách Tạp-trở nói : Thức ăn trong yến tiệc phải có món hàm tương (nước tương sò).

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép : Con sò rất ngọt, không cần phải điều hòa bằng gia vị mà ngon ngọt tự nhiên, càng to càng mềm. Đó đều là người biết rành và thích ăn sò.

    Người đời Tống làm bài thơ tạ ơn được tặng món tao ham [5] có câu :

    半捐介甲露濃…

    急具…蔥喚啊添

    Bán quyên giới giáp lộ nùng tiêm

    Cấp cụ khương thông hoán a thiêm

    Nghĩa là

    Cạy hé vỏ sò thấy thịt đậm-đà êm mịn lộ ra

    Gấp đem đủ gừng hành và gọi lấy thêm để ăn nữa.

    Dịch thơ

    Hé cạy vỏ sò, thịt đậm êm

    Hành gừng lấy gấp, gọi đem thêm

    Đất Chiết-đông người ta lấy những ruộng ven biển nuôi sò, phần nhiều là ruộng nuôi con trai.

    Ở nước ta xã Tam-tri huyện Thụy-anh, vào tháng 10 người ta kết thuyền ra biển đến bờ biển Khâm-châu mặc tình bắt sò đem về kinh-đô dâng cống lên vua, còn dư bao nhiêu thì đem bán.

    Khi gió đông-nam thổi, sò thúi ngay không thể ăn được. Chỉ có tháng chạp và tháng giêng là mùa bán sò.

    Sò tính ôn (ấm) có thể [97b] bổ ích khí lực.

    Ăn sò với gừng xắt thành miếng mỏng và cải mà uống rượu thì ngon tuyệt. Tục gọi nó là con sò.

    Sách Di kiên chí chép : Ở Ôn-châu có người vợ họ Đinh ở bờ biển có tính không thích sát sinh. Có người đem tặng bà hơn một trăm con sò huyết (ngõa lũng, loài sò vỏ có khía giống như mái nhà lợp ngói. – Ngõa là ngói). Bà không nhẫn ăn sò ấy mới để vào trong chậu, rảnh-rang sẽ đem thả xuống sông.

    Ban đêm bà nằm mộng thấy lũ ăn mày rất đông, thân-thể lõa lồ gầy ốm, mỗi đứa trước sau tự che thân bằng một tấm ngói. Họ đều có dáng vui mừng. Riêng có hơn mười đứa buồn rầu bảo : “Tụi bây vui quá còn tụi tao lại khổ làm sao!”

    Bà họ Đinh tỉnh dậy suy nghĩ, cho rằng lũ ăn mày ấy ắt là mấy con sò ngõa lũng. Nằm chiêm bao bà còn nhớ rõ số sò, dậy đem sò ra đếm, thì thấy số sò đã bị một người thiếp lén lấy ăn hơn mười con. Mười mấy con sò nầy tức là mười mấy đứa ăn mày buồn rầu đó.

    Cứ theo thuyết nầy thì loài sò biển cũng có thần vậy.

    [98a] Loài cáp ly (sò hến) có vỏ trắng, thịt tía sống dưới biển.

    Sách Bổn-thảo nói loài sò hến làm cho người ta hết khát và làm cho ngon miệng ăn nhiều.

    Thứ sò hến mà vua Tống Nhân-tông không nhẫn ăn là loại nầy, một tên nữa là xích khẩu (miệng đỏ).

    Sách Nam Việt chí chép : Ở chỗ bờ biển có giống thủy mẫu (con sứa), ở Đông-hải người ta gọi là con trú sắc thật trắng nhũng nhũng như bọt. Loài vật nầy có tri-thức, không có tai không có mắt cho nên không biết trách người.

    Thường có con tôm tựa theo nó. Con tôm thấy người ta thì kinh sợ lặn mất, nó cũng lặn mất theo.

    Sách Lĩnh-nam lục dị chép : Con sứa tính ôn (ấm) có thể chữa những chứng về lãnh (lạnh) và nhiệt (nóng).

    Sách Hải vị sách ẩn chép : Con sàn, mình mềm như mỡ, không có xương, vảy mịn, miệng rộng, răng nhiều, phong vị rất ngon, thật là thức thượng hạng.

    Lại có bài khen có câu :

    Phong nhược vô cơ, nhu nhược vô cốt, tiệt chí [98b] phương da ? Hoạch chi chi da ? 豐若無肌,。。若無辜,。。之肪耶?。。之脂也?= Mập béo dồi-dào như không có da, mềm-mại như không có xương, cắt ra như mỡ dầy vậy chăng? Phân ra như mỡ đông vậy chăng ?

    Phần Trùng-ngư sớ trong Mao-thi chép : Bối 具 Là loài ốc có vỏ cứng sống trong nước, thuộc loài cá loài cua-dính (ba-ba), con to gọi là hàng …, con nhỏ gọi là bối. Loài nầy rất nhiều khác nhau về màu sắc, không đồng nhau về lớn nhỏ.

    Đời xưa vỏ loài ốc được dùng làm tiến có thứ chất vàng rằn trắng, lại có thứ tử bối (vỏ ốc màu tía) chất trắng như ngọc có đốm làm vằn. Con to đường kính được một thước, con nhỏ đường kính được tám chín tấc.

    Ở Cửu-chân ở Giao-chỉ người ta dùng vỏ ốc làm chén làm mâm, đồ vật để ăn uống (như muổng thìa).

    Xét theo đó bối tức là loài ốc xà-cừ dưới biển.

    Đại mội (đồi-mồi) sản-xuất ở Quảng-yên, con to giá không quá 5 tiền. Hình-trạng con đồi-mồi giống như con rùa, trên lưng có 12 lá vảy ráp lại.

    Người bổn-thổ nuôi đồi-mồi cho nó ăn cua hay cơm.

    Muốn lấy vảy đồi-mồi mà dùng, người ta treo ngược nó lên, lấy giấm sôi bôi lên [99a] thì từng miếng vảy theo tay mà rớt xuống.

    Vảy đồi-mồi thứ màu vàng nhiều màu đen ít làm quý để chế-tạo dây đai lưng. Người ta lấy vảy đồi-mồi thứ có đốm hình người hình núi làm đẹp. Dư ra người ta dùng vảy đồi-mồi để chế-tạo các loại chén mâm quạt hộp lược.

    Xét theo thiên Vương-hội trong sách Chu-thư thấy chép : Ông Y-Doãn nói với vua Thành-Thang xin đem con lâu-mội dâng lên.

    Con lâu-mội tức là loài đồi-mồi nầy. Vậy con đồi-mồi đã có từ lâu.

    Cá hậu (âm hậu), hình thể rộng hơn một thước, giống như cái ky úp, mai của nó bóng láng màu xanh đen, mắt của nó ở trên lưng, miệng của nó ở dưới bụng, chân của nó giống chân cua mà to. Con cái thường cõng con đực. Máu của nó màu xanh biếc.

    Tục gọi là con sam. Con sám nấu đồ ăn thì ngon nhất. Nếu làm không sạch, người ta ăn vào phải ỉa chảy. Mai của nó có thể dùng để treo đèn.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép : Hậu (con sam) là hậu 侯là chiêm-nghiệm, con sam nghiệm bao giờ có gió rất giỏi. Con sam cái [99b] mang sam con đầy bụng.




    [1] Nhan-Chí-Thôi, người ở đất Lâm-nghi đời Nam Bắc triều, tự là Giới, lúc đầu làm quan cho nhà Lương, thăng Tán-thị-lang, sau chạy sang nước Tề lãnh chức Trung-thư xá-nhân, Hoàng-môn thị-lang, rất được thân-thiết kính trọng, làm Bình-nguyên Thái-thú, giữ Hà-tân. Nước Tề mất, Thôi vào nhà Chu là Ngự-sử thượng-sĩ. Sách của ông viết có Nhan-thị gia-huấn.

    [2] Nguyên văn : My cừ, vun gồ lên (như lông mày là my) và lõm sâu xuống (như rãnh nước là cừ).

    [3] Khổng-Quỳ, người đời Đường, tự là Quân-nghiêm, đỗ tiến-sĩ, làm chức Thị-ngự-sử, thăng Giám-nghị đại-phu, thăng Thượng-thư Tả-thừa, ra làm Hoa-châu Thứ-sử, làm Lĩnh-nam Tiết-độ-sứ, vùng Giao-châu, Quảng-châu được yên trị. Khi vua Mục-tông lên ngôi, ông được về kinh là Tả-thừa rồi lấy cờ già yếu xin tri sĩ.

    [4] Nguyên-Chân, người đất Hà-nam đời Đường, tự là Vi-chi, được vua Mục-tông thưởng-thức về thi ca, làm chức Tử-bộ Lang-trung, vào Hàn-lâm-viện làm Trung-thư Xá-nhân Thừa-chỉ học-sĩ, trong niên-hiệu Trường-khanh làm chức Đổng-trung-thư môn-hạ bình-chương-sự. Nguyên-Chân và Bạch-cư-Dị giao hảo với nhau rất hậu. Thơ của Nguyên-Chân được các phi tần ngâm đọc, trong cung gọi là Nguyên-tất-tử. Sách của ông có Nguyên thị Trường khánh tập.

    [5] Tao, hèm rượu, cặn rượu, liam, con sò.
  • Đang tải...