11.01 - Ngọc Sơn (type done) teddy_M (done)

14/9/15
11.01 - Ngọc Sơn (type done) teddy_M (done)
  • LÊ QUÝ ĐÔN











    VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ


    Tập 1

    Quyển 1, 2 & 3













    Bản dịch của

    Tạ Quang Phát




    TỦ SÁCH CỔ VĂN_ỦY BAN DỊCH THUẬT



    Tiểu-sử

    của Lê- Quý-Đôn (1726 1784)


    Lê-Danh-Phương (sau đổi là Lê-Quý-Đôn) tự là Doãn-hậu,hiệu là Quế-đường, sinh ra trong niên-hiệu Bảo-thái thứ 7 (1726) đời Vua Lê Dụ-tông thời Chúa Trịnh-Cương ở xã Diên-hà, tỉnh Sơn-nam (nay là tỉnh Thái-bình), con của ông Lê Phú-Thứ (sau đổi là Lê Trọng-Thứ) và bà họ Trương.


    Ông Lê Phú-Thứ là một danh-nho đỗ tiến-sĩ trong niên-hiệu Bảo-thái (1724) làm quan đến chức Hình-bộ Thượng-thư.

    Từ thủơ bé, Lê-Danh-Phương đã nổi tiếng thần đồng về trí thông- minh và óc nhớ dai:

    - 2 tuổi đã biết đọc chữ hữu 有 (là có), chữ 無 (là không).

    - 5 tuổi đã học được nhiều thiên trong kinh Thi.

    - 11 tuổi học sử, mỗi ngày thuộc tám chín mươi trương và học kinh Dịch.

    - 14 tuổi đã học hết Ngũ kinh, Tứ thư sử truyện và đọc cả sách của Chư tử, trong một ngày có thể làm 10 bài phú mà không cần viết nháp.

    Tài làm thơ của Lê-Danh-Phương lại càng đáng làm cho mọi người phải thán-phục.

    Một hôm thấy Lê-Danh-Phương rắn đầu biếng học, cha ông quở trách, bắt ông phải ứng-khẩu làm một bài thơ Rắn đầu để tạ tội với điều kiện có nhiều tên rắn. Ông đọc ngay:

    Chẳng phải liu-điu vẫn giống nhà,
    Rắn đầu biếng học chẳng ai tha.
    Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
    Nay thét mai gầm rát cổ cha.
    Ráo mép chỉ quen lời lếu-láo,
    Lằn lưng cam chịu vết roi tra.
    Từ nay Châu Lỗ xin siêng học,
    Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

    Thật đúng là bài thơ tạ tội rắn đầu biếng học, chứa đựng nhiều tên rắn như liu-điu, rắn, hổ lửa, mai gầm, hổ mang.

    Một thần-đồng như thế, thì ngũ-quan của ông ắt có gì đặc-biệt khác thường: đó là hai mắt của ông luôn luôn dao-động.

    Năm Canh-thân nhằm đầu niên-hiệu Cảnh-hưng (1740) Lê-Danh-Phương theo cha lên học ở kinh-đô Thăng Long.

    Năm Quý-hợi (1743), nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 4, ông ứng-thí ở trường Sơn-nam đỗ Giải-nguyên, lúc ấy ông được 18 tuổi.

    Năm Cảnh-hưng thứ 13 (1752), ông được 27 tuổi, thi Hội đỗ đầu, vào thi Đình khoa Nhâm-thân (1752) đỗ Bảng-nhãn.

    Ông được bổ-nhiệm chức Thụ-thư ở Viện Hàn-lâm.

    Mùa xuân năm Giáp-tuất (1754), nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 15, ông được sung vào ban Toản-tu Quốc-sử.

    Năm Bính-tý (1756), nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 17 ông phụng mệnh đi liêm-phóng ở tỉnh Sơn-nam, tố giác một số quan chức ăn hối-lộ.

    Tháng 5 năm ấy, ông được biệt-phái sang Phủ Chúa Trịnh, coi Phiên-binh.

    Tháng 8 năm ấy, ông được sai đi hiệp đồng ở các đạo Sơn-tây, Tuyên-quang, Hưng-hoá, đem cơ Tả-dực đánh giặc Hoàng-Công-Chất, có công to. Lúc về triều, ông dâng bài điều-trần 19 khoản nói về chức chưởng Phiên-binh Chúa Trịnh khen và thưởng ông 50 lạng bạc.

    Năm Đinh-Sửu (1757), nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 18, ông được thăng chức Thị-giảng Viện Hàn-lâm.

    Năm Canh-thìn, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 21 (1760), ông và Trần-Huy-Mật sung sứ bộ sang nhà Thanh báo tang Thái Thượng-hoàng Lê Ý-tông băng và dâng cống.

    Năm Tân-tỵ nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 22 (1761), ông và sứ-bộ đến Bắc-kinh yết-kiến Hoàng-đế nhà Thanh. Trong dịp này, các nho-thần nhà Thanh nghe tiếng ông đều có đến sứ-quán thăm hỏi. Ông cũng có gặp và giao du với sứ-thần Triều-tiên.

    Từ trước sứ-bộ Việt-nam chưa từng đến nhà Thái-học bái yết Tiên-thánh Khổng-Tử. Ông liền cùng Trịnh-Xuân-Chú đến cung yết nhà Thái-học và hội-đàm với quan Trợ-giáo Trương-Nguyên-Quan và Bác-sĩ Trương-Phương-Thú.

    Trên đường về của sứ-bộ, ông thường biện-luận với viên Bạn-tống Tần-Triều-Hãn uyên-bác về học-vấn. Tuy có nhiều điều bất đồng ý-kiến, Tần-Triều-Hãn đã phải than rằng: "Nhân-tài như Lê-Quý-Đôn, ở Trung-quốc cũng ít có."

    Ta có câu ngạn ngữ: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

    Cuộc đi sứ sang Trung-quốc này đã mang lại cho ông nhiều kiến-văn quý báu mà ông sẽ lần lượt kể lại trong sách Vân-đài-loại-ngữ của ông.

    Năm Nhâm-ngọ nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 23 (1762), ông về triều được thăng-thưởng quan Hàn-lâm-viện Thừa chỉ, ông được chọn làm chức Học-sĩ ở Bí-thư các.

    Những kiến văn, những quan-sát và những suy-tư của ông trong hai năm đi sứ sang Trung-quốc đã giúp ông định hướng đường lối chính-trị của ông. Ông có hoài-bão dựa vào Chúa Trịnh để hoàn-thành sự-nghiệp chính-trị hầu bổ-cứu cái tệ nhân tuần thủ cựu của đời bấy giờ.

    Nhưng hoài-bão này của ông không thành đạt, vì sau khi đi sứ trở về ông có nhiều người đố-kỵ ganh-ghét. Họ tìm đủ phương-cách để gièm pha đè nén ông.

    Những tờ điều-trần của ông dâng lên đều bị xếp để yên.
    :rose:

    https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-a1diLVU4aHFkV00/view
  • Đang tải...