11.02-kvkhuong/Ngọc Sơn (type done)

14/9/15
11.02-kvkhuong/Ngọc Sơn (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-SndYZ3E4ZkF5b28/view

    Năm Giáp-thân, nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 25 (1764). được bổ nhiệm chức Đốc-đồng xứ Kinh-bắc (Bắc-ninh), ông ngăn cấm các nhà quyền quý không được áp bức dân nghèo


    Năm Ất-dậu, nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 26 (1765), được được bổ nhiệm chức Tham-chính xứ Hải-dương, ông từ tạ không đi và xin miễn quan về nghỉ, có lẽ vì là người nổi tiếng về văn-học mà phải bổ ra làm quan ở ngoài, nên bất đắc chí .


    Ông nghỉ ở nhà được hai năm đặc-biệt chú trọng về địa-lý


    Năm Đinh-hợi, nhằm niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767) ông được khôi phục chức Thị-thư và tham gia biên tập Quốc sử, kiêm chức Tu-nghiệp Quốc-tử-giám


    Năm Mậu-tý, nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 29 (1768), ông làm xong bộ sách Toàn Việt thi lục, dâng lên Chúa Trịnh, được thưởng 20 lạng bạc


    Tháng 8 năm Kỷ-sửu, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 30 (1769), xứ Thanh-hoa bị bộ tướng của Lê-Duy-Mật và Lê-Đình-Bản đánh cướp. Phan phái hầu làm Đốc lĩnh, ông làm Tán lý quân vụ đem quân đi đánh giặc, cả phá quân Lê-Đình-Bản ở núi Đồng-cổ vào tháng 9.

    Năm Canh Dần, nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 31 (1770), ông thống lĩnh quân kinh và quân thổ hơn 9.000 người, hội với quân Nghệ-an càn quét quân giặc. Lê-Đình-Bản phải đầu hàng. Lê Duy Mật phải tự sát. Ông được phong chức Thị-phó Đô ngự-sử


    Tháng 6, ông được thăng chức Công-bộ Hữu Thị-lang

    Tháng 7, ông dâng sớ xin lập đồn-điền ở vùng thượng du phía trên huyện Yên-định, phía dưới huyện Cẩm-thủy và các động sách của huyện Quảng-bình(nay là là Quảng-hóa) và Nông-cống.


    Chúa Trịnh liền sai quan Thiêm-sai Lý-Trần-Thản đi xem xét tại chỗ. Lỳ-Trần-Thản về tâu rằng chưa thể làm được. Việc lập đồn-điền này bị xếp lại.


    Năm Nhâm thân, nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 33 (1772) ông vâng lịnh Chùa Trịnh điều-tra vầ nỗi khổ-sở của nhân-dân và những điều nhũng-lạm của quan lại ở Lạng-sơn. Quan Đốc-trấn Lê-Doãn-Thân bị cách chức vì tờ báo-cáo của ông.


    Ông đã định hướng đường lối chính-trị của ông là: Tận trung với Chúa Trịnh để trở thành một nhà chính-trị lỗi-lạc trong mai sau. Cho nên khi thấy quan Lễ-bộ Thượng-thư Trần-Huy-Mật, ngày trước đã đi sứ với ông sang Trung-quốc, tỏ thái-độ trung-thành với Vua Lê khi đứa con trai được chọn làm Phò-mă, ông liền đàn hặc Trần-Huy-Mật vầ tội bất kính đối với Chúa Trịnh. Lê-Duy-Mật[sic] bị giáng chức.


    Ngày trước, khi Trịnh-Sâm còn ở Lương-phủ (cung riêng của Thế-tử), Phạm-Huy-Đỉnh rất được Trịnh Sâm yêu mến. Ông liền lén lút tìm cách giao du thân mật với Phạm Huy Đỉnh. Do đó ông được Phạm Huy Đỉnh nâng đỡ dìu dắt lên cùng làm việc. Từ đó, phàm để tôn thờ Chúa Trịnh ức chế vua Lê, không có việc gì mà ông không hăng hái thi hành, cho nên quan lại đương thời đều kinh sợ ông.


    Tháng 4 năm Qúy Tỵ, nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 34 (1773), Phạm-Huy-Đỉnh được bổ nhiệm chức Thư-phủ sự của Chúa Trịnh, còn ông được bổ nhiệm chức bồi tụng.


    Tháng 5 năm ấy, ông cùng với hoạn quan Nguyễn Phương Đình cùng với Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm được lịnh cùng làm hộ tịch. Việc này do ông bàn định trước với Trịnh Sâm, vì nhà nước nuôi dân phải biết rõ số dân để thi hành việc thuế má sưu dịch.


    Nguyễn Phương Đỉnh và Nguyễn Nghiễm chỉ làm lấy lệ, mọi công việc đều do ông cáng-đáng.


    Vì ông tra xét quá nghiêm khắc, nhân dân phải căm hờn. Họ làm thơ nặc danh dán ở cửa Phủ Chúa, xin bãi chức Lê Quý Đôn mà dùng Hoàng Ngũ Phúc


    Chúa Trịnh Sâm cho Hoàng Ngũ Phúc và Lê Quý Đôn lo làm hộ tịch.


    Năm Giáp-ngọ, nhằm niên-hiệu cảnh-hưng thứ 35 (1774), ông đi đo và xét những ruộng cát ở ven biển xứ Sơn Nam. Ông đo được hơn chín ngàn một trăm mẫu, mỗi năm phải nộp 710.000 bát thóc cho nhà nước.


    Tháng 9 năm ấy, tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân đánh Chúa Nguyễn. Chúa Trịnh Sâm cũng đem quân đóng ở Hà Trung, để Lê Quý Đôn, Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Hoãn, Nguyễn Đình Huân làm chức Lưu thủ kinh đô. Những việc như hịch dụ văn thư, thiết quân mệnh tướng đều do Lê Quý Đôn làm cả.


    Ông công-bố 24 khoản thân sức đồn phòng, ngày ngày lo việc vận lương cho quân-đội Nam chinh, tuyển bổ quân sĩ.

    Tháng 12 năm ấy quán Trịnh lấy được Thuận-hoá.


    Năm Ất Vị nhằm niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775), Chúa Trịnh đem quân về Thăng Long.


    Lê Quý Đôn được thăng chức Lại bộ Tả thị lang kiêm Quốc sử quán Tổng tài


    Tháng 10 năm ấy, xảy ra vụ gian lận ở trường thi. Lê Quý Đôn cấu kết với hoạn quan Phạm Huy Đỉnh cho Đinh Thời Trung (học trò của Lê Qúy Đôn) tráo bài thi với Lê Quý Kiệt (con trai Lê Quý Đôn). Việc gian lận bị phát giác, Lê Quý Kiệt bị hạ ngục, Đinh Thời Trung bị đày ở Yên Quảng


    Còn Lê Quý Đôn thì được Chúa Trịnh cho miễn nghị vì là bậc đại thần.


    Mùa xuân năm Bính Thân, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 37 (1776), Chúa Trịnh đặt ty Trấn phủ ở Thuận-hoá, ông được bổ vào Thuận-hoá làm chức Hiệp-trấn Tham-tán Quân-cơ, cùng với Nghiêm Quận-công Bùi-Thế-Đạt làm chức Đốc-suất kiêm Trấn-phủ.


    Vào đến Thuận-hóa, ông quy định thể lệ tố tụng, hạ lịnh cho dùng tiền kẽm, ba đồng ăn một, khai thông việc chở chuyên thóc gạo, giảm thuế đò thuế chợ, cấp bằng nấu muối và cải cách y phục


    Ông lại có dịp khảo cứu sấm ký và hình thế núi sông đất Tây Sơn


    Tháng 9 năm ấy, ông trở lại triều tâu với Chúa Trịnh Sâm rằng: «Tây-sơn có đất thiên-tử, 12 năm nữa, sức mạnh của họ sẽ không có ai chống nổi. Đại-tướng trấn ở Thuận-hoá e không phải là tay đối địch với họ, xin Chúa để ý».


    rằng: «Tây-sơn có đất thiên-tử, 12 năm nữa, sức mạnh của họ sẽ không có ai chống nồi. Đại-tướng trấn ở Thuận-hoá e không phải là tay đối địch với họ, xin Chúa để ý».


    Nhưng Chúa Trịnh Sâm cho là lời quá đáng không hề lưu ý. Ông cũng là thầy địa lý cao siêu.


    Tháng chạp, ông nhậm chức Hành-bộ phiên Cơ mật vụ kiêm chưởng tài phú


    Năm Mậu-tuất, nhằm niên-hiệu cảnh-hưng thứ 39 (1778), ông được bổ-nhiệm chức Hành Tham-tụng. ông cố xin đổi sang võ ban, liền được trao chức Hữu Hiệu-điểm, quyền Phủ-sự, phong tước Nghĩa-phái-hầu.


    Năm Kỷ-hợi, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 40 (1779), có người bổn thổ đất Tụ Long tên là Hoàng Văn Đồng, cha truyền con nối làm chủ mỏ đồng nơi ấy. Vì thiếu thuế, Hoàng Văn Đồng bị Lê Quý Đôn giam vào ngục. Hắn lại đút tiền cho cai ngục và trốn thoát. Sau đó hắn khởi loạn đem quân vây đánh Tuyên Quan và Sơn Tây, bị Nguyễn Khản đánh dẹp và phải đầu hàng.


    Những người đố kỵ với Lê Quý Đôn cho rằng ông đã gây biến và xin giáng chức. Ông bị biếm chức.


    Năm Tân Sửu, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 42 (1781), ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.


    Năm Quý Mão, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 44 (1783), ông được bổ ra làm chức Hiệp trấn xứ Nghệ An

    Được một năm, ông lại về triều và được thăng chức Công bộ thượng thư.


    Ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn, nhằm niên hiệu Cảnh-hưng thứ 45 (1784), ông Lê Quý Đôn thất lộc tại làng Nguyễn xá, huyện Duy Tiên, hưởng thọ được 58 tuổi.


    Qua nhưng hành vi của ông như thẳng tay đàn hặc bạn đồng liêu (việc ông Trần Huy Mật bị giáng) để tỏ dạ trung thành với Chúa Trịnh, như lén lút giao kết chặt chẽ với Phạm Huy Đỉnh để được ông này dìu đắt nâng đỡ cho làm việc, như cấu kết với Phạm Huy Đỉnh để gian lận bài thi cho con, như không từ một hành động nào để ức chế vua Lê và tôn thờ Chúa Trịnh, chúng ta có thể thấy Lê Quý Đôn có học vấn uyên thâm nhưng không phải là bậc cao-sĩ.


    Về sự-nghiệp văn chương, ông Lê Quý Đôn có lưu lại cho đời khá nhiều sách:


    I.Về thi văn:


    A.Sáng-tác:


    - Quế-đường thi tập.


    - Quế-đường văn tập.


    B.Biên-tập:


    - Toàn Việt thi lục.


    - Hoàng Việt văn hải.


    II.Về sử:


    - Đại-Việt thông-sử.


    - Phủ-biên tạp lục.


    - Bắc sứ thông lục.


    - Kiến văn tiểu lục.


    III. Về kinh-điển chú.giải:


    - Thư kinh điển nghĩa.


    IV. Vè tổng-loại:


    - Vân-đài loại-ngữ.


    - Kiến văn tiểu lục.


    V. Về triết-học:


    - Quần thư khảo biện.


    - Thánh mô hiền phạm lục.


    - Âm chất văn chú.


    Ngoài những tác-phẩm kể trên, ông Lê-Quý-Đôn còn để lại những bài văn hài-hước bằng chữ nôm:


    - Lấy chồng cho đáng tấm chồng (kinh nghĩa).


    - Chim khôn đậu nóc nhà quan (kinh nghĩa).


    - Mẹ ơi con muốn lấy chồng (kinh nghĩa).


    - Gái quá thì (phú).


    Vân-đài loại-ngữ (芸臺類語)


    Vântức vân-hương芸香, tên một thứ cây sống nhiều năm, cao hai ba thước, lá xanh lợt, khoảng tháng 6 tháng 7 trổ hoa, hoa có bốn cánh màu vàng nhiều hương thơm, dùng làm thuốc, trừ được loài mọt trong sách. Cho nên người ta dùng vân-hương ghép vào trong sách để giữ sách được nguyên vẹn lâu dài.


    Vân đài (芸臺) là đài chứa sách (có trừ mọt bằng vân hương).


    Loại-ngữ là những lời nói những câu chuyện được xếp thành môn thành loại chung với nhau.


    Vân-đài loại-ngữ là một bộ sách bách-khoa tập hợp những kiến-thức về triết-học, khoa-học, văn-học, vạn-vật-học xếp thành loại với nhau trong 9 đề-mục:


    1. Lý-khí (vũ-trụ luận).

    2. Hình-tượng (vù-trụ học).

    3. Khu-vũ (địa-lý).

    4. Vựng-điển (điển lệ, chế độ).

    5. Văn-nghệ.

    6. Âm-tự (ngôn-ngữ văn-tự).

    7. Thư-tịch (sách vở).

    8.Sĩ-quy (phép làm quan).

    9.Phẩm-vật (vật-dụng và vạn-vật học).


    Trong Sách Vân-đài loại-ngữ, Cụ Lê-Quý-Đôn phần nhiều trích nhặt những lời nói của người xưa của sách xưa. Cho nên đọc sách Vân-đài loại-ngữ chúng ta gặp luôn cách trình-bày: ông này nói thế này, sách kia chép thế nọ.


    Nhưng phần nhiều những tác-giả và nhữnq sách sử kể ra là người Trung-quốc là sách Tàu, và những sự-vật được trình-bày là việc bên Tàu và vật bên Trung-quốc.


    Thỉnh-thoảng Cụ Lê-Quý-Đôn có ghi thêm lời phê-bình hay nhận xét của Cụ, hoặc có trình-bày những sự vật của nước ta để so sánh với của Trung-quốc.


    Đọc sách Vân-đài loại-ngữ rất có ích, chúng ta thu-thập được những kiến-thức, học-thuật, phong-tục, nhận-xét, phương-pháp, suy-luận, tư-tưởng của thời xưa một cách tổng-quát, bởi vì nước ta học theo văn-minh Trung-quốc.


    Nhờ đọc sách Vân-đài loại-ngữ, chúng ta được biết:


    - Ông Lê-Trừng con ông Lê-Qúy-Ly (Hồ-Quý-Ly) được nhà Minh trọng dụng, đã đúc súng đại-bác cho nhà Minh.

    - Nguồn gốc tiếng cây bồ-hòn, vốn là cây vô-hoạn (无患) đọc sai thành bồ hòn.

    - Sự tích thuốc lào và hiểu được câu ca-dao từ xưa còn để lại:


    Nhớ ai như nhớ thuốc lào,

    Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.
  • Đang tải...