21.02 Ngọc Sơn (type done)

8/8/15
21.02 Ngọc Sơn (type done)
  • VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ-QUYỂN IV


    Thiên Kinh-tịch chí trong sách Tùy-thư có chép: Đạo-gia (nhà đạo-sĩ) có phép làm tiêu tai-nạn, độ gian-nguy, dựa theo thuật-số Âm-dương và ngũ-hành, suy tính tuổi thọ vận-mệnh của người ta, viết ra như nghi-thức làm tờ biểu-chương, lại sắm đủ lễ-vật, đốt hương và đọc lên rằng : "Tấu thượng Thiên tào, thỉnh vị trừ ách" (Tâu lên quan chức nhà Trời, xin trừ tai ách cho).


    Gọi đó là lễ Thượng-chương (dâng tấu lên quan chức nhà Trời)


    Nửa đêm ở dưới muôn vì tinh tú trần thiết lễ vật rượu thịt bánh trái cũng tế tất cả Thiên-hoàng Thái ất Ngũ tinh (Kim tinh, Mộc tinh, Thủy tinh, Hỏa tinh và Thổ tinh) và liệt tú, làm bức thư như nghi thức dâng tấu chương lên vua.

    Gọi đó là Tiếu (Đạo-sĩ lập đàn cầu đảo cùng Thượng-đế và thần-tiên).

    Lại lấy gỗ làm cái ấn khắc mặt trời mặt trăng và tinh-tú lên trên, cho hấp lấy hơi khí, rồi cảm lấy nhận vào chỗ có tật bịnh

    Như vậy cũng có nhiều người khỏi bịnh.

    Đời sau giữ trai giới cho thân thể và tinh thần được tinh-khiết để lập đàn cầu xin giải trừ tai-ách cùng Thượng - đế thần tiên bắt đầu từ đấy.

    Theo sách Lễ ký, Thiên tử cúng tế trời đất, buổi sáng cúng tế mặt trời, buổi tối cúng tế mặt trăng, cúng tế các vì tinh-tú.

    Chư-hầu cúng tế thần Xã (Thổ-thần) thần Tắc (Thần Ngũ Cốc).

    Kẻ sĩ cúng tế tổ tiên của mình.

    Ngày nay tất cả thường dân đỉu tiếm-dụng (kẻ dưới lấn địa vị của người trên) đến những lễ tế của Thiên-tử, vượt [4a] bổn-phận mình, phạm lễ quá lắm thì làm sao mà được phúc?

    Kinh Thư chép: Làm lễ cứu Nhật thực, Nhạc-quan (1) thì đánh trống, quan Sắc-phu thì chạy nhanh, thứ dân thì chạy.

    (1) Quan đánh nhạc ngày xưa đều là người mù

    Sảch Bạch hổ thông chép: Người xưa cứu Nguyệt-thực thì các vị phu nhân (1) gõ vào mặt kính, phó-nhân gõ trượng (?), vợ của thường dân chải đầu (?).


    Thơ Linh-đài thuộc phần Đại-nhã trong kinh Thi có câu: Kinh thủy Linh đài (2) (Đo đất bắt đằu làm Linh đài), vì đó là nơi xem mây mà nghiệm xét điềm lành hay điềm dữ


    Sách Ngũ kinh thông nghĩa chép: Thể chế làm Linh đài là đắp đất chồng chất nhiều lớp cao 9 nhận (3), ở trên thì bằng, không có nhà. Chín nhận cao là số dương cùng cực. Bằng ở trên và không có nhà là để xem khí mây cho được rõ ràng.

    Theo chế-độ nhà Đường, ngày quan Tiết-độ-sứ đến dưới bệ từ biệt vua để đi trấn nhậm, vua cỏ ban cho hai cây cờ mao (4) hai cây tinh-tiết (5).


    Lúc quan tiết độ sứ vào đến chỗ trấn nhậm ở châu quận thì cho dựng cây tinh tiết và trương sáu lá cờ đạo (6) theo xe.


    Lúc quan Tiết-độ-sứ vào đến chỗ trấn nhậm ở châu quận thì dựng ngôi tiết lâu (7).


    Triều nhà Tống, lúc quan Tiết-độ-sứ xuất-hành thì ban cho 6 lá cờ đạo, cờ tinh, cây tiết tinh, cờ môn kỳ, để ở nhà công hay nhà riêng [4b], ở hai nơi ấy đều phải làm nhà riêng gọi là tiết đường, sau ngày mùng một và ngày rằm phải cúng tế, bởi hễ có vật nào thì có thần ấy.


    Triều nhà Minh, ở một bên đàn đắp lên để cúng tế núi sông có dựng đền thờ cờ tinh cờ đạo, mùa xuân mùa thu có sai vệ quan giữ cờ cúng tế.


    (1) Phu nhân, thiếp của Thiên tử, vợ của Chư hầu, vợ của các quan lớn.


    (2) Linh đài, ngôi đài do Văn-vương nhà Chu dựng lên, dùng để xem khí âm dương mà xét biết là lành hay dữ và để xem thiên - văn để tiết chế sự lao nhọc hay nhàn rỗi.

    (3) Nhận, 8 hay 7 thước là một nhận

    (4) Cờ mao, một loại cờ có gắn lông đuôi bò Ly ngu ở đầu gù.

    (5) Tiết tức tinh tiết một vật cầm làm tin của người xuất hành, làm bằng tre dài 8 thước, có kết lông đuôi bò Ly ngu ở ở ba chặng.

    (6) Cờ đạo, cờ bằng lông, cắm ở xe lúc xuất hành

    (7) Tiết lâu, ngôi lầu để cây tinh tiết của Tiết độ sứ

    Triều đình nhà Minh lại sai các quân vệ trong nước đều phải lập đền thờ, lấy ngày Sương-giáng các bề tôi hàng tướng đến cúng tế.


    Những linh thần được cúng tế ở kinh đô là Kỳ đầu đại tướng, lục đạo đại thần, Ngũ phương kỳ thần, những thần coi về chiến thuyền, chiêng, trống, còi, súng, pháo, đao, cung nỏ, phi sang, phi thạch và các vị thần về trận tiền trận hậu.


    Những linh thần được cúng tế ở những vệ ngoài thuộc quân ngũ xướng thì gọi chung là thần Quân nha, thần Lục-đạo.


    Tế Đại trá, (1) thì ba đời (Hạ, Thương, Chu) đều có, nhà Hạ gọi là Tế Gia bình, nhà Ân gọi là tế Thanh tự, nhà Chu gọi là tế Trá. Nhà Tần [5a] bắt đầu gọi là tế Lạp.


    Các đời từ nhà Hán nhà Đường trở về sau đều có tế Lạp, cuối năm cúng tế tất cả các vị thần để báo thành công.


    Chế độ nhà Minh thì bỏ bớt lễ tế nầy.


    Đời xưa có lễ tế Khu-na (2) thấy ở sách Chu-quan (3), ơ tbĩên Nguyệt-lịnh trong sách Lễ ký và sách Luận-ngữ.


    Xét theo sách Hán-chí, một ngày trước tế lạp là tế Đại na, chọn lựa các con em ở Trung hoàng môn (4) lấy 120 làm chấn-tử (5) để đuổi quỷ ôn dịch.


    Lễ tế Đại-na sau nhà Đường hãy còn.


    Chế-độ nhà Minh không có lễ tế nầy,


    Kinh Lễ chép: Thiên-tử chư-hầu và quan đại-phu đều thờ thần Thái-lệ (6), thần Công-lệ (7), thần Tộc lệ (8).


    Sách Tả-thị chép : Quỷ thần cỏ chỗ quay về thì không làm điều hung dữ -nữa.

    1) Trá, đại lễ cúng vạn vật vào tháng chạp.


    2) Na, quỷ ôn dịch, Khu na là lễ tế để đuổi trừ quỷ ôn dịch.


    3) Chu quan tức sách Chu Lễ.


    4) Trung hoàng môn, tức hoạn quan ở trong cung cấm.


    5)Chấn tử, đồng nam, đồng nữ, con trai con gái nhỏ tuổi.


    6)Thái lệ, bậc đế vương chết mà không có con nối dõi thờ phụng.


    7) Công lệ, bậc chư hầu chết mà không có con nối dõi thờ phụng.


    8) Tộc lệ, quan đại phu chết mà không có con nối dõi thờ phụng.

    Ấy là từ Tam-đại (Hạ, Thương, Chu) trở về sau đều có tế Lệ .


    Theo chế độ nhà Minh ở kinh đô, phủ châu, huyện khắp trong nước đều có lập đàn thờ thần Lệ mỗi năm cúng tế ba lần:


    1) Mùa xuân cúng tế vào tiết Thanh-minh.


    2) Mùa thu cúng tế vào ngày rằm tháng 7.


    3) Mùa đông cúng tế vào ngày mùng 1 tháng 10.


    Ở trong kinh đô thì sai quan Kinh doãn, ở ngoài châu quận thì sai quan Thú-lịnh làm chủ lễ cúng tế này.


    Triều trước dâng sớ điệp lên thần Thành hoàng, đến (5b) ngày lễ, cúng tế làm chủ yếu, vua Thái tổ làm bài văn tế và ban hành khắp mọi nơi làm định thức, kể tình trạng quỷ thần không được cúng tế thật oan thảm. Mọi lễ cúng tế rất là chu tất.

    Sách Uyên giám loại hàm chép: Thờ thần Thành hoàng (1) từ đời Tam quốc trở về sau, nhân có việc mới cúng tế. Đền thờ thì thấy Lý Đức Dụ nói lập ở thành đô.

    Từ đời nhà Tống- trở về sau khắp trong nước đều thờ phụng thần Thành-hoàng.

    Năm đầu niên-hỉệu Hồng-vũ (2) (1368, đời vua Thái-tổ nhà Minh) ra lịnh cho quận huyện mỗi nơi đều phải lập đàn thờ thần núi sông, thể-chế thờ thần núi sông giống như thờ thần Xã-Tắc.


    Sách Bạch thát tủy chép: Triệu - Tùng - Thiện làm chức Doãn ở phủ ứng-thiên, hằng ngày có vời Kiều Sinh đến nhà dạy con em là Hy-Thương. Kiều Sinh dạy Hy Thương mỗi buổi sáng lễ Khổng tử sai thợ đúc những vật dụng dùng trong lễ thích thái (lễ dâng rau tảo rau phiền cúng tế Tiên sư) y theo nghi chế ở trường công để thường thường cung phụng hành lễ.

    (1) Thành-hoàng, ông thần làm chủ trấn giữ một thị thành (thành hoàng là thành trì). Người ta cúng tế Thành hoàng để cầu mưa, cầu nắng và trừ tai ách.


    (2) Nhà Minh không có niên hiệu Hồng Đức, nguyên văn chép lầm Hồng Vũ ra Hồng Đức.

    Quan Thượng-thư Hoàng-Tử-Điền hay được việc đó [6a] muốn khiển trách. Nhưng Triệu-Tùng-Thiện biết kịp sai phá hết các vật-dụng và đuổi Kiều-sinh đi.

    Đó là chứng nghiệm để nhận thấy rằng chế độ nhà Tống không cho thường dân tiếm việt địa vị thờ phụng Khổng Tử.

    Vua Thế-tông nhà Minh (1522—1566) tự nhiệm lấy quyền chế-tác lễ nhạc: trong niên hiệu Gia Tĩnh thứ 11 (1532) bắt đầu đổi hiệu phong Văn-tuyên vương (1) của Khổng-tử ra Chí thánh Tiên sư Khổng-phu-tử, đổi tên điện Đại-thành ra ra miếu Tiên-sư, đổi tượng nặn bằng đất ra tượng chạm bằng gỗ, đổi những hiệu phong của các danh hiền thần thờ chung với Khổng tử gọi là Tiên hiền Tiên nho họ gì tên gì. Đó là theo lời bàn nghị của Ngô-Trừng đời nhà Nguyên.


    Nay triều nhà Thanh cũng noi theo đó.

    Trong Văn miếu ở Trung quốc, Tứ Phối (2) được thờ trên hai cái khám.


    Khám bên tả thờ: Phục-thánh Nhan-Tử và Thuật-thánh Tử-Tư Tử.


    Khám bên hữu thờ : Tông-thánh Tăng-Tử và Á thảnh Mạnh Tử.


    Mười hai vị hiền được thờ trên sáu cái khám :


    Sáu vị tiên hiền thờ ở bên tả : 1) Mẫn-Tử, [6b] 2) Nhiễm-Tử, 3) Đoan-Mộc-Tử, 4) Trọng-Tử, 5) Bốc-Tử, 6) Hữu-Tử.


    Sáu vị tiên hiền thờ ở bên hữu: 1) Nhiễm-Tử 2) Tề-Tử, 3)Nhiễm-Tử, 4) Ngôn-Tử, 5) Chuyên-Tôn-Tử, 6) Chu-Tử (3) (Nhiễm-Ung, Nhiễm-Bá-Ngưu, Nhiễm-Cầu).


    Vua Thế tông nhà Minh xuống chiếu cho thiên hạ lập đền Khải Thánh từ (4) ở bên tả miếu học để truy tôn người đã sinh ra đức Thánh Khổng Phu-tử.

    (1)Văn Tuyên Vương, hiệu phong của Khổng tử đời nhà Tống, nhà Nguyên..

    (2)Tứ phối, 4 vị được thờ chung trong Khổng miếu: ỉ) Nhan Tử. 2) Tử-Tư. 3) Tăng-Tư. 4) Mạnh-Tử.

    (3)Nguyên văn chép thiếu, chỉ có 11 vị tiên hiên, phải tra Trung văn đại từ điển mới kể đủ 12 vị hiền.

    4) Khải-thánh từ, đền thờ của Thúc Lương Hột, cha của Khổng-tử, về sau đổi gọi là Sùng thánh từ, gọi Thúc Lương Hột là Khải Thánh Vương.


    Còn những hiền phụ, cha của các vị hiền-triết từ Nhan-Tử, Tăng-Tử trở xuống đều được theo thờ-tự thờ chung ở đấy.


    Như thế thật đại nghĩa đã đắp gốc khơi nguồn soi đức báo công.


    Nay trong mùa xuân năm đầu niên hiệu Ung Chính (1723) đời vua Thế - tông triều nhà Thanh, phụng chi truy phong các tổ-tiên năm đời trước của Khổng-Tử:


    1) Mộc-kim phụ công làm Triệu-thánh vương.


    2) Cao tổ (Ông sơ) là Kỳ công làm Dụ-thánh vương.


    3) Tằng tồ (ông cố) là Phòng Thúc công làm Thiệu -thánh vương.


    4) Tổ phụ (ông nội) là Bá Hạ công làm Xương-thánh vương.


    5) Phụ (cha) là Thức Lương công làm Khải-thảnh vương.


    Đổi tên Khải-thánh-từ (đền thờ cha Khổng-tử) ra Sùng-thánh-từ.


    Theo vị thứ hàng Chiêu và hàng Mục (1) [7a] an bày thần vị của tiên nhân. Mỗi năm, hai kỳ, mùa xuân mùa thu cúng tế, thật là một thịnh điển.


    Nhà Đường nhà Tống trở về sau khiến các huyện phủ châu trong thiên-hạ đều dựng nhà học, nhưng Miếu-học thật đã có thể-chế riêng.


    Nhà học để giảng tập sinh viên: từ Minh Luân đường (5) cho đến hai phòng đọc sách bên tả và bên hữu, hiệu


    Miếu đề tôn thờ Khổng Tử: từ điện Đại-thành (2) cho đến hai dãy nhà ngang ở phía Đông và phía Tây, Kích môn (3) và Linh tinh môn (4)

    (1) Chiêu, Mục, ngày xưa thần vị bày trong tông miếu bên trái gọi là Chiêu bên phải gọi là Mục. Tả Chiêu thờ tổ tiên 2 đời, 4 đời, 6 đời. Hữu Mục thờ cha, tổ tiên 3 đời, 5 đời.


    (2) Điện Đại Thành, cái đền to ở miếu thời Khổng Tử .


    (3) Kích môn, của nhà có dựng cây kích. Thời nhà Đường, quan chức từ tam phầm trở lên được phép dựng cây kích ở cửa. Nhà quý hiển.


    (4) Linh Tinh môn, ngày xưa trước miếu thời Khổng Tử ở Học cung có Linh Tinh môn.


    (5) Minh Luân đường, trong Học-cung có Minh Luân đường (nhà làm sáng tỏ luân thường)

    phòng (1) xạ phổ (2) và học nho môn cùng với nhà kho nhà chứa nhà bếp đều có nơi chốn cả.


    Trong niên-hiệu Hoằng-trị (1488 — 1505) đời vua Hiếu-tông nhà Minh có chiếu chỉ khiến các đô ấp trong thiên hạ phải lập đền thờ các danh hoạn (3) các hương hiền (4) để khuyến khích người đời.


    Cuối niên-hiệu Chính-đức (1521) nhà Minh, quan Đốc-học Lưu-Quân-Tiết trấn nhậm ở Kim-toàn châu có dựng đền ở phía tây nhà Học


    Trong đền phía tả thờ các bậc danh hiền từ ông Liễu Khai (5) làm quan thứ sử đời nhà Tống trở xuống.


    Phía hữu thờ các bậc hương hiền từ ông Chu Đạo Thành là người con có hiếu [7b] đời nhà Tổng trở xuống. Mỗi năm hai lần, ba hôm sau lễ đinh-tế (6) trong ngày thuộc đinh (đinh nhật) ở thượng tuần tháng trọng xuân (tháng 2) và tháng trọng thu (tháng 8) các quan châu thú đem thầy giáo và học sinh ở các nhà học đến đền ấy làm lễ.


    Quan Các lão (7) Tưởng Miệng làm bài ký đại lược nói: Làm quan ở địa-phương nào mà sau khi rời đi nơi khác được người ta tưởnng nhớ, người ấy được gọi là danh hoạn.


    Sống ở trong làng mà được dân chúng khen-ngợi luyến-mộ, người ấy được gọi là hương hiền.


    Như Văn-ông được thờ ở Thục-quận, Chu-Ấp được thờ ở Đông-hương, hai vị này đèu được gọi là danh -hoạn.

    (1) Hiệu phòng, phòng ngủ của sĩ-tử ứng thí đời nhà Minh.


    (2) Xạ phổ, nơi tập bắn cung


    (3) Danh hoạn, làm quan ở địa phương mà khi rời đi được người khác tưởng nhớ.


    (4) Hương hiền, người hiền đức sống trong làng được nhiều người khen ngợi luyến mộ.


    (5) Liễu Khai, người đời Tống ở đất Đại Danh, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Điện Trung Thị Ngự Sử.


    (6) Đinh-tế, mỗi năm trong ngày thuộc đinh ở thượng tuần tháng trọng xuân (tháng 2) và tháng trọng thu (tháng 8) cúng tế Khổng-Tử gọi là đinh-tế.


    (7) Các lão, đời nhà Minh, quan tể phụ được gọi là Các lão, vì vốn là quan Đại-học-sĩ vào làm việc ở Nội Các.

    Phàm những người có đạo đức dạy dỗ trong làng, khi chết được cúng tế ở nhà học Cổ tông (1), những vị hương tiên sinh (2) khi chết được cúng tế ở đền Xã đều được gọi là hương hiền.


    Nghề làm quan như thế mà được phụng thờ tthì kẻ sĩ làm quan phải cố gắng.


    Hiền đức như thế mà được thờ phụng thì kẻ-sĩ hưu trí ở trong làng cũng không thể không cố gắng được.


    Lễ thi hành ở một nhà mà phong hóa kích động ở một quận thì việc quan hệ về giúp đời dựng dân không phải là ít ỏi [8a] mà có thể không cẩn thận được.


    Thiên Nhân vật biện ở sách Thái-bình phủ chí cua Cao-Bất-Căng chép: Danh-hoạn và hương-hiền, phép tắc ấy rất quan-trọng. Kẻ bề-tôi làm quan tại chức mà được nhập vào hàng danh-hoạn, ờ trong làng mà được nhập vào hàng hương-hiền, tất nhiên cá đức rạng-rỡ, có công đáng tin, được nhân dân nhớ tưởng, được sĩ-phu mến yêu, được người ta ca-tụng đồng một thanh-danh, được người ta đồn-đãi cùng một tiếng-tăm, rồi sau mới được tiến cử vào quan hiến-ty, và đề-đạt lên triều đình, rồi đến khi chết được hợp chung mà cúng-tế hương lễ-vật trên mâm trên dĩa hàng ngàn năm.


    Làm quan tại chức mà được làm danh-hoạn thì lúc hưu trí về nhà mới được liệt vào bậc hương-hiền.


    Theo sách Chu-lễ, từ kinh-đô của thiên tử cho đến làng xóm trong nước đều được cúng tế thần Xã Tắc.


    Nhà Đường nhà Tống trở về sau lại khiến các quận được cúng tế thần Phong-bá (thần gió), thần Vũ-sư (thần mưa) và thần Sấm.


    Tế đàn có con vật hy-sinh9 có ngọc, cỏ lụa, có những lễ phẩm khác. Bày lễ vật thi cỏ [8b] nghi-tiết. Mỗi năm có quan hữu ty cử-hành lễ củng tế.


    Theo chế độ nhà Minh, ở mỗi phủ, huyện và châu đều


    (1) Cổ tông, nhà học đời Ân


    (2) Hương tiên sinh, quan đại phu trí sĩ về làng mở nhà học dạy dỗ con em gọi là hương tiên sinh.

    có lập đàn Xã Tắc, đàn Tiên Nông (1), đàn thần Gió, đàn thần Mây, đàn thần Sấm, đàn thần Mưa, đàn thần Núi, đàn thần Sông, đàn thần Thành-hoàng và đàn thần Dịch-lệ.


    Mỗi năm cúng tế theo thời tiết để cầu phúc lành đền công ơn, đón lấy hòa khí, tiêu trừ lệ khí.


    Đó cũng là giềng mối lớn lao về việc thờ phụng quỷ thần mà trị dân.


    Kinh lễ chép: Về việc cúng tế, có điều đã phế bỏ thì không dám cử hành lại, có điều đã cử hành thì không dám phế bỏ.


    Do đó có thể thấy được cái ý thận trọng kính cẩn của người đời xưa.


    Đời sau những bề tôi bàn nghị có ý nệ cổ, những tông miếu đã bị hủy hoại, những đền thần đã bị bỏ hoang lại muốn làm lại, những đàn tế đã sửa chữa rồi, hàng chiêu mục đã định vị rồi lại muốn thay đổi. Đó cũng là lầm vậy.


    Chu Tử nói: "Những đồ dùng như cái biên (2), cái đậu (3), cái phủ (4), cái quỷ (5) là của người xưa đã dùng cho nên lễ cúng tế lúc bấy giờ [9a] phải có những đồ dùng ấy".

    Nay lấy yến khí (6) thay thế tế khí (7), lấy món ăn thường thay thế trở nhục (8), lấy tiền thay thế ngọc và lụa cũng là ý lấy những đồ vật bình binh sinh vẫn dùng mà cúng tế, như thế gọi là tùng nghỉ.

    (1) Tiên-nông tức Thần - Nông, người đầu tiên bày ra việc làm ruộng.

    (2) Biên, một loại dĩa bằng tre đương dùng để đựng trái cây mà cúng tế .

    (3) Đậu, một loại đĩa bằng gỗ dùng để thịt mà cúng tế.

    (4) Phủ, một loại thố vuông bằng gỗ dùng để đựng xôi mà cúng tế.

    (5) Quỷ, một loại thố tròn bằng gỗ dùng để đựng xôi mà cúng tế.

    (6) Yến-khí, những vật dụng dùng lúc ở yên như gậy để chống đi, nón để che nắng, quạt để phẩy mát.

    (7) Tế khí, là những dụng cụ dùng lúc cúng tế.

    (8) Trở-nhục, vật hy sinh để nguyên con trên giá gỗ mà cúng tế.

    Khâu Quỳnh-Sơn (1) nói: « Lời nầy thật thích-hợp, như cái ý sự tử như sự sinh» (thờ phụng tiền nhân lúc đã chết cũng như lúc còn sống).

    Vì Trinh-Tử đã có nói: « Hành sự không được hoàn-toàn câu nệ theo cổ, phải xem xét thói tục xưa nay không giống nhau thi việc xử sự cũng không được không khác hẳn với đời xưa. Như người đời nay mặt mũi dáng mạo không giống với người đời xưa. Nếu hoàn-toàn dùng đồ vật đời xưa thì không xứng hợp. Dù thánh nhân cổ làm lại những món vật dụng ấy cũng phải có thêm bớt».

    Chu-Tử lại thường nói: « Thánh nhân làm ra cổ lễ, nhưng chưa ắt đã dùng hết, phải có điều để yên không dùng tới»

    Trình-Tử nói; «Sĩ đại phu ắt phải dựng miếu thờ tổ-tiên trong gia-tộc. Miếu phải hướrng về hướng đông. Bài vị của bậc thái-tổ (ông tổ cao nhất) phải ngoảnh mặt về hướng đông, bên tả là chiêu, bên hữu là mục, nam nữ đặt khác nơi, bài vị của mẹ chồng và nàng dâu cũng đồng như của thái-tổ.

    Thần chủ đều khắc bằng gỗ [9b] và có bài vị bằng gỗ. Mỗi tháng đến ngày mùng một thì cúng trà rượu. Bốn mùa đều có cúng tế, mùa xuân vào tiết Hàn-thực, mùa hạ vào tiết Đoan-ngọ (mùng 5 tháng 5), mùa thu vào tiết Trùng-dương (mùng 9 tháng 9), mùa đông vào tiết Đông-chí.

    Mỗi khi cúng tế xong thì giấu cất thần-chủ vào giáp-thất (2) ở vách phía bắc.

    Việc ăn uống thì xứng hợp vói nhà giàu hay nghèo mà làm mâm cỗ.

    Vật dụng để cúng tế (tế-khí) và chiếu ngồi thì không được dùng lộn-xộn.

    Cửa miếu nếu không nhằm ngày cúng tế thì đóng kín lại».

    Chu-Tử đính chính lại rằng: « Ngôi miếu phải hướng về phương nam, ngồi phải hướng về phía đông».

    (1) Khâu Quỳnh-Sơn, hiệu của Khâu-Tuấn, người đời Minh, đỗ tiến sĩ, cố làm nhiều sách.

    (2) Giáp-thất, nhà để cất thần chủ ở hai bên chính đường trong miếu