11.04 - windyclover (type done)

12/8/15
11.04 - windyclover (type done)
  • ở trong và ở ngoài tuy khác nhau, thứ-xá1 triền-độ2 có xuôi có ngược có chậm có mau, nào có cái gì là không có mực độ hằng thường không thay đổi?

    Núi sông có cây là văn-vẻ của đất. Hình loại của cái này cái kia tuy khác nhau, mạch lạc, đầu cuối cao thấp mập ốm, nào có cái gì là không có mực đồ hằng thường không thay đổi?

    Lễ nhạc và pháp-độ là văn-vẻ của loài người. Việc theo cũ đổi mới của đời xưa và đời nay, việc ưa chuộng ở trong hay ở ngoài nước, mỗi thứ đều có chỗ không đồng nhau. [3b] Nhưng cái ý nhân thời-thế mà lập ra chính giáo, thông biến cho thích-hợp với nhân-dân cũng chỉ có một mà thôi.

    Việc nhỏ-nhen về nhân-sự, về vật dụng và về ăn uống, việc bé mọn về cư xử về thù-tiếp và tập-quán phong-tục cùng tính-tình thì không bao giờ không khác nhau, nhưng việc ở yên với nhau, nuôi dưỡng lẫn nhau, thân mến lẫn nhau và bảo bọc lẫn nhau thì cũng chỉ có một mà thôi.

    Do đó mà nói thì việc tinh diệu của bậc thánh-nhân đã rập theo khuôn phép của trời đất và ủy khúc để cầu thành đại khái là thuận theo lẽ tự nhiên và cắt xén tô chuốt sơ lược mà thôi.

    Người quân-tử đời xưa làm ra, người quân-tử đời sau noi theo, thì gọi cách vật là thế, gọi trí trí là thế, gọi gom đủ mọi lẽ để ứng phó với muôn sự là thế. Nhưng không phải chỉ lo phiếm mọi việc ở ngoại diện mà không lo cầu ở nội tâm đâu.


    1. Thứ-xá (thứ là chỗ, xá là nhà nghỉ). Chỗ các vì sao dừng lại trong thiên-văn học.

    2. Triền-độ (triền là bước lên trên cái gì, độ là độ số), độ số vận hành của các vì sao trong 360 độ của bầu trời trong thiên-văn học.

    Nếu không thế, lại ở mọi vật cứ lo suy cứu đến cùng thì chẳng gần như cái lầm đã phải mất con dê vì đường có nhiều lối rẽ hay sao1.

    Nhân đọc sách tôi trộm nhìn thấy thánh-nhân [4a] học hỏi như thế.

    Thường thường lúc đọc sách tôi trích lấy những lời nói, những sự-tích trong các truyện ký rồi sửa đổi sơ lược, có khi lấy ý kiến mình mà bình-luận, có khi y theo bài văn cũ mà chép gom vào, chất chứa lâu ngày thành sách, chia ra làm 9 quyển, để tên là Loại-ngữ.

    Tôi tự suy độ, nói cao thì có khi thành xa vời trống không, nói thấp thì có khi thành thiển cận.

    Nhưng mọi sự mọi vật đều có đầu mối để minh khảo xét tam tài (Thiên Địa Nhân) và ứng thù với hàng trăm điều biến đổi thì chưa ắt đã không có bổ trợ chút nào vậy.

    Còn nói đến nghĩa lý thật to rộng thật tinh-vi để đạt đến lãnh-vực cách vật trí tri thì đã có những sách của các danh nho như Chu Đôn-Di ở Liêm-Khê, Trình-Di, Trình-Hiệu ở Lạc-



    1. Trong chương Thuyết-phù, Liệt-Tử kể: Có người hàng xóm của Dương-Tử mất một con dê. Anh gọi hết người trong nhà và kêu người tớ của Dương-Tử cũng đi tìm con dê.

    2. Một con dê lạc mất mà lắm người chạy đi tìm vì đường cái có nhiều đường rẽ, và trong đường rẽ lại có nhiều đường rẽ khác nữa, khiến Dương-Tử biến sắc biếng cười biếng nói suốt nửa ngày.

    3. Câu chuyện này ngụ ý người học không luôn luôn lưu ý chú trọng đến chính đạo, để tư-tưởng lạc lỏng ở nhiều chiều hướng mà mất chính đạo.


    Dương, Trương-Tái ở Quan-trung, Chu-Hy ở Mân-trung1 rồi.

    Tôi là kẻ hậu học ngu bỉ nào dám làm những việc trùng điệp2 ở trong lãnh-vực ấy, chỉ mong những bậc học-vấn cao kiến-thức rộng đính-chính cho.


    Ngày rằm tháng 7 mạnh thu năm Quý-tỵ (1773) nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng.

    Lê-Quý-Đôn ở huyện Diên-hà viết.


    1. Liêm Lạc Quan Mân tức bốn địa-phương quê-quán của bốn vị nho đời Tống: Liêm-khê là quê quán của Chu Đôn-Di, Lạc-dương là quê-quán của Trinh-Di Trình Hiệu, Quan-trung là quê-quán của Trương-Tái, Mân-trung là quê-quán của Chu-Hy.

    2. Điệp sáng giá ốc, ý nói trùng điệp lặp đi lặp lại như đặt cái giường này ở trên cái giường khác, chồng cái nhà này lên trên cái nhà khác.

    [5a] MỤC-LỤC DẪN









    1. Lưỡng nghi Trời và Đất định ngôi, hai khí âm dương cọ sát vào nhau. Làm người làm vật có tính có mệnh. Nghề thuốc, nghề bói và nghề phong-thủy (địa-lý) thì chí lý vẫn còn. Tiên Phật Quỷ Thần thì mênh-mông không thể liệu dò được Người ta đứng ở giữa chỉ noi theo lẽ thường.
    Viết những lời về Lý khí làm quyển thứ nhất.

    1. Ở trên thì tinh-tú (ngôi sao), ở dưới thì núi sông, nhà làm lịch thì đo lường độ số, nhà xem thiên-văn thì chia vạch phân dã (1) của các tinh-tú.
    Những dị-luận (bàn-luận lạ-lùng) về đất-đia, những dị-thuyết (lý-thuyết lạ-lùng) về thủy-triều ở biển cả, việc gán ngũ-hành (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) vào lục giáp (Giáp-tý, Giáp-dần, Giáp-thìn, Giáp-ngọ, Giáp-thân, Giáp-tuất) mỗi thứ đều có phân loại khác nhau và được thu nhặt đầu đủ mà chiết trung cho chính-đáng vừa phải.

    Viết những lời về Tượng-hình làm quyển thứ hai.





    1. Phân dã, khu-vực các vì sao trên không.
    3. Vua Hiên-Viên chia đất ra muôn khu-vực, vua Hạ-Vũ chia đất làm năm cõi. Trời dựng ra nước, đặt ra vua. Vua dựng đô lập ấp.

    [5b] Có nước thì quan-hệ đến khí-vận, giữ nước thì quan-hệ đến hình-thế.

    Chỗ Hy-Thức (1) ở gọi là Minh-đô.

    Nói về địa-dư của nước Việt cũng là nói đến sách Thặng (2) của nước Tấn đời Xuân-thu.

    Viết những lời về Khu-vũ làm quyển thứ ba.

    4. Phép tắc của người đời trước đặt ra gọi là điển, được người đời sau noi theo gọi là lệ.

    Việc trị nước quý ở vô-vi (3). Lập pháp cốt ở nhân theo đời trước.

    Lòng người đời xưa và đời nay vốn không khác xa nhau. Điều liwị điều hại của đời xưa và đời nay địa khái giống nhau.

    Thi-hành lễ giáo không cần biến đổi phong-tục. Cứu chữa tệ đoan chỉ ở việc xét rõ sự thật.

    Câu nệ đời xưa hay luyến mộ đời nay không thể gọi là thông đạo-lý.




    1. Hy-Thúc là tên một viên quan dưới thời vua Nghiêu đến ở đất Minh-đô xem thiên-văn làm ra lịch.

    2. Thặng là tên bộ sử nước Tấn đời Xuân-thu. Thặng có nghĩa là ghi chép, ghi chép lịch-sử nước mình.

    3. Vô-vi, lấy đức mà háo dân, không cần đến hình-pháp và chính-sự.

    Viết những lời về Điển-vựng làm quyển thứ tư.

    5.Hòa thuận chất chứa ở trong, tinh hoa phát hiện ra ngoài, đường kinh của trời, đường vĩ của đất đều là văn-chương lớn-lao.

    Thảo tờ tấu, dẫn tờ sắc cũng có quan-hệ đến chính-trị.

    Ngâm vịnh trứ-thuật, không đi đến đâu mà không phải là văn? Nhận chân về nguồn gốc thì tát cả đều quay về thuần chính.

    Viết những lời về Văn—nghệ làm quyển thứ năm.

    [6a] 6. Thanh âm biểu hiện tâm tình của thiên-hạ. Văn-tự tả hết những hình tượng trong thiên-hạ.

    Việc xưng-hô, cách viết, lối vẽ của muôn nước trong hải nội mọi thứ đều khác nhau, nhưng ý-tứ và nghĩa-lý thì không khác nhau.

    Thanh âm bất tất phải bắt chước theo luật lữ (1). Văn-tự bất tất phải phục hồi lối chữ triện chữ lệ (2).

    Những gì hòa-thuận bằng-phẳng giản-dị thì người thông đạt lấy mà dùng.

    Viết những lời về Âm-tự làm quyển thứ sáu.

    1. Luật lữ là tên hai thứ ống sáo dùng để thử thanh-âm mà phổ vào nhạc do Linh-luân đời Hoàng-Đế chế ra, ống dương gọi luật, ống âm gọi lữ. Có 6 luật dương và 6 luật âm.

    2. Triện, lệ là hai lỗi chữ đời cổ của Trung-quốc.

    7.Từ khi có văn-tự thì có sách vở. Sách Ngũ kinh (Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân-thu), sách Luận-ngữ và sách Mạnh-Tử thật như mặt trời mặt trăng sáng chói. SỬ truyện của bách gia1 gần giống như vô số tinh-tú. Điển-hình đều còn, chỉ thú đều biểu lộ.

    Nêý mình có thể xem xét rộng ra và có thẻ tóm tắt lại được thì cũng có thể tăng thêm trí-thức bổ ích tinh-thần.

    Viết những lời về Thu-tịch làm quyển thứ bảy.

    8. Thờ vua và trị dân, giữ chức quan và theo việc chính-trị, kẻ bề tôi thì có phép thường, bậc vua chúa thì có điều răn dạy.

    Công to nghiệp cả thường ở đó vậy.

    Viết những lời về Sĩ quy làm quyển thứ tám.

    [6b]9. Muôn vật thì có hình dáng tán mạn. Trăm việc thì phức-tạp rối-reng.

    Trời đất vô tâm mà hóa thành vạn vật.

    Người ta thường ngày sử-dụng mà không biết.

    Chế-tạo thì có đồ khí-cụ và có tên.

    1. Bách gia cũng như Chư tử là hàng trăm nhà triết-học đủ các phái của Trung-quốc.
    Sinh trưởng thì vạn vật tự-nhiên có hình dáng và màu sắc.

    Cho nên phải xem xét, phải nghiên-cứu hình tượng và chủng loại từ lúc khởi đầu.

    Viết những lời về Khí-vật làm quyển thứ chín.