11.06 - amibosi (type done)

5/8/15
11.06 - amibosi (type done)
  • chữ cụ (具) là đủ, nói gió dữ ở đủ bốn phương đông tây nam bắc thổi đến.

    Bão nổi lên buổi sáng thì kéo dài ba ngày. Bão nổi lên buổi chiều thì kéo dài bảy ngày. Bão nỗi lên ban ngày thì kéo dải một ngày.

    Lúc nổi lên, bão từ đông-bắc tới thì ắt từ hướng bắc thổi sang hướng tây, từ tây-bắc tới thì ắt từ hướng bắc thổi sang hướng đông rồi cùng đến hướng nam mà tắt dứt. Như vậy gọi là lạc tây (tắt ở phía tây) là hồi nam (quay về phía nam).

    Nếu bão không lạc tây và không hồi nam thì qua tháng sau lại có bão nữa.

    Bão nổi lên thật đúng giờ. Bão nổi lên ban ngày thì ngày sau dứt. Bão nổi lên ban đêm thì đêm sau dứt.

    Bão là gió bất chính, là nghịch khí [11b] biến động mà cũng có độ thường như thế.

    Trời cao xa cách mặt đấy không biết là mấy muôn dặm. Môn học trắc-nghiệm đo tính ngang dọc, xuôi ngược, thêm bớt, nhân chi thật chẳng hơn một nắm con toán, mà đường vận-hành và vị thứ trải qua của thất chính (mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh) và nhị thập bát tú (28 chòm sao) 1 đều có thể biết được cả. Thì há chẳng phãi là cái thế của nó rất lớn-lao, cái

    1. Nhị thập bát tú là 28 chòm sao. Thiên-văn-học Trung-quốc chua các ngôi sao trên trời làm 4 nhóm ở bốn phương: đông, tây, nam, bắc, mỗi phương 4 chòm sao (4 x 7 = 28).

    dụng của nó rất tinh-vi má quỹ-đạo của nó thật có thường độ hay sao?

    Nếu không hằng-thường thì sao được yên-định? Nếu không được yên-định thì sao được lâu dài?

    Cũng như gió là hơi khí mở đóng của trời đất, phát lên thì thành ra tiếng vi-vút.

    Người xưa còn truyền lại phép xem khí-hậu, đấy là nói cách xem khí-hậu ở trong đất liền.

    Còn như ở biển cả mênh-mông há cũng có phép thường nhất định? Các đà công (cầm lái thuyền) và phu chèo thuyền lại có thể biết được ngày giờ, biết được chỗ nên tránh, chốn nên tới, bởi lẽ ở biển cả cũng có những dấu hiệu đáng tin rất thông thường như vậy.

    Trang-Tử nói: “Gió nổi lên phương bắc, một luồng thổi sang hướng đông, một luồng thổi sang hướng tây, có khi thổi vút bay bổng lên như không, ai thở ra hít vào như vậy, [12a] ai cư-trú vô sự mà quạt phe phẩy như vậy?” 1 Đó cũng là lời có sở kiến chăng?

    Ở phương bắc, khí âm thường nhiều mạnh, khí dương thường yếu kém không đủ.

    Ở phương nam, khí dương thường nhiều mạnh, khí âm thường yếu kém không đủ.

    1. Đúng câu văn trong sách Trang-Tử ở chương Thiên-vận là: Thục hư hấp thị, thục cư vô sự nhi phi phất thị.

    Ở phương bắc tiết trời chưa rét lắm mà nước đã đông đặc thành băng, bởi lẽ khí dương tránh khí âm, để khí âm kết hợp ở dưới. Mùa đông rét có mưa tuyết, bởi lẽ khí âm lấn khí dương, để khí dương dồn lên trên.

    Ở phương nam, khí âm phần nhiều tan biến ở dưới, cho nên nước không thể đông đặc thành băng. Mùa đông không có mưa tuyết bởi lẽ khí dương phần nhiều phát tiết ở trên cho nên mưa không thể biến thành tuyết được.

    Đất lấy cát làm thịt, lấy đá làm xương, lấy cỏ làm lông, lấy sông nguồn lám mạch máu.

    Cỏ cây trổ hoa trơn mướt là có sinh-khí dồi-dào.

    Sông nguồn nước đầy tràn là có sinh-khí lớn-lao.

    Đất mầu-mỡ, đá đẹp-đẽ là sinh-khí có ở trong ấy.

    Cây khô già mà mọc rêu là còn sống.

    Đá bị đẽo phá vụn vặt mà còn kê dưới chân cột là còn tươi mướt. Ấy là sinh-khí vẫn tồn-tại ở đấy.

    Người [12b] và trời đất vốn là một gốc. Mà người ta suốt ngày cử-động làm việc ăn uống thì càng chung đụng với khí đất. Cho nên sách Khổng-Tử gia-ngữ nói: “Người sống ở đất cứng thì cương-nghị. Người sống ở đất bở thì yếu đuối. Người sống ở đất đen cứng thì tế-nhị. Người sống ở đất mầu-mỡ thì đẹp-đẽ. Người sống ở đất thưa mỏng thì xấu-xí.

    Sách Nhĩ-Nhã 1 nói: Người ở đất Thái-bình thì nhân hậu. Người ở đất Đan-nguyệt thì mưu trí. Người ở đất Thái-mông thì đáng tín-nhiệm. Người ở đất Không-động thì vũ-dũng.

    Sách Hoài-Nam-Tử 2 nói: Khí núi sinh nhiều con trai. Khí đầm sinh nhiều con gái. Khí nước sinh nhiều người câm. Khí gió sinh nhiều người điếc. Khí rừng sinh nhiều người yếu đuối. Khí cây sinh nhiều người khòm lưng. Khí đá sinh nhiều người mạnh-mẽ. Khí ở dưới thấp sinh nhiều người bị bịnh thũng. Khí hiểm sinh nhiều người bị bịnh bại xuội. Khí hang núi sinh người bệnh tê thấp. Khí đồi sinh nhiều người khùng. Khí rộng-rãi sinh nhiều người nhân-từ. Khí gò đống sinh nhiều người tham-lam. Khí nắng sinh nhiều người chết yểu. Khí lạnh sinh nhiều người sống dai. Đất nhẹ sinh nhiều người lanh-lợi. Đất nặng sinh nhiều người chậm-chạp. Người ở chỗ nước trong thì có tiếng nói nhỏ. Người ở chỗ nước đục thì có tiếng nói to. Người ở chỗ nước chảy xiết thì [13a] nhẹ-nhàng. Người ở chỗ nước chảy chậm thì nặng-nề. Đất Trung-châu sinh nhiều người tài-ba sáng-suốt.

    Thái-sử Tập đồi Tống nói: “Người ở chốn núi rừng thì xanh mà gầy, bởi lẽ đã hấp-thụ nhiều khí cây. Dân ổ chỗ sông đầm thì đen mà mướt, bởi lẽ hấp-thụ nhiều khí nước. Dân ở nơi gò đồi thì tròn mà cao, bởi lẽ hấp-thụ nhiều khí lửa. Dân ở mine62 bờ nước và đất phẳng thấp thì mưu trí mà chính trực,

    1. Nhĩ-Nhãi, tên sách có cả thảy 19 thiên. Đấy là bộ sách Tiểu-học cũng như từ-điển có trước đời Khổng-Tử.

    2. Hoài-Nam-Tử, sách này do Hoài-Nam-Vương Lưu-An viết, nói theo Đạo-đức kinh, gồm có 21 quyển.

    bởi lẽ hấp thụ nhiều khí kim. Dân ở vùng đồng bằng ẩm thấp thì mập béo mà tê thấp, bởi lẽ hấp thụ nhiều khí đất”.

    Đấy toàn là những điều đã suy cùng vật lý. Giữ thuyết này mà suy-luận thì không có điều gì mà không hợp.

    Nước bị nắng to thì nổi bọt vẫn đục, trải qua một đêm gió bắc thì trở thành trong-veo, muôn khoảnh 1 một màu xanh biếc. Đó là do khí đã khiến ra như thế.

    Núi trải qua một thời nắng lạnh lâu ngày thì sinh ra khói mù tối-tăm, trải qua một buổi sáng mưa to thì trở thành sạch trong sáng-sủa, muôn cảnh như đổi mới. Đó cũng là do khí đã khiến ra như thế.

    Đương lúc đục tối âm-u, ai trông vào mà chẳng ưu sầu bứt-rứt?

    Đến khi cơ trời [13b] biến chuyển phút chốc lại trong sáng, lòng người đua nhau thấy khoan-khoái mà không biết vì cái lẽ huyền-diệu đã có ở trong ấy.

    Cơ mầu khi bĩ khi thái khi trị khi loạn đúng là như thế.

    Chấn-động bằng sấm sét, nhuần thấm bằng gió mưa, mặt trời mặt trăng xoay vần, một thời lạnh một thời nóng nối tiếp nhau, Tạo-hóa phân phát sinh dưỡng vận-động mở đóng không phải là không có việc đâu. Suy cứu mà nói thì chẳng qua chỉ có giản (đơn giản) và dị (dễ-dàng) mà thôi.

    1. Khoảnh, khoảng rộng 100 mẫu.

    Tính-tình của trời đất, đức nghiệp của thánh hiền đều không ngoài hai chữ giản-dị ấy. Trong hai thiên Thượng truyệnHạ truyện, bậc thánh-nhân đã đôi ba lần chú ý đến vấn-đề ấy. Vậy mà bọn nhà nho chúng ta theo đuổi học-tập và chính-trị hà tất ưa việc lạ kỳ hiểm-hốc, chuộng việc phiền-phức vụn vặt vậy ư?

    Khí rất thần-diệu, rất tinh-vi.

    Khí thịnh thì tất nhiên thư-thái, khí suy thì tất nhiên vướng kẹt, xem ở gốc cây tươi hay [14a] khô thì biết.

    Khí trong thì tất nhiên thông suốt. Khí đục thì tất nhiên vướng-kẹt, xem ở lòng người thông-minh hay ám muội thì biết.

    Khí đầy thì tất nhiên nẩy lớn, khí vơi thì tất nhiên tiêu tán, xem ở con nước lên xuống lúc sớm chiều ở mặt biển thì biết.

    Hòa thuận thì tất nhiên kết hợp, trái nghịch thì tất nhiên chia lài, xem ở việc bình trị hay loạn lạc của thế đạo thì biết.

    Nhật thực có thường độ, nhưng đối với việc biến đổi của nhân-sự thù chưa từng không quan-hệ lẫn nhau.

    Người ta sắp làm điều chẳng lành thì mặt trăng đi vào độ giao-thực mà lần che mặt trời. Đó là khí người động đến trời.

    Trời sắp muốn mưa dầm thì người nào mang thương-tích vì bị đánh bị ngã liền thấy đau nhức trước. Đó là khí trời động đến người.

    Những điều đó có thể chứng-nghiệm trời và người là cùng một lẽ.

    Sách Tịnh thượng đàm của Du-Diệm nói: Muốn biết thời giờ và âm dương thì phải phân biệt bằng mũi.

    Hơi khí trong mũi lúc dương [14b] thì ở lỗ bên trái, lúc âm thì ở lỗ bên mặt.

    Khoảng giờ tý giờ hợi giao tiếp nhau (cuối 12 giờ và đầu 1 giờ đêm) thì hai lỗ mũi đều thông.

    Điều này rất ứng-nghiệm bởi lẽ thân thể của người ta cũng là một bầu trời nhỏ vậy.

    Trong sách Thiên đạo luận, Nhân-Loan đời nhà Chu (thời Lục-triều) có dẫn lời ở Tế khổ kinh rằng: Trời đất đến ngày tận thế thì cháy sạch, người và vật đều không còn.

    Sách ấy lại nói: Ngày đại tận thế đã giao tiếp. thì trời đất mặt trời, mặt trăng và tinh-tú đều không còn nữa.

    Điều này hợp với thuyết Tuất-hội Hợi-hội của Khang-Tiết.

    Nhưng sách đạo-thư hoang-đường không có căn-cứ.

    Còn Khang-Tiết thì theo hai quẻ Cấn Phục trong kinh Dịch mà suy diễn ra, cho nên thuyết này đúng.

    Sách Trường-lịch của Từ-Chinh nói: Trời đất hỗn-độn như quả trứng gà. Ông Bàn-Cổ sinh ra vào khoảng đó sống lâu được một vạn tám ngàn năm (18.000).

    Trời đất mở-mang, khí dương trong làm trời, khí âm đục làm đất. Ông Bàn-Cổ sống ở trong đó, một ngày biến đổi chín lần [15a] thành thần ở trên trời, thành thần ở dưới đất.

    Trời mỗi ngày cao thêm một trượng. Đất mỗi ngày dày thêm một trượng. Ông Bàn-Cổ mỗi ngày lớn thêm một trượng. Như thế trong một vạn tám ngàn năm (18.000) thì số trời thật cực cao, số đất thật cực dày, ông Bàn-Cổ cực lớn.

    Sau đó lại có Tam Hoàng (Thiên-hoàng, Địa-hoàng và Nhân-hoàng), số bắt đầu từ 1, lập ở 3, thành ở 5, thịnh ở 7, cùng cực ở 9.

    Cho nên vòm trời cách mặt đất chín vạn dặm (90.000). Đó là thuyết hoang-đường.

    Còn thuyết Nguyên hội vận thế của Thiệu-Tử là suy sứu từ việc sinh ra, tiêu tán, kết cuộc và bắt đầu trong những quẻ Cấn, Phục, Kiền Khôn trong Tiên-thiên đồ mà tìm được.

    Sách Quyết nghi yếu chú của Ngu-chí đời Tấn nói: Vua Vũ-Đế nhà Hán đào hồ Côn-minh thật cực sâu, chỉ thấy tro đen mà không thấy có đất. Cả triều-đình không giải-đáp nổi lý-do, mới đem hỏi Đông-Phương-Sóc. Đông-Phương-Sóc tâu: “Hạ thần ngu tối không đủ để biết việc đó. Có thể đem hỏi các đạo-nhân ở Tây-Vực”.

    Vua Vũ-Đế cho là Đông-Phương-Sóc còn không biết, thì khó đem hỏi ai được nữa.

    Đến [15b] thời vua Minh-Đế nhà Hán, có người đạo-nhân ngoại quốc vào Trung-quốc đến Lạc-dương. Lúc ấy có người nhớ đến lời nói của Đông-Phương-Sóc, bèn thử đem việc tro đen đào được ở hồ Côn-minh dưới thời cua Vũ-Đế mà hỏi. Người đạo-nhân ấy nói: “Kinh Phật chép lúc trời đất sắp tận thế thì lửa cháy thiêu rụi cả, đó là phần dư thừa của cuộc tận thế thiệu rụi đó”.

    Căn-cứ vào lời nói đó, thì trước một nguyên mười hai hội làm sao biết được là trời đất đã không có biến động hỗn hợp rồi mở-mang lại mới?

    Chu-Tử nói: “Thường thấy trong núi có vỏ ốc vỏ trai là vật ở trong nước. Vật ở dưới thấp lại biến thành vật ở trên cao. Vật mềm lại biền thành vật cứng”.

    Ở việc này mà suy cứu sâu-xa thì thấy có thể làm chứng-nghiệm cho điều ấy.

    Sách Tố-vấn có nói về ngũ vận lục khí. Chử-Trừng cho là không phải. Ông cho là: Năm tháng ngày giờ và thứ-tự giáp-tý ất-sửu cho đến trời đất, ngũ hành, rét nóng, gió mưa bỗng chốc có biến đổi. Người ta cảm [16a] cái khí ấy, bịnh tật phát sinh ở thân-thể,

    Khí khó kiệu biết trước, cho nên bịnh khó định trước.

    Khí không phải người ta làm ra được, cho nên bịnh người ta khó dò trước được.

    Suy nghiệm nhiều sai lầm, cho nên cứu chữa dễ lẫn lộn.

    Chưa thấy lời này là đúng.

    Tôi cho là khí của trời đất hẳn là âm dương ngũ hành mà thôi, xung khắc hay hỏa hợp không đều, làm chủ hay làm khách thay đổi khác nhau, coi giữ trong năm tháng, lưu chuyển trong thời-tiết, thiên biến vạn hóa, người ta cảm phải, tuy chưa ắt là nhất nhất đều ứng nhau, nhưng đại khái cũng không sai nhau.

    Như bịnh đậu mùa là một, tùy theo năm mà lạnh nóng khác nhau, nhưng hình dáng bịnh tật ấy vẫn là một, tùy theo thời-tiết khô ráo hay ẩm ướt mà bịnh-chứng khác nhau, thì làm sao bảo cái thuyết khí vận là không chứng-nghiệm được?

    Từ khi chuôi sao Bắc-Đầu chỉ hướng mão (tháng 2) chính là tiết Xuân-phân cho đến giữa hướng tỵ (tháng 4) chính là tiết Lập-hạ là lúc Thiếu-dương quân-hỏa làm chủ khí, thiên [16b] độ đến đấy thí ấm-áp trong trẻo, thịnh-hành cái đức của vua.

    Từ khi chuôi sao Bắc-Đẩu chỉ hướng tỵ (tháng 4) chính là tiết Tiểu-mãn cho đến giữa hướng vị (tháng 6) chính là tiết Tiểu-thử là lúc Thiếu-âm tướng hỏa làm chủ khí, thiên-độ đến đấy thì nóng nực, thịnh hành tướng hỏa.

    Từ khi chuôi sao Bắc-Đầu chỉ hướng vị (tháng 6) chính là tiết Đại-thử cho đến giữa hướng dậu (tháng 8) chính là tiết Bạch-lộ, là lúc Thái-âm ầm thấp, thổ làm chủ khí, thiên-dộ đến đến thì có mưa, thịnh hành khí ẩm thấp bốc lên.

    Từ khi chuôi sao Bắc-Đầu chỉ hướng dậu (tháng 8) chính là tiết Thu-phân cho đến giữa hướng hợi (tháng 10) chính là tiết Lập-đông, là lúc Dương-minh táo, kim làm chủ khí, vạn vật đều khô ráo.
    :rose: