11.07 - amibosi (type done)

6/8/15
11.07 - amibosi (type done)
  • Từ khi chuôi sao Bắc-Đẩu chỉ hướng hợi (tháng 10) chính là tiết Tiểu-tuyết cho đến giữa hướng sửu (tháng chạp) chính là tiết Đại-tuyết, là lúc Thái-âm hàn, thủy làm chủ khí, thiên-độ đến đấy thì thịnh hành khí lạnh.

    Từ lúc chuôi sao Bắc-Đẩu chỉ hướng sửu (tháng chẹp) chính là tiết Đại-hàn cho đến giữa hướng mão (tháng 2) chính là tiết Kinh-trập [17a] là lúc Quyết-âm, phong mộc làm chủ khí, thiên-độ đến đấy thì thịnh hành phong khí (gió nhiều).

    Đấy là nói mỗi khí giữ 60 ngày có lẻ để trải khắp độ tròn của bầu trời, chuyển hết rồi bắt đầu trở lại.

    Sách Thái-bình quảng ký 1 dẫn sách Luận-hành 2 chép rằng: Kính Dương-toại lấy lửa, kính Phương-chư lấy nước. Hai vật này vì hình-thể mà được gọi thế.

    Kính Dương-toại thì đúng tháng 5 ngày bính-ngọ, giờ ngọ luyện đá năm màu mà chế-tạo, hình-thể giống như cái kính tròn, hướng vào mặt trời thì lấy được lửa.

    Kính Phương-chư thì đúng tháng 11 ngày nhâm-tý nửa đêm giờ tý luyện đá năm màu mà chế-tạo, hình trạng giống như cái chén, hướng bào mật trăng thì lấy được nước.

    Sách Hoài-Nam-Tử chép: Kính Dương-toại đưa ra mặt trời

    1. Thái-bình quảng ký, sách có 500 quyển do Lý-Phỏng phụng sắc soạn ra, chia làm 55 bộ, chép nhiều chuyện thần quái nhưng có nhiều điển cố, thanh vật có thể giúp ích cho các nhà khảo-cứu.

    2. Luận-hành có 30 quyển, do Vương-Sung đời Đông-Hán soạn ra, chép nhiều điều tiến bộ.

    thì phát cháy thành lửa. Kính Phương-chư đưa ra mặt trăng thì ướt mà thành nước.

    Sách ấy chú rằng: Hai thứ kính ấu đều là tinh của đá năm màu.

    Trong khoảng trời đất huyền vi hoảng hốt (1), lấy một vật dụng cầm trong tay hướng lên Thái-cực mà [17b] tức khắc được lửa được nước, vì có âm dương cảm động vậy.

    Rượu là chất do người ta cất nên, mà khí của nó cũng cảm-ứng với mặt trời, bởi lẽ cũng có lý-do ở đấy.

    Sách Thái-bình quảng ký chép: Nay rượu mới cất được, phần trong vep ở trên mặt vò thường theo mặt trời mà chuyển dời: Phần trong veo lúc sáng sớm ở phía đông, lúc giữa trưa ở phía nam, lúc xế chiều ở phía tây, lúc nửa đêm ở phía bắc, mặt trời ở góc nào thì cứ trong veo ở góc ấy.

    Phùng-Triệu-Trương viết sách Cẩm nang bí lục chép: Nhà đánh cá sinh con nhiều gân cốt rắn chắc, bởi lẽ mẹ lạnh, con cũng lạnh, mẹ nực, con cũng nực. Lúc đứa con còn là bào thai trong bụng mẹ thì gió sương nắng nóng đã trải qua đầy đủ. Sau khi sinh ra, da thịt của đứa bé thành dày-đạn, gân cốt thành rắn chắc, khó độc không thể xâm phạm được.

    Thuyết nàu thật là đúng. Khi luyện nên còn rắn chắc thay, huống hồ là tính tự nhiên.

    1. Hoảng hốt, nói tình trạng không thể phân biệt mà nhận-định được.

    Người đời dạy dỗ con trẻ từ lúc nó còn là bào thai trong bụng mẹ là muốn dưỡng dục thành [18a](1) cái tính tự nhiên ấy.

    Người ta ngủ say đã giấc rồi, hễ ai gọi thì tỉnh ngay. Đó gọi là khí gọi thần vậy.

    Lúc nằm chiêm bao thấy gặp-gỡ, nói chuyện, làm-lụng, mừng giận, sau khi tỉnh giấc đều có thể nhớ cả. Đó là thần động khí vậy.

    Thần khí của người ta là như thế. Thì thần khí của trời đất từ xưa đến nay vẫn lưu thông, không chỗ nào là không có, có thề biết được vậy. Cho nên bậc hiền-triệt đời xưa nói: “Thiên tri, địa trí” (Trời biết, đất biết) là thế đó.

    Lòng người thật lờn-lao, ở trên thì có thề thông với trời đất, ở giữa thì có thể dò biết được quỷ thần, ở dưới thì có thể xem xét vạn vật.

    Lẽ huyền-diệu của tượng và số (2) lần ra ở hình và khí, từ chỗ không ra chỗ có, từ chỗ có ra chỗ không.

    Trong khoảng tăm-tối huyền vi hay rõ-ràng sáng tỏ không chỗ nào là không phải đạo.

    Giữ lòng cho chánh đáng rồi sau mới có thể biết đạo. Biết đạo rồi sau mới có thề thấy cơ vi. [18b] Thấy cơ vi rồi sau mới có thể thông đạt quyền biến.

    1. Ở trang này nguyên-tác đánh nhảy 1 số, trang 17 rồi trang 19.

    2. Tượng là hiện-tượng, biểu-tượng. Số là quy-luật, số-học. Tượng và số là hai khái niệm căn bản của kinh Dịch.

    Vận-mệnh do người tạo ra, chớ không phải vận-mệnh tạo ra người.

    Cái lý trời và người hợp nhất chẳng qua là như thế.

    Kinh Dịch nói: Người nhân thấy đạo gọi là nhân, người trí thấy đạo gọi là trí. Trăm họ hằng ngày đều dùng đến đạo mà không hay biết. (1)

    SÁch Âm phù kinh nói: Của-cải và dụng-cơ là một vậy. Trong thiên-hạ không ai có thể thấy được, không aia có thề biết được. Người quân-tử được nó thì giữ vững lòng đoan chính trong lúc khốn cùng. Kẻ tiểu-nhân được nó thì nhẹ tính-mệnh. Ý nghĩa lời nói ấy cũng là một vậy. Chỗ uyên-áo của lý và khí đã tóm hết trong ấy.

    Sự mở đóng, sự diệu dụng, sự cổ-vũ, sự tinh-vi trời đã lấy ban cho thánh-nhân, thì thánh-nhân lấy đó mà thuận theo trời để chế vạn sự, thành vạn hóa, định vạn dân, phục vạn quốc.

    Ngày giờ có lành có dữ. Kẻ làm mờ-mịt theo lối tắt cho mau há lại không gặp một ngày giờ bất lợi? Nhưng cũng [19a] không hại gì, bởi lẽ đã vô tâm. Người đã vô tâm thì không can hệ gì đến quỷ thần.

    Đã lựa chọn ngày giờ thì phải xem xét cho cẩn-thận, phải biết rõ nên tiến hay nên tránh đi. Hễ có ý phạm đến thì bị đạo của quỷ thần giận ghét.

    1. Sách chép sai. Câu đúng ở Hệ từ thượng truyện trong kinh Dịch là: Nhân giả kiến chi vị chi nhân. Trí giả kiến chi vị chi trí. Bách tính nhật dụng nhi bất tri. Cố quân-tử chi đạo tiển hĩ.

    Kinh Dịch nói: “Đạo Dịch không suy nghĩ gì cả, không làm gì cả, yên lặng chẳng động, cảm mà thông hiểu cớ-sự của thiên-hạ”. (1)

    Không cảm thì làm sao có ứng?

    Bói bằng cỏ thi hay bói bằng mai rùa là đợi sự vật đưa đến rồi thuận theo mà cảm-ứng, tỷ như cái gương chưa soi thì không thấy có vật gì. Việc bói quẻ cũng đều là như thế.

    Đạo Dịch biến động luôn, không ở một chỗ, lưu hành khắp lục hư (2), lên xuống không thường, cho nên có thể cùng tận được sự linh diệu ở lý số.

    Lý ngụ ở khí. Số do ở khí. Lý số sinh ra ở tâm mà tác-động đến mọi việc, đó là sự chứng-nghiệm của khí.

    Có yên định rồi sau mới lo. Có lo rồi sau mới được. Đó là sự tài thành (làm nên) của khí.

    Sự vật đưa đến thì đón lấy để [19b] tìm hiểu sự khởi thủy của nó.

    Sự vật đi qua thì suy xét để nghiên-cứu sự chung kết của nó.

    Chỉ có đạo Dịch mới thế được.

    1. Sách chép sai. Câu đúng ở Hệ tứ thượng truyện trong kinh Dịch là: Dịch vô tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động cảm nhi toại thông thiên-hạ chi cố…

    2. Lục hư có 2 nghĩa. 1. Trên dưới và bốn phương. 2. Sáu hào, sáu ngôi trong 1 quẻ, nơi âm-dương giao-cảm.

    Sự biến đổi khi bình trị khi loạn lạc của đời xưa và đời nay đều do ở người. Những điều mà người làm đều là trời làm.

    Khí thuận hòa thì làm. Lành thì đưa đến điềm lành.

    Khí trái nghịch thì dữ, Dữ thì đưa đến điềm gở lạ-lùng.

    Sự đưa đến khí hòa thuận hay khí trái nghịch đều có thời có lúc. Cho nên đạo Dịch không ngoài một chữ thời (thời buổi).

    Khí có cơ (dụng cơ). Theo cái cơ ấy thì thấy thời.

    Khí cái cơ thuện hòa báo hiệu thì các điều lành tụ tập lại, các sự lành khởi sinh, tâm đồng, chí thông, không lao nhọc mà đưa đến đời bình trị.

    Khi cái cơ trái nghịch báo hiệu thì các điều dữ đều khởi sinh, tâm chí trống chọi nhau, trăm mối loạn lạc nổi lên mà không phải một người có thể vãn hồi được.

    Cho nên hiểu đạo Dịch quý ở việc có thể biết được lẽ đầy hya vơi, tiêu lụn hay nẩy nở, lành hay dữ, hối hận hay giận tiếc, tới hay lui, còn hay mất, mà cốt yếu là trở về chốn không mất lẻ chính đáng.

    [20a] Chu-Tử nói: “Co duỗi, lại qua đều là khí, khí của người và khí của trời đất liên tiếp nhau không có gián cách. Lòng người vừa cảm động, tất liền đạt đến khi, rồi cùng với khí ấy co duỗi qua, cảm thông với nhau.

    Cũng như việc bói toàn bằng mai rùa hay bằng cỏ thi đều là trong lòng đã tữ có vật ấy rồi thì chỉ nói đến việc trong lòng mà thôi, cho nên hễ động đến thì có ứng ngay”.

    Chu-Tử lại nói: “Người ta bẩm thụ cái khí của ngũ-hành trong trời đất. Cái khí ấy phải đi qua trong thân-thể người ta.

    Nay lấy chi cán (1) của ngũ-hành mà suy diễn số mệnh của người, cũng như nhà địa-lý (phong thủy) suy xét chọn lựa vị-trí hướng mặt hay quay lưng đối với núi rừng đều là một lẽ ấy”.

    Tôi nói: “Hợp hai thuyết ấy mà xem xét thì thấy Tiên-sinh không những chú trọn việc bốc phệ (bói bằng mai rùa và bói bằng cỏ thi) mà những lởi bàn luận về mệnh số binh tượng đều không dẹp bỏ. Hai thuyết áy thường bị các nhà háo biện bác bỏ. nhưng rốt cuộc đã đúng với lý khí và có kết cuộc không thể khinh được”.

    [20b] Nhà địa-lý (phong thủy) nói: “Nhà biện-sĩ phần nhiều không nhận thuyết lý khí và bảo rẳng vật hư nát rồi là vô tri”.

    Tóm lược mà nói thì người với trời đất là cùng một nguồn, với tổ-tiên là cùng một mạch.

    Sinh khí của trời đất thường lưu thông, thì tự nhiên có thể nhuần thấm đậm-đà xương tàn khô.

    Tinh-thần cùa tổ-tiên thường gom tụ lại thì tự nhiên có thể ân trạch cho dòng dõi được nhờ.

    Thanh-Ô-Tử (2) nói: “Tinh-thần của tổ-tiên đã chết trở về nhà, hài cốt trở về đất. Khí lành cảm ứng thì quỷ thần giáng phúc cho người”.

    1. Chi cán tức can chi (thiên can và địa chi).

    2. Thanh-Ô-Tử là nhà phong thủy nổi tiếng đời xưa.

    Về lý lời này rất thấu đáo.

    Thanh-Ô-Tử lại nói: “Khí ở trong làm cho nảy sinh, khí ở ngoài làm cho thành hình.

    Khí ở trong và khí ở ngoài thừa tiếp nhau thì tự nhiên thành phong thủy (địa-lý)”.

    Thưởng-thức mấy lời này thì có thể trọn tin không còn nghi-hoặc nữa.

    Hoành-Cừ không tin phong thủy, nhưng có nói: “Người phương Nam tin dùng sách Thanh nang kinh (1) thì còn có kẻ cho là được. Người phương Nam thử đất dành làm huyệt chôn, đem chỉ năm màu chôn xuống đất, trải qua một năm thì lấy lên xem.

    Hễ khí đất tốt thì [21a] màu sắc không biến đổi. Hễ khí đất xấu thì màu sắc biến đổi.

    Họ lại lấy một vật dụng chứa nước nuôi những con cá nhỏ rồi đem chôn xuống đất, trải qua một năm thì đem cá lên.

    Thấy cá còn sống hay chết thì biết đất ấy tốt hay xấu.

    Cho nên cỏ cây tươi tốt hay khô héo có thể cho mình biết cuộc đất (mà cỏ cây ấy đang mọc) tốt hay xấu.

    Sach Dĩ ngược biên nói: Nói về những nhà xem sao đoán tính mệnh người ta thì có số Tử-Bình, số Ngũ-tinh và số Tử-vi tiền-định.

    1. Thanh nang kinh là một bộ sách về phong thủy (địa lý).

    Các bậc sĩ-phu thích nghe số Tử-Bình, bởi lẽ nó ám hợp với lý, nói lên việc giàu sang nghèo hèn của người ra thường phần nhiều thật đúng.

    Nghe những ẩn sĩ bảo: “Tử-Bình là người vào thời Ngũ-quý, thường ở ẩn trên núi Họa-san với các bậc ma-y đạo gia như Trần-Đồ-Nam, Lữ-Đồng-Tân. Thế thì Tử-Bình là người khác thường vậy.

    [21b] Sách Tử-vi đẩu số, La-Luân viết bài tựa nói là mới được Tăng-Liễu-Nhiên ở núi Họa-san truyền cho.

    La-Luân tự xưng là cháu xa đời của Hi-Di (Trần-Đoàn tức Trần-Đồ-Nam).

    Theo sách Hoạch-Mạn-lục của Trương-Thuấn-Dân đời Tống nói Hi-Di chỉ có sách Nhân luân phong giám lưu hành trên đời mà thôi.

    Ấy là người đời sau gom góp những lời nói của ông mà làm thành sách, và không nói gì đến Tử-vi đẩu số cả.

    Sách Tử-vi đẩu số này, lý thú khá hẹp-hòi, ý chừng ắt là kẻ hậu nho gán cho Hi-Di, không phải chân bản vậy.

    Nếu quả do Hi-Di viết ra thì làm sao từ đời nhà Tống đến đời nhà Nguyên hàng bốn trăm năm không thấy lưu truyền trên đời, mãi đến khoảng giữa thời nhà Minh mới bắt đầu xuất hiện vậy? Người hãy xem xét kỹ.

    Sách Giáp ất thặng của một nhà nho đời Minh nói: Ở Kinh-độ có sao chép sách số Tiền-định, những lời trong ấy đều là thơ thất ngôn nhưng quê mùa bỉ lậu giống như những lời nói ở trong chợ-búa bây giờ.

    Sách ấy nói đủ từ cha mẹ cợ con anh em sang [22a] hèn, người ta đều kinh hãi cho là sách thần dị, tuy hạng quan chức cao cả như Tam công Cửu Khanh, chẳng ai là không thuận phục như ngọn cỏ ngả rạp dưới làn gió. Họ cho là Thiệu-Nghiêu-Phu tái lai vậy.

    Họ chẳng biết sách đó là do một ông thầy bói ở Kinh-đô tìm mua tuổi-tác lý-lịch của người ta rồi biên tập sẵn trước để người ta tự tra tìm thấy đúng mà kinh hãi thán phục.

    Chưa từng có lối văn lý thô bỉ như thế mà có thể đoán định đầy đủ việc sang hàn thọ yểu của người ta.

    Thuyết này rất đúng.

    Này, Tạo-hóa ban-bố tính-mệnh hàng muôn thứ không đồng nhau cho loài người, thì làm sao chỉ lấy năm nào giờ nào tham hợp lại mà phán-đoán lấy vài câu ngâm quyết-định đại-khái sự lành dữ họa phúc của thiên-hạ được hay sao?

    Lối thô-bỏ về văn-lý thì chẳng cần luận đến. Thuận đoán số-mệnh cũng chưa từng thấy sơ suất thô lỗ như thế.

    Trong sách ấy, những lời nói về danh và lợi, [22b] được và mất, tinh khí chậm chạp và mau-mắn, đường đời gian hiểm và phẳng lặng, thề đức cao dảy và kém mỏng đều là những câu đầu lưỡi mà mọi người đều có thể tự mình độ lường, nhưng chẳng ai không cho là việc có thật, cho nên họ quá sức tin.
    :rose: