11.08 - Quanghop92 (type done)

14/9/15
11.08 - Quanghop92 (type done)
  • Vân đài loại ngữ quyển 1
    Sách Thạch lâm yến ngữ chép: Tống Thái-Tổ lúc hàn-vi thường vào miếu thờ Cao-Tân , thấy trên hương-án có hai cái chén bằng tre dùng để xin kẹo, bèn lấy để bói xem danh-vọng và địa-vị của mình mai sau thế nào.
    Thói tục cho rằng một sấp một ngửa là keo của thánh thần thuận cho.
    Sách Tính lý gia lễ chép: Ngày xem bói phải đốt hương , hơ hai cái chén xin keo trên hương khói, cầu xin xong thì gieo hai cái chén vào mâm, hễ thấy một sấp một ngửa thì tốt. Ngày nay cách xin keo cũng như thế.
    Sách Tựa nhật lục chép: Trước mặt kẻ sĩ dại không nên nói chuyện số-mệnh.

    Phàm người có lòng bậy-bạ thì bị ngũ-hành làm mê hoặc. một khi có bụng tư riêng thì dễ bị quỷ thần kiềm chế.

    Lời nói này thật chí lý.

    [23a] Những điều mình thấy trong mộng-mỵ điều thuộc về ảo cảnh chưa ắt đáng tin được cả. Nhưng cũng có điềm báo trước việc lành dữ rất linh-nghiệm như tiếng vang. Một lời đoán bói, quỷ thần đã ứng ngay, sự quan-hệ không phải là nhỏ.

    Đem mộng-mỵ nói với kẻ si dại thì có khi họ đoán sai, há không phải mình chuốc laaysa điều hối lỗi vào mình?
    Đến việc vi diệu về mệnh số, người bậc trung trở xuống chưa dễ đã hiểu thấu triệt được.

    Sách Luận-ngữ chép: Sự hưng thịnh hay đồi phế của đạo là do ở mệnh.

    Ông Nghiêm-Quân-Bình xem bói ăn tiền ở chợ chốn đô-thị gặp người thì chỉ nói việc trung hiếu.

    Người phàm tục không biết tu thân, mơ tưởng xằng việc lợi ích, khổ tâm cầu cạnh, chưa được thì đổ cho số mệnh. Rốt cuộc họ không tự suy xét lại mình.

    Còn đối với người thông đạt mà đem số mệnh ra nói thì sẽ bị họ cười cho.

    Trời thì không hơi tiếng, không mùi vị, nhưng khi giáng lâm thì rạng-rỡ, mệnh trời thì không thường, nhưng việ lớn nhỏ chưa [23b] từng không tiền định.

    Thuyết tiền định, người xưa thường nói đến, đã thấy trong kinh sử, trên từ bậc vương công, dưới đến làng nước, có khi trong câu hát đồng-dao, lúc sơ khởi dường nhứ mơ hồ khó tin nhưng rốt cuộc đều có chứng ngiệm cả. Đó là số cũng là lý.

    Sách Tả chuyện chép: Vua Thành-Vương nhà Chu đóng đô ở Giáp-Nhục( nay thuộc tỉnh Hà-nam) bói được số đời truyền nối là 30, bói được số năm truyền nói là 800, thé mà phúc tộ nhà Chu đã kéo dài quá lịch số đã định trước

    Ý thị nước Trần bói được câu:

    Hữu-Vi chi hậu.

    Trương dục vu Khương.

    Ngũ thế kỳ xương.

    Tịnh vu Chính-khanh,

    Bát thế chi hậu

    Mạc chi dữ kinh.

    (Dòng dõi họ Hữu-Vi

    Sẽ sinh ở họ Khương

    Đến năm đời thì thịnh-vượng.

    Đều làm đến chức Chính-Khanh.

    Sau tám đời,

    Thì không ai đọ được).

    Về sau Trần-Kính-Trọng chạy sang nước Tề, con cháu về sau lại thôn-tính nước Tề.

    Thúc-Tôn-Trang-Thúc nước Lỗ bói xem đứa con trai tên Bảo tương-lai sẽ ra sao, được mấy câu sau đây:

    “Tương hành nhi quy chủ tự, dĩ sàm nhân nhập, kỳ danh viết Ngưu, tốt dĩ ngạ tử”

    (Sắp đi thi quay về làm chủ việc cúng tế, nghe đứa sàm nịnh tên Ngưu, cuối cùng phải chết đói).

    Về sauy quả như thế.

    Vua Hoàn-công nước Lỗ xem bói thấy sinh được đứa con trai tên là Hữu phù giúp công thất của Hoàn-công.

    Đến sinh ra, đứa bé ở bàn tay có chữ [24a] Hữu. Đứa bé ấy lớn lên làm chức Chính-khanh đời đời nắm giữ vận-mệnh quốc-gia.

    Bà Ấn-Khương nhà Chu mới có thai, Thai Thúc chiêm-bao thấy Thượng-Đế bảo mình rằng:” Ta sai đứa con ngươi, tên là Ngu. Hãy cho nó đất Đường thuộc Phân-dã sao Sám. Con cháu sẽ sinh sản phồn-thịnh”.

    Đến khi sinh ra, đứa bé quản nhiên có chữ Ngu ở trên tay, được Thành-Vương phong tước Đường, con cháu đời đời làm minh chủ các nước ở Hoa-hạ.

    Khổng-Văn-Tử nước Vệ chiêm-bao thấy Khang-Thúc bảo mình:” Ta sẽ sai con người là Sử-Cầu và Tôn-Ngữ giúp Nguyên”.

    Về sau người ái thiếp của Tương-công sinh được đứa con, đặt tên là Nguyên. Nguyên cuối cùng nối ngôi. Cầu và Ngữ đều làm quan Thượng-khanh.

    Nàng Yến-Cật nước Trịnh chiêm-bao thấy Sứ-trời cho mình hoa lan và bảo:” Đấy là con ngươi”.

    Về sau nàng sinh một đứa con, đặt tên Lan. Lan tức Trịnh Mục-công. Con cháu được phồn-thịnh.

    Người nước Tào có lần nằm mộng thấy các quân-tử đến[24b] cung mời bàn tính làm mất nước Tào. Tào-Thúc và Chấn-Đạc xin đợi Công-Tôn-Cương làm chức Tư-thành cầm quyền chính.

    Đến khi Tào-Bá-Dương lên ngôi, Công-Tôn-Cương là người nước Trịnh làm chức Tư-thành cầm uyền chính, phản-bội nước Tào, thông gian với nước Tống. Nước Tống bèn diệt nước Tào.

    Dưới thời vua Hiển-công nước Tấn có câu đồng-dao rằng:

    Bích chi thần,

    Long Vĩ phục thần.

    Quân phục chân chân.

    Thủ Quắc chi cân (kỳ).

    Thuần chi bôn bôn,

    Thiên-sách thôn thôn.

    Hỏa trung thành quân.

    Quắc công kỳ bôn.

    (Sáng ngày bính,

    Sao Vĩ không hiện.

    Quân-đội mặc một màu rất dồi-dào.

    Đoạt lấy cờ kỳ nước Quấc.

    Sao Thuần nhấp nháy.

    Sao Thiên-sách lu mờ.

    Sao Hỏa-trung thành quân.

    Vua Quắc-công phải bỏ chạy).

    Về sau vua Hiền-công nước Tấn thắng nước Quắc, ngày tháng đúng với câu đồng-dao này.

    Dưới thời vua Văn-công nước Lỗ có câu đồng-dao rằng:

    1, Đồng-dao bài hát của trẻ trong thôn xóm.

    Cù-dục chi vũ,

    Công tại ngoại dã

    Văng quỹ chi mã

    Cù-dục thù-thù,

    Công tại Can-hầu.

    Trưng kiến dữ nhu.

    Cù-dục lai sào.

    Viễn tai dao dao.

    Trù phủ táng lao,

    Tống phủ dĩ kiêu.

    ( Cánh chim sáo.

    Vua ở ngoài đồng.

    Tặng vua con ngựa.

    Chim sáo nhảy nhót.

    Vua ở Can-hầu.

    Đòi quần đòi áo.

    Chim sáo đến làm ổ.

    Xa xôi diệu vợi.

    Trù-phủ nhọc nhằn.

    Tống-phủ kiêu-căng).

    Về sau nước Lỗ có loài chim ấy đến làm ổ, Chiêu-công [25a] chạy ra nước ngoài, Định-công nối ngôi, nhất thể đúng như lời đồng-dao.

    Cuối đời vua Diinhj-vương nhà Chhu, có người nước Tần bị yêu nhập nói rằng:

    1. Sách chép như là sai. Đúng là chữ mã.

    Chu kỳ tu vương

    Diệc khắc tu kỳ chức.

    Chư hầu phục hưởng.

    Nhị thế cung chức vương thất.

    Kỳ hữu gián vương vị.

    Chư hầu bất đồ

    Nhi thụ kỳ loạn tai.

    ( Ông vua nhà Chu đã có râu lúc sinh ra.

    Cũng làm trọn chức vụ.

    Chư-hầu đều phục theo.

    Hai đời cung chức nhà Chu.

    Có kẻ dòm ngó ngôi vua.

    Chư-hầu không nghĩ đến,

    Mà chịu hoạn tai).

    Về sau Voa Linh-vương nhà Chu sinh ra đã có râu, không làm điều ác với chư-hầu, con là Cảnh-Vương cũng được trọn đời. Dến khi Kính-vương lên ngôi thì Vương-Tử-Triều quả nhiên lấn ngôi, Vua thua chạy sang nước Tống.

    Sách Sử-Kkys chép: Vua Mục-công nước Tần bị bịnh quyết (bịnh chân tay lạnh buốt) ngủ năm ngày mới tỉnh dậy, tự nói là mình gặp Thượng-Đế sai Mục-công dẹp yên loạn nước Tấn.

    Về sau, Mục-công quả nhiên ba lần lập vua cho nước Tấn.

    Cuối đời vua Tuyên-vương nhà Chu có câu đồng-dao rằng: “Yếm hồ, cơ phục, thựa vong Chu quốc”(Cây cung làm bằng) gỗ trên núi, túi đựng tên làm bằng gỗ cơ, thật làm mất nước nhà Chu).

    Về sau có người đem bán hai thứ ấy. Vua Tuyên-vương sai bắt người ấy. Người ấy chạy sang nước Quắc, rồi nuối nàng Bao-Tự đam dâng lên cho vua U-vương nhà Chu gây nên cái họa ở núi Ly-sơn .

    [25b] Căn-cứ vào những việc kể trên mà xem xét thì không những việc hưng thịnh hay đồi phế của nước nhà, mà số phận thông thường vận cùng khốn hay thông đạt của sĩ-phu đều được định trước ở cõi u-minh thiêng-liêng. Họ tên, tướng mạo hành chỉ, động tĩnh của mọi người đều có sự tiền định cả, không phải người ta tự-do được đâu.

    Sách Trung-dung chép: Đạo chí thành có thể biết trước được. Nước nhà sắp hưng thịnh tất nhiên có điềm lành. Nước nhà sắp bại vong tất nhiên có yên nguyệt (điềm dữ) . Những điềm ấy thấy ở quẻ bói bằng cỏ thi hay bằng mai rùa, động ở chân tay . Họa phúc sắp đến, lành hay không lành tất nhiên thấy trước được, bởi lẽ lòng người có một điềm linh thông, quỷ thần thác vào đó mà báo cho biết .

    Như vào thời Tây-Hán, các sách sách sấm-vĩ của những thuật sĩ lưu truyền nói nhà Hán được nhận mệnh trời thêm một lần nữa , chép rõ-ràng tên họ của vua Quang-Vũ , lại nói đời

    1. Ly-sơn, tên núi ở tỉnh Thiểm-tây. Vua U-vương nhà Chu mắc nạn mà chết ở đấy,

    2. Sấm-vĩ , thử thách chiêm nghiệm thuật số , đoán việc vị-lai.

    thứ 9 họ Xích-Lưu nhận mệnh trời ở núi Đại-lông(Thái-sơn).

    Như thế , có thể nói sách sấm-vĩ đã viết rõ-ràng, Người thông-đại biết việc đã qua, xét việc sẽ đến , chép rõ-ràng thành sách để người đời sau hiểu biết, hẳn [26a] đã có nhiều điều đoán lạ lùng và rất trùng.

    Nhưng nói về bậc vua chúa thì phải gìn giữ thường tâm , cẩn-thận thường đức, chớ nói việc điềm lành, việc thuật số để nẩy lớn lòng mê hoặc của thói tục ngu-si.

    Cho nên Lý Nghiệp-Hầu nói:” Số trời thì người khác có thể nói được, chớ bậc vua chúa tề-tướng không thể nói được”. Chính là vì lẽ đó.

    Trong vũ-truj chỉ có một lẽ mà thôi: Người ta tin những gì đã thường thấy, và nghi-ngờ những gì không được thấy.

    Sách Trúc-phổ của Đái-Khải-Chi đời nhà Tấn chép:’ Trời đất vô biên . thương sinh (nhân-dân) vô lượng. Người ta nghe thấy điều gì đều noi theo sự tiến đạt của lề-lối cũ rồi sau mới biết”.

    Thế thì có đáng gì mà nói đến nữa.

    Nếu tai mắt không nghe thấy mà biết, liền cho là không có như thế, thì há chẳng phải là hạng ngu-si thiển-cận hay sao?

    Sách Gia-huấn của Nhan-Chi-Thoi ở nước Tề chép:” Vua

    1. Xích-Lưu, Hán Cao-tổ họ Lưu, tương truyền là con của Xích-đế, cho nên được gọi là Xích-Lưu.

    Vũ-đế không tin có thứ keo nối được dây cung. Vua Văn-đế nước Ngụy không tin có thứ lửa giặt được vải . Người rợ Hồ thấy gấm, không tin có thứ sâu ăn lá cây [26b] nhả tơ dùng dệt ra gấm. Xưa ở đất Giang-nam người ta không tin có cái mùng bằng lông có thể chứa ngàn người, đến khi đến Hà-bắc lại không tin có thể chở được hai vạn thạch”.

    Đó là những điều thực-nghiệm cả.

    Lấy thuyết ấu mà suy luận có thể thấy rằng sự vật không thể biết cho xiết được. Này, trên từ bầu không-gian, dưới đến bờ cõi, có hình có tượng quái lạ muôn điều, lấy ý mà độ lường thì uổng phí tinh-thần, lấy lời mà biện-bạch thì thêm miệng lưỡi , mà đại-khái không đạt đến thực cảnh được, như thế để làm gì?

    Cho nên cái học của người quân-tử chỉ noi theo lẽ thường mà thôi.

    Người xưa bảo :” Biển ở Nam Bắc Đông Tây có bậc thánh-nhân ra đời “. Mọi người đều đồng một lòng ấy, và đồng một lẽ ấy.

    Quốc-vương Mặc-Đức-Na nước Hồi-hồi dựng nước đúng vào đầu niên-hiệu Khai-hoàng nhà Tùy ở Trung-quốc, chế ra phép làm lịch, khảo xét [27a] thiên-tượng tự làm thành một quyển sách .

    Lợi-Mã-Đậu (Matteo Ricci , 1552-1668, Giáo-sĩ)

    1. Thạch, đồ để đong lương , 10 đấu là 1 thạch