11.11 - suongkt (type done)

13/10/15
11.11 - suongkt (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-UjhGc2ExYU1IQjQ/view

    :rose:
    TRANG 101

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2

    Sách Quy tâm thư của Nhan-Chi-Thôi chép : Trời là tinh khí, mặt trời là dương-khí, mặt trăng là âm-tinh (tinh túy của khí âm), ngôi sao là tinh khí của vạn vật.

    Ngôi sao rơi xuống lại là đá.

    Này vật to lớn và ở xa mà người ta không thể đo lường được, khiến người ta khó hiểu biết thì không gì bằng trời.

    Ngôi sao có khi rơi xuống lại là đá. Ngôi sao nếu phải hay không phải là đá thì không được có ánh sáng mà chỉ có chất nặng mà thôi thì dính mắc vào đâu ?

    Đường kính của một ngôi sao, thứ lớn đến hàng trăm dặm.

    Một chòm sao, đầu đuôi cách nhau hàng mấy trăm vạn dặm.

    Số ngôi sao trong một chòm sao là hàng vạn cái nối liền nhau, rộng hẹp, ngang [5b] lệch thường không dãn không co.

    Hơn nữa ở ngôi sao và mặt trời mặt trăng, sắc sáng cũng như nhau chỉ có lớn nhỏ khác nhau mà thôi. Vậy thì mặt trời mặt trăng cũng là đá nữa sao ?

    Đá đã rắn chắc thì con quạ thỏ 1 làm sao ở được ?

    Đá ở trong không-khí thì há lại có thể chuyển vận một mình được ?

    1.Tương truyền trong mặt trời có con quạ ba chân, cho nên người ta dùng danh-từ kim ô (quạ vàng) để chỉ mặt trời.

    Tương truyền trong mặt trăng có con ngọc thỏ già, trường sinh bất tử, cho nên người ta dùng danh-từ Ngọc thố (thỏ ngọc) để chỉ mặt trăng.

    TRANG 102-103

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2

    Tôi cho rằng, ngôi sao trên trời có ánh sáng, ánh sáng ấy là khí. Khí ấy vừa rơi xuống liền bị gió tuyệt cao ở nửa từng không thổi mà đóng đặc lại thành đá, há rằng là đá sẵn có trên trời hay sao ?

    Mặt trời mặt trăng cũng là hơi khí chất chứa thành khối vĩ-đại có ánh sáng rực.

    Ngôi sao là tinh-khí của vạn vật, cho nên khi rơi xuống thì thành đá.

    Mặt trời là Thái-dương, tinh của lửa.

    Mặt trăng là Thái-âm, tinh của nước.

    Không được lấy đó mà khép vào lệ cho rằng mặt trời mặt trăng cũng là đá.

    Đến như việc đo lường đường kính rộng hẹp của các ngôi sao thì phép ghi trong sách lịch của Âu-tây là tinh-vi hơn hết.

    Nhan-Chi-Thôi lại nói : ‹‹Mặt trời, mặt trăng và tinh-tú nếu đều là hơi khí (thể hơi khí thì nhẹ nổi lên hợp với trời) thì qua lại, xoay [6a] vòng không được trái ngược sai lệch nhau, và chậm hay mau theo lý phải đồng như nhau.

    Thì cớ gì mặt trời mặt trăng, năm hành-tinh (Kim-tinh, Mộc-tinh, Thủy-tinh, Hỏa-tinh, Thổ-tinh) và Nhị thập bát tú đều có độ số, dời chuyển không đều nhau, sao lại là hơi khí lúc rơi xuống chợt biến thành đá ?››.

    Tôi xét theo lời Hách-Manh đời Hán đã nói : ‹‹Trời là không có chất gì hết. Ta ngẩng lên mà xem, thấy trời cao xa không cùng. Mặt trời mặt trăng và các tinh-tú tự-nhiên sinh ra lớp lớp trong khoảng hư không, đi hay đứng đều thuộc hơi khí cả. Cho nên thất diệu (7 ngôi : mặt trời, mặt trăng, Kim-tinh, Mộc-tinh, Thủy-tinh, Hỏa-tinh, Thổ-tinh) khi ẩn khi hiện vô thường, lúc tiến lúc thoái không đồng bởi lẽ không có móc dính vào đâu cả mà đều thành khác nhau. Cho nên sao Thần-cực (sao Bắc-đẩu) thường ở yên ở một độ số, sao Bắc-đẩu không cùng với những ngôi sao khác lặn về tây.

    Các sao Nhiếp-đề đều đi về phía đông, một ngày đi 1 độ, một tháng đi 30 độ.

    Cho nên tinh-tú không có móc dính vào đâu cả, điều này có thể biết được››.

    Cát-Trĩ-Xuyên nghe được lời này cười ông ta rằng : ‹‹Nếu tinh-tú không quấn buộc vào trời, thì trời vô dụng››.

    Người theo Hồn-thiên [6b] học 1 cho là Tam-viên (ba ngôi sao : Tử-vi, Thái-vi và Thiên-thị) và Nhị thập bát tú cùng với trời vận hành nhất định không dời đổi. Đó là kinh-tinh (bằng-tinh, ngôi sao không dời chuyển).

    Mặt trời, mặt trăng, Kim-tinh, Mộc-tinh, Thủy-tinh, Hỏa-tinh và Thổ-tinh cùng vận-hành với những tinh-tú khác nhưng vô định. Đó là vĩ-tinh (hành-tinh, ngôi sao dời chuyển vận-hành mãi).

    1.Hồn-thiên học, một môn toán học về thiên-tượng ngày xưa, cho rằng trời tròn như quả trứng bao bọc lấy đất. Trời tròn như hòn đạn, cho nên gọi là Hồn-thiên.

    TRANG 104

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2

    Kinh-tinh và vĩ-tinh lẫn lộn cho nên thiên-tượng hiện ra.

    Trải qua các đời người ta đều bắt chước theo thuyết ấy.

    Trong đời gần đây, người Âu-tây vào Trung-quốc thật tinh thông về trắc-nghiệm thiên-tượng có nói : Trời có chín từng :

    1. Từng cao nhất là Tôn-động thiên, không có tinh-tú, mỗi ngày mang các từng trời khác từ đông sang tây chuyển sang bên trái một vòng.

    2. Từng thứ nhì là Liệt-tú thiên.

    3. Từng thứ ba là Trấn-tinh thiên.

    4. Từng thứ tư là Tuế-tinh thiên.

    5. Từng thứ năm là Huỳnh-hoặc thiên.

    6. Từng thứ sáu là Thái-dương thiên.

    7. Từng thứ bảy là Kim-tinh thiên.

    8. Từng thứ tám là Thủy-tinh thiên.

    9. Từng thấp hơn hết là Thái-âm thiên.


    Từ Trấn-tinh thiên (từng thứ 3) 7 từng trời 1 đều theo Tôn-động thiên quay sang bên trái. Nhưng mỗi từng [7a] đều có độ quay sang bên mặt từ phía tây sang phía đông.

    Điều này phù-hợp với lời tỷ-dụ con kiến bò trên bàn xoay đá mài của Chu-Bễ.


    1.Đếm thấy 7 từng mới đúng, sách chép 8 từng là sai.


    TRANG 105-106

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2


    Mặt trời, mặt trăng và ngũ-tinh (Kim-tinh, Mộc-tinh, Thủy-tinh, Hỏa-tinh, Thổ-tinh) đều có một từng trời. Những từng trời ấy đều không giống với đất, cho nên cao thấp cách mặt đất không đều nhau. Số cao nhất và số thấp nhất đều lấy bán-kính của trái đất làm tiêu-chuẩn.

    Điều này phù-hợp với thuyết ‹‹Viên tắc cửu trùng›› (vòng quanh trái đất có chín từng) trong Sở-từ.

    Bọn người Âu-Tây Nam-Hoài-Nhân (Ferdinandus Verbiest, 1623-1688) viết sách Khôn-dư đồ thuyết có câu : ‹‹Đất và biển vốn là hình tròn hợp lại thành một trái tròn ở giữa bầu trời tròn giống như cái lòng vàng ở giữa cái lòng trắng của trứng gà. Trời đã bao bọc trái đất, cho nên trời và đất có ứng-nghiệm với nhau››.

    Sách ấy lại nói : ‹‹Người đời bảo trời tròn đất vuông. Đó là nói về ý nghĩa động tĩnh. Cái lẽ về vuông và tròn không phải nói về cái hình.

    Họ lấy độ số đông tây nam bắc để chứng-minh hợp với ý nói trái đất tròn rất rõ-ràng.

    [7b] Các nhà khảo sát hình tượng thiên-văn cho rằng thuyết này không ngoài cái thuyết Hồn-thiên của người xưa.

    Theo bài Thiên-đạo luận của Nhân-Loan đời Hậu-Chu có nói : ‹‹Đạo-gia thường bảo trời tròn đất vuông. Nay đem bốn góc và bốn phương mà suy lường thì trời đất đều tròn. Người xưa đã có thuyết ấy rồi.

    Hai quyển Đồ-thuyết dịch ra chữ Tàu nói về đất-đai, sản-vật, phong-tục, nhân-vật, đồ dùng, chế-độ, yêu quỷ, quái dị của các nước, có nhiều điều không thể biết được, còn luận về núi gò, thủy-triều sớm chiều, sông biển, gió mây, sấm sét, thì đều có phần chí lý, bởi lẽ nước ấy tiếp giáp với biển, tập quen theo đường biển, cho nên căn-cứ vào điều chân-tri (biết thật), chân-kiến (thấy thật) mà suy lường hình-tượng thiên-văn, không phải đã ức độ một cách lửng-lơ vậy.

    Nay những điều ghi chép trong sách Thuyết linh mười phần không còn được một, đã lầm về việc lựa chọn lấy hay bỏ rất nhiều.

    [8a] Trong thiên Thiên-viên ở sách Đại đái lễ, Đan-Cư-Ly hỏi Tăng-Tử :

    _ Trời tròn mà đất thì vuông, thật có như vậy chăng ?

    Tăng-tử đáp :

    _Trời sinh ở đầu trên, đất sinh ở đầu dưới (có chú : Người ta thì đầu tròn chân vuông; nhân đó mà hệ thuộc vào trời đất).

    Đầu trên gọi là tròn, đầu dưới gọi là vuông. Như nếu thật là trời tròn đất vuông thì bốn góc không được che kín.

    Về việc đó có nghe Khổng-Tử nói : ‹‹Đạo trời gọi là tròn, đạo đất gọi là vuông››.

    Theo đó Khổng-Tử tuy không nói rõ đất hình tròn. Nhưng một câu : ‹‹Bốn góc không được che kín›› đã hiện rõ đại ý rồi.

    Vậy luận-thuyết ‹‹Đất tròn›› của người Âu-Tây cũng không phải là mới lạ.

    TRANG 107-108

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2


    Sách Ngọc-Nghi chép : Độ mỗi nhất vạn, và chua : Lấy một độ chia làm muôn phần.

    Xét sách Quảng-nhã chép : Một độ là 2.932 dặm. Những chòm sao trong Nhị thập bát tú cách nhau tính gộp chung được 1.070.913 dặm, [8b] đường kính là 356.970 dặm.

    Nhưng sách Thì hậu thần khu lại nói : Nhị thập bát tú cộng được 366 độ, mỗi một độ ước chừng 3.000 dặm. Tính vạn phân thì 10 phân là 1 tấc, 10 tấc là 1 thước. Một phân bao quản 30 dặm; 1 tấc bao quản 300 dặm, một thước bao quản 3.000 dặm. Tính trọn vòng trời cộng được 1.097.000 dặm.

    Những thuyết này không giống nhau.

    Xét sách Tấn-chí dẫn lời Xuân-thu khảo dị rằng : Vòng trời có 1.071.000 dặm. Một độ là 2.932 dặm.

    Ý chừng thuyết này là đúng.

    Người Âu-Tây thì cho là vòng trời được chín vạn dặm (90.000) Một độ là 290 dặm. Thuyết này lại khác.

    [9a] Sách Thượng thư vĩ khảo linh diệu chép : Ngày dài thì bóng mặt trời được 1 thước 5 tấc. Ngày ngắn thì bóng mặt trời được 1 thước 3 tấc.

    Sách Dịch-vĩ chép : Trong ngày đông-chí dựng cây nêu 8 thước, lúc giữa trưa nhìn bóng mặt trời dài hay ngắn để xem có điều hòa hay không.

    Phép ấy cho biết : Ngày hạ-chí bóng mặt trời được 1 thước 4 tấc 8 phân. Ngày đông-chí bóng mặt trời được 1 trượng 3 thước.

    Chu-Bễ nói : ‹‹Trong đất Thành-Chu ngày hạ-chí bóng mặt trời dài 1 thước 6 tấc, ngày đông-chí bóng mặt trời dài 1 trượng 5 thước 5 tấc.

    Bài truyện về Hồng-phạm của Lưu-Hướng chép : Ngày hạ-chí bóng mặt trời được 1 thước 5 tấc 8 phân, ngày xuân-phân và thu-phân bóng mặt trời được 7 thước 3 tấc 6 phân.

    Ở kinh-đô nhà Hán nhà Ngụy và nhà Tống bóng mặt trời khác nhau.

    Về phép làm lịch của bốn nhà, cách xem thiên-văn và đo lường thiên-tượng thì đồng nhau, nhưng việc trần bày về đường vĩ-tuyến e khó bằng-cứ.

    Bóng mặt trời đo theo Lưu-Hướng trong ngày xuân-phân và thu-phân là trực-tiếp suy ra chớ không phải theo những chứng-nghiệm lộ ra mà định trời dài hay ngắn 1.

    Khảo sách Linh-diệu, Chu-bễ, Linh-hiến và phần chú Chu-Lễ của Trịnh-Huyền [9b] đều thấy nói : Bóng mặt trời trên mặt đất hễ một ngàn dặm thì sai một tấc.

    Xét theo việc năm Nhâm-ngọ niên-hiệu Nguyên-gia thứ 19 (442) nhà Tống sai sứ sang Giao-châu đo bóng mặt trời thì thấy : Bóng mặt trời ở phía nam cây nêu dài 3 tấc 3 phân.

    1.Câu này nguyên văn chép sai. Đúng theo Thiên-văn chí trong sách Tùy-thư là : Phi nhân biểu hiện hậu định thiên trường đoản.


    TRANG 109

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2

    Hà-Thừa-Thiên khảo-sát bóng mặt trời ở Dương-thành nói : ‹‹Ngày hạ-chí bóng mặt trời dài 1 thước 5 phân. Tính ra Dương-thành cách Giao-châu muôn dặm mà bóng mặt trời thật ra chỉ sai 1 thước 8 tấc 2 phân, như vậy thì 600 dặm bóng mặt trời sai 1 tấc.

    Tín-Đô-Phương đời Hậu-Ngụy chú bốn thuật đo lường thiên-tượng theo phép Chu-bễ có nói : ‹‹Kim-lăng cách Lạc-dương từ nam đến bắc độ ngàn dặm mà bóng mặt trời sai 4 tấc, như vậy thì 250 dặm sai 1 tấc.

    Lưu-Chước đời Tùy lấy bóng mặt trời ở hai ngày hạ-chí và đông-chí định chỗ mặt trời cao nhất chiếu xuống.

    Theo sách Chu-quan bóng mặt trời ngày hạ-chí được 1 thước 5 tấc.

    Nhóm Trương-Hành Trịnh-Huyền Vương-Phồn Lục-Tục đều cho rằng bóng mặt trời ngàn dặm thì sai [10a] 1 tấc.

    Nói ở phía dưới vùng Nam Đái-nhật 1 15.000 dặm, bóng mặt trời ở cây nêu rất đúng, lúc mặt trời cao thì lại khác.

    Khảo xét việc đó ở phép trắc lượng thiên tượng thì không thể 1 tấc lại sai ngàn dặm. Và cũng không có điển nào nói như thế.

    Nay Giao-châu Ái-châu dựng nêu mà đo bóng mặt trời, ở

    1.Đái-nhật (nghĩa là lạy mặt trời), theo sách Nhĩ-nhã, vùng Đái-nhật ở phía nam Tề-châu, người nam thờ mặt trời, cho mặt trời là Chúa các Thiên-thần.

    TRANG 110

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2

    phía bắc cây nêu không có bóng mặt trời thì kể là năm vạn dặm (50.000), còn về phía nam qua vùng Đái-nhật thì 1.000 dặm sai 1 tấc, cũng không phải thật như vậy.

    Phép Trung quỹ phúc ảnh đời Đường chép : Phép Trung-quỹ, khởi đầu do Lý-Thuần-Phong làm lịch quy định 24 tiết khí. Phép Trung-quỹ và cái hay dở của Tổ-Trùng hơi khác nhau, nhưng chưa biết của ai là đúng.

    Tăng Nhất-hạnh làm lịch Đại-diễn, vua có xuống chiếu cho quan Thái-sử phải đo bóng mặt trời khắp trong thiên hạ, tìm đất trung-thổ (đất ở giữa bốn phương) để làm định số.

    Có lời bàn nói : ‹‹Sách Chu-quan dùng thổ-khuê 1 đo bóng mặt trời, lấy vị-trí nào mà bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc làm đất trung tâm điểm.

    Trịnh-Huyền cho là [10b] bóng mặt trời chiếu xuống đất hễ 1.000 dặm thì sai 1 tấc. Chỗ bóng mặt trời sai 1 thước 5 tấc tức là ở phía dưới vùng Nam Đái-nhật 15.000 dặm.

    Đất cùng với tinh-tú dời chuyển sang bốn hướng và thăng giáng trong vòng 3 vạn dặm. Do đó chia làm hai thì được chỗ địa-trung, tức nay là đất Dĩnh-xuyên và Dương-thành.

    Trong niên-hiệu Nguyên-gia (424-454) đời vua Văn-đế nhà Tống, trong cuộc đi đánh nước Lâm-ấp ở phương Nam, ngày tháng 5 có dựng nêu để xem bóng mặt trời, thấy bóng mặt trời ở phía bắc cây nêu, còn dựng nêu ở Giao-châu thì thấy bóng mặt trời ở phía nam cây nêu 3 tấc.

    1.Thổ-khuê, dụng-cụ của người xưa đo bóng mặt trời.