11.12 - kvkhuong (type done)

22/9/15
11.12 - kvkhuong (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-YW9nM0VtdzdEcVU/view

    Trong niên-hiệu Khai-nguyên thứ 12 (725) đời vua Huyền-Tông nhà Đường, đo bóng mặt trời ở Giao-châu (nay là Thăng-long) trong ngày hạ-chí thấy bóng mặt trời ở phía nam cây nêu 3 tấc 3 phân, đồng với đóng mặt trời đo trong niên-hiệu Nguyên-gia.

    Sứ-giả Đại-tướng Nguyên-Thái nói: “Đất Giao-châu trông cùng tầm mắt mới cao trên 20 độ.”

    Sách Hội-yếu chép: Khỏi mặt đất hơn 30 độ.

    Tháng 8 ở trong biển trông lên dưới sao Lão-nhân thấy những ngôi sao lập-lòe vừa sáng vừa to rất nhiều mà người xưa chưa từng biết, đó là những ngôi sao mà những nhà theo thuyết Hồn-thiên cho là thường giấu [11a] trong đất.

    Lại ở phía bắc nước Thiết-lặc có nước Cốt-lợi-cán, ở đấy ban ngày thì dài, ban đêm thì ngắn. Đã về đêm mà trời như vàng vàng không tối. Chiều nấu đùi dê vừa chín thì trời đã sáng, bởi lẽ đó là vùng gần chỗ mặt trời mọc.

    Sách Nam-cung của Thái-sử Giám nói: Chọn đất phẳng ở tỉnh Hà-nam, đầu tiên đặt dây mực rồi dựng cây nêu để kéo dây mà đo, bắt đầu từ Hoạt-đài.

    Bóng mặt trời ở thành Bạch-mã ngày hạ-chí được 1 thước 5 tấc 7 phân.

    Về phía nam hơn nữa ở Tuấn-nghi và Nhạc-đài bóng mặt trời được 1 thước 5 tấc 3 phân.

    Về phía nam hơn nữa ở Phù-câu bóng mặt trời được 1 thước 4 tấc 4 phân.

    Trực-kính của chu-vi để đo thiên-độ được 1.406 dặm 24 bộ có hơn.

    Nay đo bóng mặt trời cách Dương-thành 5.000 dặm thì thấy đã ở phía nam đất Đái-nhật, thì một độ phải giảm 2 phần ba (2/3).

    Nam-cực và Bắc-cực cách nhau 80.000 dặm, đường kính là 50.000 dặm. Sức rộng lớn của vũ-trụ há chỉ như thế, thì cái thuật của Vương-Phồn chẳng khác nào lấy cái bầu đong nước biển vậy.

    Trong năm thứ 13 đến núi Đại-tông (núi Thái-sơn), lúc ấy ở chân núi thì ban đêm chưa dứt, mà ở chỗ Nhật-quan[1] trông về phương đông thấy mặt trời đã lần lần lên cao.

    Xét theo phép, lúc sáng sớm đến lúc mặt trời mọc lên cách nhau 2 khắc rưỡi, nay thấy cách nhau đến 3 khắc có hơn nguyên do bởi ý của người xưa dùng thổ-khuê trắc-lượng thiên-tượng để tuyên-bố hòa khí, giúp đỡ [13a] vật nghi chó không cốt ở đo đường kính chu-vi của vị thứ các ngôi sao. Ý nghĩa tôn trọng lịch số là kính trao cho nhân-dân thời-tiết làm mùa và kính trọng thiên-tượng, chớ không phải ở lẽ phải trái của thuyết Hồn-thiên hay Cái-thiên.

    Sách Thiên văn chí nước Tấn chép: Đất ở giữa bầu trời mà Dương-thành là trung điểm.

    Sách Hà-đồ quát địa tượng chép: Núi Côn-lôn làm cột trụ, khí bốc lên thông với trời. Núi Côn-lôn là trung điểm của đất.

    Chu-Tử nói: << Trung-điểm của đất ngày nay với của ngày xưa khác nhau. Thời nhà Hán, Dương-thành là trung-điểm của đất, còn triều nhà Tống, Nhạc-đài là trung điểm của đất, thì đã khác nhau khá nhiều.

    Tạp-chí của Lưu-Định-Chi chép: Đính-tâm của trời phải là Dương-thành ở dưới núi tung-sơn, còn đính-tâm của đất là núi Côn-lôn, so le không đối nhau.

    Trong khoảng trời đất, phía đông-nam thì nắng nóng, phía tây-bắc thì lạnh rét.

    Đất ở vùng lạnh rét thì đặc cứng dựng cao, cho nên miền tây-bắc có nhiều núi.

    Đất ở [13b] vùng nắng nóng thì rã-rời sụp lở, cho nên miền tây-nam có nhiều nước.

    Hợp miền đông-nam nhiều nước với miền tây-bắc nhiều núi lấy quân bình mà luận thì đất vẫn lấy Dương-thành làm trung-điểm. Nhưng lấy điểm cao-đính thì núi Côn-lôn làm trung-tâm.

    Đấy đều là lấy lãnh-vực Trung-quốc mà nói.

    Nhưng tôi xét lời của Trâu-Diễn cho là đất có chín châu, châu ở Đông-nam là Thần-châu, còn 8 vùng kia là Thứ-châu, Nhung-châu, Hấp-châu, Ký-châu, Thai-châu, Tế-châu, Bạc-châu, Dương-châu làm Xích-huyện[2].

    Trong hoàn-vũ, một trong chín châu ấy là Ký-châu chưa biết quả thật là ở đâu.

    Nhà sư Ma-Đằng đáp lời vua Minh-đế nhà Hán rằng:<< Nước Ca-tỳ-la-vệ là trung-tâm Tam thiên đại thiên thế-giới bách ức nhật nguyệt, các Phật Tam thế[3] đều sinh ra ở đấy cả>>.

    Hãn-Dung luận rằng: <<Phật sinh ở nước Thiên-trúc vì nước Thiên-trúc là trung-tâm của trời đất và là nơi trung-hòa>>.

    Ông lại [14a] nói: <<Sao Bắc-thần ở giữa bầu trời và ở phía bắc cõi người >>.

    Lấy đó mà xem thì đất nhà Hán chưa ắt là ở giữa trời.

    Nhà sư Thích Pháp-Lâm dẫn sách Trí-độ luận nói rằng: << Thiên thiên chồng số lên nhau cho nên gọi là tam thiên. Số thiên rồi lại số thiên nữa cho nên gọi là đại thiên. Nước Ca-tỳ-la-vệ ở trong đó >>.

    Kinh Phiên-thán gọi phía đông là chấn-đán vì lúc mặt trời mới mọc thấy sáng rực ở góc phương đông. Các đức Phật ra đời đều ở Trung-châu chớ không sinh ra ở nơi biên ấp.

    Pháp-uyển truyện nói: Hà-Thừa-Thiên đời Tống cùng với Trí-tạng pháp-sư tranh-luận về mặt trời đến giữa bầu trời. Lúc mặt trời đến giữa bầu trời, nếu dựng cây nêu thì không có bóng mặt trời.

    Nhà Hán dựng ảnh-đài (đài để đo bóng mặt trời), trong ngày Hạ-chí và Đông0chí dụng nêu có chút ít bóng tối.

    Y theo Toán kinh một tấc trên trời bằng dưới đất ngàn dặm. Lúc ấy Hà-Thừa-Thiên mới tỉnh ngộ.

    Tóm lại mà luận: <<Nước Thiên-trúc là trung-tâm của mặt đất>>.

    Nhà sư Thích-Minh-Khái [14b] bác lời sớ của ông Phó-Dịch có nói: <<Trung-quốc là trung-tâm của ba ngàn nhật nhuyệt và của một vạn hai ngàn thiên-địa >>.

    Các thuyết kể trên khác nhau, không ibe61t căn-cứ vào đâu.

    Sách của người Âu-tây viết ra lúc sau cùng nói lại thật ly-kỳ. Những người Âu-tây ấy do đường biển hàng 10 vạn dặm đến Trung-quốc lịch duyệt đã rộng, đo xét lại tinh, cho nên người Trung-quốc đều tin theo mà không dám cho là sai.

    Nay chép các thuyết của họ nói về phân độ kinh tuyến các nước đại lược như sau:

    Phàm các nước có lớn có nhỏ, hoặc ở về phía bắc phía nam, hoặc ở về phía đông phía tây đều lấy số độ mà chia, bởi lẽ đất và biển đã thành hình tròn như trái cầu.

    Hai đầu trục nam bắc đối xứng với Nam-cực và Bắc-cực của trời gọi là hai cực Nam-cực và Bắc-cực của trái đất thì nhất định cách đường Xích-đạo đồng nhau. Phiá trên và phía dưới đường xích-đạp là số vĩ-tuyến của trái đất đã rõ-ràng.

    Này, mặt trời mặt trăng mắc ở vòng trời bao bọc lấy trái đất chuyển vận ngày đêm không [15a] nghỉ vốn không có mọc lên hay lặn xuống. Chỉ như nước này gặp mặt trời soi chiếu thì là ban ngày, hay thấy mặt trăng và tinh-tú thì là ban đêm. Vì thế hễ thấy mặt trời lên thì đó là phương đông, hễ thấy mặt trời xuống thì đó là phương tây.

    Nhưng phía tây của nước này là phía đông của nước kia, mà trái đất vốn không có chính đông chính tây.

    Nhưng kinh-tuyến của trái đất phải bắt đầu đếm t72 chỗ nào?

    Trong bức toàn đồ vẽ ra đầu tiên, đất của hai đại châu Âu-la-ba (Europe) và Lợi-mạt-á đều ở phía tây nước Trung-hoa.

    Khởi đầu xét trong bốn biển, Phúc-đảo ở về phía cực-tây. Thì phía ngoài đảo ấy là biển. Đi sang phương đông mà tìm đất thì thấy đất ở phương đông rộng bao-la khôn cùng lại là những nước giao tiếp nhau.

    Trong bức Nhất-thống-đồ, từ Bắc-cực qua Phúc-đảo đến Nam-cực vẽ một đường kinh-tuyến. Lấy đường kinh-tuyến này làm mức để tính độ số của đường ngang. Đường kinh-tuyến xuyên qua Phúc-đảo được kể là đầu và cuối của [15b] 360 độ.

    Có người hỏi:

    - Trái đất không có đông tây mà người làm bản-đồ lại có những chỗ như Đông-hải Tây-hải thì thật chẳng là lầm hay sao?

    Đáp:

    - Người khéo vẽ bản-đồ cố nhiên lấy nước to làm chủ, cho nên lấy bên tả bên hữu của nước to ấy mà đặt tên biển tên địa-phương.

    Như người Âu-la-ba (Europe) thì lấy Á-mặc-lợi-gia (América) làm phía tây, lấy Á-tế-á (Asia) làm phía đông, cho nên vẽ Á-mặc-lợi-gia ở bên hữu, vẽ Á-tế-á ở bên tả.

    Như người Trung-hoa thuộc Á-tế-á tất nhiên vẽ Âu-la-ba (Europe) và Lợi-mạt-á ở phía hữu và vẽ Bắc Á-mặc-lợi-gia (Bắc Mỹ-Châu) và Nam Á-mặc-lợi-gia (Nam Mỹ-châu) ở phía tả.

    Nếu không như thế thì tên các địa-phương sẽ lẫn lộn.

    Sách Sơn hải toàn đồ giải thích rằng: Đất và biển vốn là hình tròn mà ợp thành một trái cầu ở trong bầu trời.

    Trời đã bao bọc lấy đất thì đây và đó cảm-ứng nhau, cho nên trời có [16a] Nam-cực, Bắc-cực, đất cũng có Nam-cực Bắc-cực như vậy. Trời chia ra 360 độ, đất cũng chia ra 360 độ đồng như vậy.


    Giữa trời có đường Xích-đạo. Từ đường Xích-đạp ấy xuống phía nam 33 độ rưỡi là đường nam Hoàng-đạo. Từ đường Xích-đạo lên dến phía bắc 33 độ rưỡi là đường Bắc Hoàng-đạo.

    Cứ theo nước Trung-hoa ở vào phía bắc Bắc Hoàng-đạo, mặt trời đi ở đường Xích-đạo thì ngày đêm bằng nhau, mặt trời đi về nam-đạo thì ban ngày ngắn, mặt trời đi về bắc-đạo thì ban ngày dài.

    Cho nên bầu trời có vẽ bức đồ ngày đêm bằng nhau ở giữa, vẽ hai bức đồ ngày dài đêm ngắn ở phía nam phía bắc thấy rõ bóng mặt trời đi.

    Trái đất cũng có ba bức đồ ở dưới tương-đối với bầu trời.

    Nhưng bầu trời bao bọc rất lớn-lao ở phía ngoài trái đất, cho nên độ trên trời rộng. Còn trái đất thì nhỏ bé nằm gọn trong bầu trời, cho nên độ dưới đất hẹp. Do đó độ số khác nhau. Bề rộng của thiên-hạ khởi đầu từ Phúc-đảo là 10 độ đến 360 độ rồi lại [16b] tiếp liền nhau.

    Thử xét ở Nam-kinh cách từ trung-tuyến trở lên 32 độ, cách từ Phúc-đảo sang đông 120 độ thì ở yên nơi ấy. những đất ở từ trung-tuyến trở lên đất Bắc-cực thì thật thuộc về miền Bắc. Những đất ở từ trung-tuyến trở xuống thì thật thuộc về miền Nam.

    Nhà Phật nói Trung quốc ở vào Nam thiềm bộ châu kể cả số đất lồi ra lõm vào ở Tu-di sơn[4]. Việc sai lầm này có thể biết được.

    Từ nhà Hán trở về sau, người ta nói đến phân-dã, lấy sao Ngưu sao Nữ là thuộc nước Ngô nước Việt, lấy sao Dực sao Chẩn là thuộc nước Kinh nước Sở.

    Lưỡng-Quảng (Quảng-đông, Quảng-tây) tuy là giới-hạn đất Việt đã tách riêng ra.

    Sách Địa-lý chí đời Tiền-Hán lấy những quận thuộc Uất-lâm và Thương-ngô ở tại Việt-tây đều thuộc về phân-dã sao Ngưu sao Nữ. Đỗ-Hựu, Âu-dương công, Tô Đông-pha đã phân biệt [17a] rồi.

    Nhà sư Nhất-Hạnh có thuyết lưỡng-giới (hai cõi) lấy phía đông-bắc nước Việt tiếp giáp nước Ngô thuộc tinh-kỷ[5], lấy phía tây-bắc nước Việt liền với nước sở thuộc sao Thuần-vĩ.

    Chu-Bạch Thái-Kham y theo đó mà khảo-luận không còn nghi ngờ nữa.

    Tế thì tỉnh Quảng-đông là lãnh-vực Dương-châu. Những tỉnh Quảng-yên, Hải-dương và Sơn-nam hạ lộ của nước ta đề là nhánh ấy đúng vào phân-dã sao Nữ.

    Quảng-tây là lãnh-vực Kinh-châu. Những tỉnh Lạng-sơn, Cao-bằng, Thái-nguyên, Kinh-bắc, và Sơn-nam thượng lộ đều là nhánh ấy phải thuộc về sao Chẩn.

    Vùng nào gần phía đông thì ấm nhiều lạnh ít, hàng năm ruộng thu gặt hai mùa.

    Vùng nào gần phái tây thì lạnh ấm bằng nhau, ruộng chỉ thu gặt một mùa. Khí-hậu không thể nào không đổi khác.

    Đến như Vân-nam là lãnh-vực Lương-châu. Những tỉnh Tuyên-quang, Hưng-hóa cho đến Sơn-tây liền về phái hữu với Thanh-hoa, Nghệ-an của nước ta đều là dư khí của mạch ấy, phải thuộc về sao Quỷ.

    Sách Vĩ thư khảo [17b] linh diệu chép: một độ là 2.932 dặm có lẻ.

    Phủ Thái-bình tỉnh Quảng-tây ở đúng vào 13 độ sao chẩn.

    Lạng-sơn, Cao-bằng, Thái-nguyên, Kinh-bắc, sơn-nam thượng lộ của nước ta ước chừng ở đúng vào 14 độ sao Chẩn.

    Phủ Liêm-châu tỉnh Quảng-đông ở đúng vào 6 độ sao Nữ. Những tỉnh An-quảng, Hải-dương, Sơn-nam hạ lộ phải thuộc vào 7 độ sao Nữ.

    Các loại sách thiên-văn trong Minh-chí đều lát những châu Quảng-đông, Cao-hoá thuộc về phân-dã sao Ngưu sao Nữ, mà châu Khâm châu Liêm thuộc về phân-dã sao Dực sao Chẩn.

    Tôi trộm nghĩ Liêm-châu là đất quận Hợp-phố, phía nam ven theo bờ biển phải là phân-dã tinh-kỷ, là dư chi sao Thuần-vĩ, phía hữu đến khoảng Nam-ninh và Thái-bình không được kéo dài đến ngoài biển được.

    Vả lại Ngô-châu thuộc phân-dã sao Nữ mà hay huyện Bác-bạch và Lục-châu đều có đường lộ chạy vào xứ An-quảng của nước ta.

    Khâm-châu thuộc tỉnh Quảng-đông [18a] lại cùng với châu Vạn-ninh thuộc tỉnh An-quảng liền đất với nhau thì phải thuộc phân-dã sao Nữ, điều ngày có thể biết được.


    [1] Nhật –quan, chỗ ở trên ngọn phía đông núi Thái-sơn làm nơi xem mặt trời mọc.


    [2] Xích-huyện, tức Xích-huyện thần châu, chỉ Trung-quốc

    [3] Tam thế, ba đời, ba kiếp: quá-khứ, hiện-tại, vị-lai.

    [4] Tu-di sơn tức Tuyết-sơn, núi Hi-mã-lạp sơn.

    [5] Tinh-kỷ, từ sao Nam-đẩu 12 độ đến sao Tu-nữ 7 độ là tinh-kỷ là phân-dã nước Ngô nước Việt.
  • Đang tải...