11.13 - kvkhuong (type done)

22/9/15
11.13 - kvkhuong (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-RUJTWERneEg0T2c/view
    Sách Sơ-học ký chép: Đồng-hồ được chế-tạo bắt đầu từ thời Hoàng-đế, truyền-bá sang đời nhà Hạ nhà Thương.

    Sáng ngày đông-chí, đồng-hồ rỉ chảy đến mức 45. Sau tiết Đông-chí ngày dài, cứ 9 ngày đồng-hồ rỉ chảy thêm 1 mức.

    Sáng ngày Hạ-chí, đồng-hồ rỉ chảy đến mức 65. Sau tiết Hạ-chí ngày ngắn, cứ 9 ngày đồng-hồ rỉ chảy giảm 1 mức.

    Cái đồng-hồ gồm có 3 từng, tròn và đều có bề kính 1 thước đặt trên cái thùng hứng nước có góc vuông, có cái vòi rồng phun nước vào cái thùng hứng nước, nước chảy xuống dưới một cái cừ đặt ngang, trên nắp có đặt một hình người đầy đủ áo mão đúc bằng vàng gọi quan Tư thì (coi về giờ khắc), hai tay cầm một cây tên. Đó là phép lậu khắc của Ân-Quỳ.

    Lấy đồng làm một cái ống hút nước (khát ô, con quạ khát nước) hình trạng giống như một cái móc uốn cong dẫn nước chứa đựng cho chảy vào [18b] một cái vòi rồng bằng bạc, phun vào cái đồi tưới (quán khí), nước rỉ chảy xuống 1 thăng cân nặng 2 cân thì trải qua 1 khắc. Đó là phép lậu khắc của Lý-Lan.

    Hà-Thừa-Thiên đời Tống đã sửa đổi phép lậu-khắc, trong tiết Xuân-phân và thu-phân sớm tối ngày đêm đều 55 khắc.

    Đến thời vua Vũ-đế nhà Lương lấy ngày đêm làm 100 khắc phân-phối vào 12 giờ, mỗi giờ được 8 khắc nhưng còn phần dư thừa, lấy ngày đêm là 96 khắc, một giờ được 8 khắc đúng.

    Đến niên-hiệu Đại-đồng thứ 10 (544) đời vua Vũ-đế nhà Lương lại đổi ngày đêm là 108 khắc, mỗi giờ 8 khắc, tiết Đông-chí ban ngày 48 khắc, ban đêm 60 khắc, tiết Hạ-chí ban ngày 70 khắc, ban đêm 38 khắc, tiết Xuân-phân và Thu-phân, ban ngày 60 khắc, ban đêm 48 khắc, số buổi tối và buổi sáng đều 3 khắc.

    Đến đời Trần lại y theo phép đời xưa [19a] ngày đêm là 100 khắc.

    Nhà Đường chế ra phép Thủy hải phù tiển có 4 cái thùng, lấy cây tên nổi làm khắc, chia ngày đêm có 12 giờ, mỗi giờ 8 khắc 12 phân, mỗi khắc 60 phân, có 48 cây tên nổi, 2 cây tên nổi là 1 khí, 1 năm có 2.191.500 phân đều được khắc ở cây tên.

    Cái ống hút bằng đồng dẫn nước rót xuống cây tên nổi, mực nước lần lần lên cao, lên đến mức phân biệt ngày đêm.

    Trong tiết Xuân-phân, Thu-phân va Hạ-chí Đông-chí, mùa đông mùa hạ dài ngắn, lúc tối lúc sớm ẩn hiện đồnhg như bóng mặt trời, theo sách Chu quan không khác.

    Nhà Tống, nhà Nguyên chế-tạo khác nhau nhưng đều lấy theo phép ngày đêm 100 khắc.

    Sách Tam-tài đồ-hội dẫn các sách nói về nguồn gốc khí-hậu.

    Sách Xuân-thu nội-sự chép: Vua Phục-Hy tạo ra tám tiết, lấy hào ứng với tiết-hậu.

    Sách Tấn lịch chí chép: Viêm-đế phân ra 8 tiết để bắt đầu công việc nhà nông.

    [19b] Đổng-Ba nói: <<Vua Phục-Hy tạo ra bát quái (8 quẻ) mỗi quẻ có 3 vạch (3 hào) để tượng-trưng 24 tiết khí (8x3=24).

    Thiên Nguyệt lịnh trong sách Lễ-ký có chú rằng: Chu-công chế ra giờ, định 24 khí, 72 hậu.

    Như vậy thì khí-hậu bắt đầu bày ra từ vua Phục-Hy và chế-định do Chu-công.

    Năm ngày là 1 hậu. Một tháng có 6 hậu. Năm lầu sáu là đủ 30 ngày.

    Ba hậu là 1 khí, tức 1 khí có 15 ngày.

    Phép định tiết khí ngày giờ:

    []

    Tiền cửu niên suy, hậu cửu niên thông.

    Cán thực chi xung khí tiếng đồng.

    Nhuận nguyệt tất định thiên trung khí.

    Thử pháp giáo nhân tối hữu công.

    Dịch nghĩa

    1. Chín năm trước suy tính thì thông hiểu được chín năm sau.

    2. Gốc thực cành xung, khí tiết đồng.

    3. Tháng nhuận tất nhiên định được khí trong trời.

    4. Phép này dạy người ta rất có công.

    Như năm kỷ-hợi ngày nhâm-tuất là tiết Lập-xuân, thì năm đinh-vị (9 năm sau) ngày giáp-thìn cũng là tiết Lập-xuân.

    Nhâm là thủy sinh giáp lmộc, là thực thần, thìn và tuất xung khắc nhau, đó là cán thực chi xung. Còn những tiết khác thì cứ phỏng theo đó mà tính.

    [20a] Phép định khí tiết thời khắc:

    []

    Kim niên Vũ-thủy, minh niên xuân.

    Thiên-can bất động, gia lưỡng thần.

    Dịch nghĩa

    1. Năm nay là tiết Vũ-thủy thì sang năm là tiết Lập-xuân.

    2. Không động gì đến thiên-can, chỉ gia thêm hai giờ.


    Tính 24 khí cũng phỏng theo phép này: []

    Thời gia tam khắc vạn niên linh.

    Dịch nghĩa

    Giờ thêm ba khắc, dẫu muôn năm cũng rất linh-nghiệm (không sai).

    Như năm nay tháng giêng ngày mùng 3 canh ngọ giờ tý. Một khắc đầu tiên là tiết vũ-thủy. Trừ ngày canh-ngọ không động đến thiên-can, thêm 2 giờ tì gặp tuất. Tức năm sau ngày canh-tuất là tiết Lập-xuân.

    Lại như 1 khắc đầu giờ tý là tiết Vũ-thủy, thì phải biết 3 khắc đầu tiên giờ tý là tiết Lập-xuân.

    Phép xem giờ khắc mặt trời mọc và lặn.

    Mặt trời mọc

    I.- Giờ dần

    Tiết Hạ-chí mọc giờ dần đúng 2 khắc.

    - Mang-chủng[1]

    - Tiểu-thử mọc giờ dần đúng 3 khắc.


    - Tiểu-mãn

    - Đại-thử mọc giờ dần đúng 4 khắc

    II.- giờ mão [20b].

    Tiết Lập-hạ

    - Lập-thu mọc giờ mão 1 khắc đầu.


    - Cốc-vũ

    - Xử-thử mọc giờ mão 2 khắc đầu.


    - Thanh-minh

    - Bạch-lộ mọc giờ mão 3 khắc đầu.


    - Xuân-phân

    - Thu-phân mọc giờ mão 1 khắc đầu.


    - Kinh-trập

    - Hàn-lộ mọc giờ mão đúng 1 khắc.


    - Vũ-thủy

    - Sương-giáng mọc giờ mão đúng 2 khắc.


    - Lập-xuân

    - Lập-đông mọc giờ mão đúng 3 khắc.


    - Đại-hàn

    - Tiểu-tuyết mọc giờ mão đúng 4 khắc.


    III.- Giờ thìn.

    Tiết Tiểu-hàn

    - Đại-tuyết mọc giờ thìn 2 khắc đầu


    - Đông-chí mọc giờ thìn 1 khắc đầu

    Mặt trời lặn

    IV.- giờ thân.

    Tiết Đông-chí lặn giờ thân đúng 2 khắc.


    - Tiểu-hàn

    - Đại-tuyết lặn giờ thân đúng 3 khắc.


    - Đại-hàn

    Tiểu-tuyết lặn giờ thân đúng 4 khắc.


    V.- Giờ dậu.

    Tiết Lập-đông

    - Lập-xuân lặn giờ dậu 1 khắc đầu.


    - Vũ-tuyết

    - Sương-giáng lặn giờ dậu 2 khắc đầu.


    - Kinh-trập

    - Hàn-lộ lặn giờ [21a] dậu 3 khắc đầu.


    - Xuân-phân

    - Thu-phân lặn giờ dậu 4 khắc đầu.


    - Thanh-minh

    - Bạch-lộ lặn giờ dậu đúng 1 khắc.


    - Cốc-vũ

    - Xử-thử lặn giờ dậu đúng 2 khắc.


    - Lập-hạ

    - Lập-thu lặn giờ dậu đúng 3 khắc.


    - Tiểu-mãn

    - Đại-thử lặn giờ dậu đúng 4 khắc.


    VI.- Giờ tuất.

    Tiết Mang-chủng[2]

    - Tiểu-thử lặn giờ tuất 2 khắc đầu.


    - Hạ-chí lặn giờ tuất 1 khắc đầu.




    Bí-quyết đoán khí tiết ngày đầu tháng sắp tới:

    []

    Nguyệt sóc nguyên lai tự cổ hữu.

    Tiền cửu tương lai dữ hậu cửu.

    Đại nguyệt ngũ can liên cửu chi.

    Tiểu nguyệt tứ can bát chi ngẫu.

    Lục lục chi niên tử-tế tư.

    Giáo quân tẩu tận kỷ Hàn-lộ.

    Tiện tố kim niên Lập-xuân số.

    Toán lai hữu bổn vô sai ngộ.

    Tứ thập thất niên tiền hữu nhận

    Nhuận tiền nhị nguyệt định kim phùng.

    Phân [21b] hài bất lậu chân tiêu tức

    Tận thị tiên-sinh chưởng ác trung.

    Dịch nghĩa

    1. Ngày mùng một vốn từ xưa đã có.

    2. Chín năm trước đem lại tính với chín năm sau.

    3. Tháng đủ thì tính theo năm can và chín chi.

    4. Tháng thiếu thì tính theo bốn can và 8 chi chẵn

    5. Năm sáu sáu suy nghĩ tử-tế.

    6. Dạy ông trải hết mấy tiết Hàn-lộ,

    7. Thì làm được số Lập-xuân năm nay.

    8. Tính ra có căn-bản không sai lầm.

    9. Bốn mươi bảy năm trước có tháng nhuận.

    10. Định năm nay phải gặp nhuận trước hai tháng.

    11. Giảm tăng xác thật ly hào cũng không sót.

    12. Đều ở trong bàn tay của ông.


    Giả như năm mậu-tý, tháng giêng là tháng thiếu, ngày mùng 1 là ngày ất-dậu, can ất đến can thứ tư là mậu, chi dậu đến chi thứ tám là thìn, 9 năm sau là năm bính-thân tháng giêng ngày mùng 1 là ngày mậu-thìn.

    Giả như năm mậu-tý, tháng 2 là tháng đủ ngày mùng 1 là ngày giáp-dần, can giáp đến can thứ năm là can mậu, chi dần đến chi thứ chín là chi tuất, năm sau là năm bính-thân tháng 2, ngày mùng 1 là ngày mậu-tuất.

    Còn những năm khác cũng phỏng theo đấy mà tính.

    Lại có bài bí-quyết rằng:

    []

    Chinh nguyệt sơ nhất thìn thuyết

    Cửu niên nhị nguyệt thập ngũ đồng.

    Nhị nguyệt sơ nhất thìn vị.

    Tức thị cửu niên nhị nguyệt trung.


    [1] Sách chép Mang-thực là sai, đúng là Mang-chủng.

    [2] Sách chép sai là Mang-thực, đúng là Mang-chủng.
  • Đang tải...