11.14 - linling (type done)

18/9/15
11.14 - linling (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-UjBFTnFWUTRMc0E/view

    :rose:
    ghi chú: dấu ... ở giữa bài trước chữ (lửa) là kí tự đặc biệt.


    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 2

    Dịch nghĩa

    Nói mùng một tháng giêng là ngày thìn.

    Ngày rằm tháng hai chín năm sau cũng đồng như vậy (cũng ngày thìn).

    Mùng một tháng hai là ngày thìn

    Tức là rằm tháng hai chín năm sau cũng là ngày thìn.

    Phép này rất đúng. Chỉ có trong tháng nhuận tiết khí nào ở ngày rằm thì dời lùi lại một ngày. Còn những tháng khac tương đối không sai.

    Luận về Lập-xuân.

    Đem ngày giờ và khắc tiết Hàn-lộ ở 26 năm [22a] về trước đối-chiếu với tiết Lập-xuân năm nay thì thấy ngày giờ và khắc không sai.

    Luận về tháng nhuận.

    Xem tháng nhuận 47 năm trước và thêm vào 2 tháng thì biết tháng nhuận năm nay. Như năm canh-thìn về trước nhuận tháng 8 thì đến năm bính-dần (47 năm sau) nhuận tháng 10.

    Sáu mươi năm là một hoa-giáp-tý chia làm đôi, từ giáp-tý ất-sửu thuộc kim đến nhâm-thìn quý-tỵ thuộc thủy cộng được 30 năm. Lại từ giáp-ngọ ất-vị thuộc kim đến nhâm-tuất quý-hợi thuộc thủy cũng là 30 năm.

    Chính cung đối cung thuộc kim rồi thuộc hỏa, thuộc hỏa rồi thuộc mộc đều đồng nhau.

    Về ý nghĩa lấy 60 năm trong 1 giáp-tý phối nạp vào âm, phần tiểu-chú ở sách Tứ thư đại toàn và chương Thiên thời địa lợi ở sách Mạnh tử có dẫn thuyết Tam xa nhất lãm. Thuyết này cũng chưa rõ-ràng minh bạch.

    Theo sách Thụy quế đường hạ lục chép: Âm luật chia:

    [22b] số 1 số 6 làm hành thủy

    _ 2 _ 7 __ __ hỏa

    _ 3 _ 8 __ __ mộc

    _ 4 _ 9 __ __ kim

    _ 5 _ 10 __ __ thổ

    Nhưng trong ngũ hành, chỉ có hành kim và hành mộc là có âm tự nhiên.

    Còn hành thủy hành hỏa và hành thở phải nhờ nhau rồi sau mới thành âm, bởi lẽ nước (thủy) nhờ đất (thổ), lửa (hỏa) nhờ nước (thủy), đất (thổ) nhờ lửa (hỏa).

    Cho nên âm kim là số 4 số 9

    __ mộc _ _ 3 _ 8

    __ thổ _ _ 5 _ 10

    __ thủy _ _ 1 _ 6

    __ hỏa _ _ 2 _ 7

    Giáp kỷ tý ngọ là số 9

    Ất canh sửu yị _ _ 8

    Binh tân dần thân _ _ 7

    Đinh nhâm mão dậu _ _ 6

    Mậu quý thìn tuất _ _ 5

    Tỵ hợi _ _ 4


    Giáp-tý ất-sửu là số 34, làm âm số 4 thuộc kim, cho nên gọi là kim.

    Mậu-thìn kỷ-tỵ là số 23, làm âm số 3 thuộc mộc, cho nên gọi là mộc.

    Canh-ngọ tân-vị là số 32, số 2 thuộc hỏa. Thổ lấy hỏa làm âm, cho nên gọi thổ.

    Giáp- [23a] thân, ất-dậu là số 30, số 10 thuộc thổ, thủy lấy thổ làm âm, cho nên gọi thủy.

    Mậu-tý kỷ-sửu là số 31, số 1 thuộc thủy, hỏa lấy thủy làm âm, cho nên gọi hỏa.

    Tất cả 60 năm trong hoa-giáp đều như thế. Đó là khởi đầu của phép nạp âm.

    Sáu mươi năm (60) trong một giáp-tý là lịch, nạp âm là luật.

    Địa-chi là phần phân biệt trong nạp âm.

    Mười hai động vật thuộc 12 địa chi.

    Thiên Sinh tiếu luận chép:

    1. Đinh-hỏa ở trên trời là sao, ở thân-thể là mắt, sinh ờ dậu, dứt ở tỵ. Tân kim sinh tý, ở thân thể là răng, cho nên con chuột, răng thì bén mà mắt ít sáng.

    2. Tân-kim ở trên trời là thái-âm (mặt trăng), canh-kim sinh ở tỵ, dứt ở tý, mộ ở sửu, cho nên con bò ít răng, thuộc âm cho nên có bốn móng.

    3. Canh-kim ở trên trời là sương [23b], ở thân-thể là da lông và xương, Kim sinh lớn ở tỵ, dứt ở dần, giáp lộc ở dần, ở thân-thể là móng, cho nên con cọp có năm móng, vuốt rất bén mà ngắn cổ.

    4. Kỷ-thổ ở trên trời là nguyên khí, ở thân-thể là môi, sinh ở dậu, bịnh ở mão, ất-mộc lộc vượng, kỷ-thổ bịnh tuyệt thuộc âm, cho nên con thỏ có bốn móng, tai thì dài mà môi khuyết.

    5. Quý-thủy ở trên trời là mưa, ở thân-thể là lỗ tai. Nhâm-thủy sinh ở thân, tử ở mão, mộ ở thìn, cho nên con rồng có năm móng, tai thì nhỏ, nghe thiếu kém.

    6. Nhâm-thủy ở trên trời là mây, ở thân-thể là chân, sinh ở thân, dứt ở tỵ, gặp canh-kim thì sinh ở lại, cho nên con rắn không có chân mà chạy giỏi. Bính-hỏa là lộc, đinh-hỏa ký vượng, ở thân-thể là lưỡi, cho nên con rắn có hai lưỡi.

    7. Giáp-mộc ở trên trời là sấm, ở lục-phủ là mật, ở thân-thể là móng tay, sinh [24a] ở hợi, tử ở ngọ, tý-lộc đến ngọ, ở thân-thể là mắt, cho nên con ngựa có dạ-nhãn1, không có mật, chân một móng.

    8. Ất-mộc ở trên trời là gió, ở ngũ-tạng là gan, giáp-mộc sinh ở hợi, tử ở ngọ, mộ ở vị, cho nên con dê ngẩng lên trông, không có tròng ở mắt, có bốn móng.


    1. Dạ-nhãn, đốm đen ở trên đầu gối con ngựa. Có dạ-nhãn, ngựa có thể chạy ban đêm.


    9. Kỷ-thổ ở tạng-phủ là tỳ. Mậu-thổ là vị (dạ dày), bại ở dậu, thân được dương-kim, vô tình nhờ khí, cho nên con khỉ không có thận và tỳ. Nhâm-thủy ưng về chân, sinh ở thân, cho nên con khỉ chạy giỏi, thuộc dương, cho nên có năm móng.

    10. Binh-hỏa ở dưới đất là lò lửa, sinh ở hợi, tử ở dậu. Đinh-hỏa sinh dậu, xung khắc với nước, bại ở dậu. Thủy (nước) chủ về thận, cho nên con gà có nội-thận mà không có ngoại-thận (hòn dái), lại không có tiểu-trường (ruột non).

    11. Mậu-thổ ở trên trời là sương, ở lục-phủ là vị (dạ dày). Kỷ-thổ ở tạng là tỳ. Canh-kim suy ở mậu-hỏa, mộ ở tuất, cho nên con chó chỉ có tiểu-trường (ruột non) mà không [24b] có tiểu đái. Nhâm-thủy đái khắc làm chân, cho nên con chó chạy giỏi.

    12. Ất-mộc là gân, sinh ở ngọ, tử ở hợi, âm mộc bị thương, cho nên con heo không có gân.

    Sách Dương-cốc mạn lục chép: Tý dần thìn ngọ thân tuất là thuộc dương cho nên thuộc vào số lẻ mà đặt tên. Con chuột có 5 ngón, con cọp có 5 vuốt, có rồng có 5 móng, con ngựa có 1 móng, con khỉ có 5 ngón, con chó có 5 ngón.

    Sửa mão tỵ vị dậu hợi thuộc âm, cho nên thuộc vào số chẵn mà đặt tên. Con bò có 4 móng, con thỏ có 2 móng, con rắn có 2 lưỡi, con dê có 4 móng, con gà có 4 móng, con heo có 4 ngón.

    Người theo học-thuyết Trung-quốc nói ngũ-hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (sắt, cây, nước, lửa, đất).

    Người theo học-thuyết Thiên-trúc (Ấn-độ) nói tứ-hành là địa, thủy, hỏa, phong (đất, nước, lửa, gió).

    Người theo học thuyết Âu-Tây nói tứ-hành là hỏa, khí, thủy, thổ (lửa, hơi, nước, đất).

    Cử ra ngũ-hành là nói đồ dùng hằng ngày của người ta.

    Cử ra tứ-hành là nói toàn [25a] thể các thức đại dụng.

    Kim (sắt) và mộc (cây) đều sinh ở thổ (đất) mà gió tức là hơi, về lý vốn không khác nhau.

    Trong ngũ-hành, kim sinh thủy (sắt sinh ra nước). Có thuyết nói kim là mẹ khí, ở trên trời là tinh-tú, ở dưới đất là đá. Mây từ núi đá phát ra. Mưa từ tinh-tú rơi xuống.

    Cho nên hễ tinh-tú dao-động thì xem về gió về mưa. Hễ đá tảng ướt tươm thì xem về mưa về nước.

    Tạ-Tại-Hàng đời nhà Minh nói: <<Thể sắt rất cứng mà có thể nấu chảy thành chất lỏng, đó là ứng với ý nghĩa kim sinh thủy (sắt sinh ra nước)>>.

    Tôi trộm nghĩ: Trời có bốn mùa. Mùa thu chuyển sang mùa đông. Người ta có ngũ-tạng và lục-phủ. Phổi chuyển sinh thận. Kim sinh thủy (sắt sinh ra nước) đúng là hợp với ý ấy.

    Lửa vốn vô hình mà có thần, thần truyền sang củi tùy người ta đốt.

    Văn-tự (chữ) vốn [25b] vô hình mà có thần, thần ấy truyền sang giấy tùy người ta viết hay vẽ.

    Lúc chưa đốt hay viết vẽ, thì ý của lửa hay ý của văn-tự không chỗ nào là không có, đã vi-diệu và có thần. Cho nên người xưa về văn-chương lấy tượng ở lửa.

    Kinh Dịch có câu: Vạn vật hiện hồ ly (vạn vật hiện rõ-ràng ở quẻ-ly. Ly là phương nam, là quẻ về hành hỏa. Trong kinh Dịch những quẻ nào có thể ly … (là lửa) phần nhiều là văn-minh.

    Kim (sắt) sợ hỏa (lửa) khắc, nếu không có hỏa (lửa) thì kim (sắt) không lấy gì để thành hữu-dụng.

    Thổ (đất) sợ mộc (cây) khắc, nếu không có mộc (cây) thì thổ (đất) không lấy gì để thành-công.

    Mộc (cây) sợ kim (sắt) khắc, nếu không có kim (sắt) thì mộc (cây) không lấy gì để thành tài-liệu hữu-dụng.

    Ba điều ấy (về kim, thổ, mộc) đều có ý nhờ vả nhau.

    Thổ (đất) xung-khắc với thủy (nước) là chận ngăn được thế trôi chảy của nước.

    Thủy (nước) xung-khắc với hỏa (lửa) là ngăn trở sức thiêu đốt của lửa.

    Hai điều ấy (về thổ, thủy) đều có ý kềm chế nhau.

    Nhờ vả nhau để giúp đỡ vào chỗ bất cập (thiếu kém khả-năng).

    Kềm chế nhau để trừ bớt phần thái quá (dư thừa khả-năng).

    Không thái quá và không bất cập thì Hóa-công [26a] thật đã toàn vẹn.

    Tính của hỏa (lửa) là động, tượng của hỏa (lửa) là ở trong thì tối ở ngoài thì sáng.

    Người nào hấp-thụ được nhiều khi hỏa thì nông-nổi nóng-nảy, cho nên phần uẩn-súc không lâu dài.

    Người nào hấp-thụ được nhiều khí thủy thì thường thâm-trầm dày-dặn, cho nên trí lự có thừa.

    Văn-Tử nói: <<Đạo của thủy (nước) thì lớn-lao không thể cùng, thâm sâu không thể dò. Vạn vật không có nước thì không sống. Trăm sự không có nước thì không thành. Nước ở trên trời là mưa là sương lộ, ở dưới đất là ao là đầm.

    Hàn thi có câu: Núi là nơi mà hàng vạn người ngưỡng tròng, là nơi sinh ra các tài-liệu hữu-dụng, là nơi chứa giấu những của báu, là nơi các loài chim-chóc tụ tập, là nơi các loài thú ẩn náu, là nói đã nuôi dưỡng muôn loài mà không chán.

    Sách Ngoại-thư của hai anh em họ Trình là Trình-Di Trình-Hiệu chép: Nước giếng nước suối khác nhau hoàn-toàn, mạch nước không đồng nhau.

    Ông Bá-Thuần (tên tự của Trình-Hiệu) lúc ở Phù-câu, nước đều mặn, chỉ có nơi tăng-xá thì nước hơi ngọt, cho nên không cho đàn bà đến múc nước, bèn cấm ngặt. Đã bị cấm ngặt [26b] một huyện lại không có nước, người ta bèn xem xét đầu mạch nước đào một cái giếng. Nước giếng ấy có mùi khác. Đó là nước ở mạch dưới đất chảy ra.

    Lại như ở thành Tương-dương, nước giếng ở trong chùa thì mặn, nước giếng ở ngoài chùa thì ngọt.

    Một hôm thấy ở chân tường có một lằn nứt. Do đó mới thử cho người đào một cái giếng gần tường thành, nước cũng ngọt.

    Do đó đào giếng phải xem mạch nước ở đất như thế nào.

    Lại có nhiều người bị bịnh bại-xuột vì khí đất bị ngăn trệ. Thường có người lấy đồ chứa trữ nước giếng nhiều chỗ trong châu, thì thấy những nước ấy đều nặng và đục cho đến đóng cặn đặc như keo. Uống nước ấy làm sao mà không bị bại-xuột được?

    Thuật chữa trị bịnh ấy ở đấy là khai đào nhiều ngòi lạch cho khí đất được bài-tiết ra ngoài thì mới bớt được.

    Khuất-Đại-Quân nói: <<Giếng do mạch nước từ xa chảy đến thì tốt nhất. Suối tốt phần nhiều là ở một bên đô-thị [27a] hay đường cái, đất ở đấy đã phẳng lại hòa, gió đông-nam đã thưa lại sạch, rất cần yếu cho bếp núc muôn nhà. Uống nước đó không bịnh.

    Sách Quảng-đông tân ngữ của Khuất-Đại-Quân nói: Nước biển trong mùa thu thì mặn nhiều, trong mùa xuân mùa hạ thì lạt nhiều. Nước biển càng mặn thì càng trong thấy đáy. Có câu ngạn-ngữ nói: <<Nước biển mặn thì trong, lạt thì đục>>.

    Khuất-Đại-Quân nói: <<Người ở tỉnh Quảng-đông rong chơi ở biển vào tháng 5, có gió nồm rất mạnh. Thuyền mới phóng ra biển, từ bờ biển thấy nước chỗ gần thì thấp, chỗ xa thì cao như ngàn trùng mây núi kéo lên tiếp với trời xanh.

    Mỗi khi trông thấy khí vàng bốc lên thì biết nơi đó có đất nước và người ta ở, trong thấy khí trắng bốc lên thì biết nơi đó có núi non, trông thấy khí đen bốc lên thì biết nơi đó có nước.

    Đấy gọi là vọng dương (trông biển).

    [27b] Nói về con nước ở biển buổi sáng và buổi tối lên xuống thì chỉ có bài tựa ở sách Hải triều đồ của Dư-Tương-Công là rõ-ràng nhất.

    Thủy-triều lên xuống đều do mặt trăng.

    Mặt trăng đến phương mão dậu thì thủy-triều dâng lên ở phía đông phía tây.

    Mặt trăng đến phương tý ngọ thì thủy-triều dâng lên ở phía nam phía bắc.

    Về ngày và đêm, hễ mặt trời đi một độ thì mặt trăng đi 13 độ có lẻ. Cho nên thời-kỳ mặt trăng lặn ở phương tây thường chậm hơn mặt trời 3 khắc có lẻ. Tin-tức về thủy-triều lên đều như thế.

    Từ mùng một đến ngày rằm con nước thường chậm một đêm. Từ ngày rằm đến ngày mùng một con nước thường chậm một ngày.

    Trước và sau ngày mùng một và ngày rằm mặt trăng đi mau hơn, cho nên ba ngày trước cuối tháng thì con nước đương thế lớn lên.

    Ba ngày sau ngày mùng một con nước đương thế to-tát.

    Trong ngày rằm con nước cũng như thế.

    Trong thời trăng lưỡi liềm, mặt trăng đi hơi chậm cho nên con nước lên xuống hơi kém.