11.15 - vqsvietnam (type done)

21/12/15
11.15 - vqsvietnam (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-NkMtSk1jbjY0eUU/view?usp=sharing
    :rose:

    #11.11.15

    Trong một tháng con nước lên mạnh sau ngày mùng một và ngày rằm.

    Trong một năm con nước lên mạnh vào [28a] giữa mùa xuân mùa thu.

    Con nước ban ngày trong mùa hạ thường to.

    Con nước ban đêm trong mùa thu mùa đông thường to, bởi lẽ một năm có mùa xuân mùa thu cũng như một tháng có ngày mùng một ngày rằm. Đó là con số thường của trời đất.

    Sự lên xuống của con nước quan-hệ theo mặt trăng tới hay lui, chớ không phải do đất nổi hay chìm.

    Sách Tựu nhật lục của nhà nho đời Nguyên đã đính-chánh những điều bàn luận về con nước thủy-triều với những lý-thuyết rất rõ-ràng.

    Sách ấy nói: Thuyết con nước thủy-triều ở sông Tiền-đường trước sau đã ghi chép không nhất trí.

    Sách Sơn-hải kinh cho đó là mức độ ra vào hang của loài cá du[1] ở biển.

    Sách nhà Phật cho đó là sự biến hóa của con Thần-long (rồng thần).

    Sách Triều-ký của Cát-Hồng cho đó là nước sông Thiên-hà tung vọt lên.

    Sách Động chân chính nhất kinh nói là mặt trăng đi khắp một vòng trời thì con nước thủy-triều ứng theo.

    Sách Luận-hành của Vương-Sung nói: Nước là huyết mạch của đất tùy theo khí tới lui mà thành con nước thủy-triều.

    Sách Hải-đào chí của Đậu-Thúc-Mông cho rằng con nước thủy-triều lúc sớm tối dậy sóng cồn là tất phải chờ mặt trăng.

    [28b] Trăng với biển đun đẩy nhau. Biển với trăng chiếu dọi nhau.

    Sách Hải-triều luận của Đông-hải Ngư ông chép: Đất nổi lên mặt nước thông với đại hải, theo khí mà ra vào lên xuống. Đất trầm xuống thì nước biển xanh chảy vào sông, gọi là nước mai (triêu). Đất nổi lên thì nước ở sông lạch chảy về biển xanh, gọi là nước hôm (tịch).

    Sông Chiết-giang bắt nguồn rất gần, hễ nước sông ít thì nước biển nhiều cho nên con nước thủy-triều dâng lên rất to.

    Bài Chiết luận (luận về sông Chiết-giang) của Phan-Động có nói: Cửa biển có hai trái núi, núi Khám và núi Sinh, ở giáp bờ biển con nước thủy-triều lúc bắt đầu dâng đến cũng mênh-mông, khi tràn gần đến hai núi ấy gặp bờ hẹp và thế gấp thì tung vọt lên thành sóng cồn.

    Sách Tùng-ngữ của Diêu-Hợp-Uy chép theo tấm bia đá ở Cối-kê đại khái nói: Nguyên khí thở ra thở vào. Trời tùy theo khí mà dâng tràn lên và qua lại. Con nước thủy-triều cũng theo trời mà tới lui.

    Sông Chiết-giang, phía nam từ huyện Toản-phòng, phía bắc từ huyện Gia-hưng giáp với núi, mà nước thì rộng mênh-mông, ở phía dưới cái đầm cát suốt từ nam [29a] đến bắc, khi nước đầy thì ngăn được sóng to, khi rút thì chận được thế con nước thủy-triều, chớ không phải vì nước sông cạn sát mà khiến ra như thế.

    Sách Vận-lộc mạn sao[2] của Triệu-Cảnh-An sao lại sách Sứ Cao-ly lục của Từ-Thúc-Minh có chép: Trời bao lấy nước, nước nâng lấy đất mà nguyên-khí thì lên xuống trong cõi thái-hư (khoảng không-gian). Đất chịu sức nước mà tự giữ vững, lại cùng với nguyên-khí lên xuống mà cùng cất lên hay đè xuống với nhau mà người ta không hay biết.

    Trong những lời bàn nghị về con nước thủy-triều thì chỉ có luận thế của Phan-Động khá hợp lý. Nhưng luận-thuyết này chỉ nói: “Thế bức-bách mà làm ra sóng cồn”.

    Luận-thuyết của Đông-hải Ngư-ông nói: Nguồn gần hay xa mà phân ra con nước thủy-triều to hay nhỏ. Lý-luận cũng giống nhau với của Phan-Động. Nhưng luận-thuyết ấy nói: “Đất nổi ở trong nước”. Lý-luận ấy lại gián-đoạn, không bằng như của trong sách Sứ Cao-ly lục do Từ-Minh-Thúc viết: Trời bao lấy nước, nước nâng lấy đất mà nguyên-khí thì lên xuống.

    Luận-thuyết của Đậu-Thúc-Mông nói: Sóng cồn nổi lên vì mặt trăng. Luận-thuyết này thật hợp với nghị-luận ở bia đá ở Cối- [29b] và của Triệu-Cảnh-An.

    Vả lại mặt trăng là âm, thủy-triều là nước đều ứng với công-dụng của quẻ Khảm trong kinh Dịch.

    Cho nên thiên Thuyết-quái trong kinh Dịch nói: Khảm là nước, là mặt trăng. Do đó có thể thấy được lẽ ấy.

    Cho nên luận-thuyết của ba nhà kể trên (Từ-Thúc-Minh, Đậu-Thúc-Mông và Triệu-Cảnh-An) là đắc lý.

    Khuất-Đại-Quân đời nhà Minh lại có luận-thuyết cũng hợp lý, tôi xin biên chung vào đây:

    Trong bức Hà-đồ, hành thủy (nước) được đặt ở phương bắc. Phương bắc là bờ của nước. Con nước thủy triều là khi mở ra. Hơi thở của trời đất hít vào và thở ra, mà con nước thủy-triều cũng noi theo mà dâng lên và rút xuống.

    Khi mà trương lên ở mặt đất thì nước từ phương bắc chảy về nam, đó là con nước lớn dâng lên. Dâng lên cùng cực thì nước đầy tràn ở phương nam đó là con nước đứng (không lên không xuống).

    Dâng lên cùng cực thì rút xuống, nước chảy về phương bắc, đó là con nước ròng.

    Này, chỉ vì khi hít vào và thở ra không dừng cho nên con nước thủy-triều có lớn có ròng đúng theo thời-kỳ không bao giờ sai.

    Còn như con nước thủy-triều có lớn có nhỏ, có sớm, có trễ khác nhau [30a] là do ở giờ-giấc thời-tiết có giao biến, khi có thịnh suy mà động-cơ ấy đều ứng hợp với mặt trăng. Cho nên nói: “Hải triều ứng nguyệt” là con nước thủy-triều ứng hợp với mặt trăng.



    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    QUYỂN 2 DỨT








    [1a] VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    QUYỂN 3


    3. Khu – vũ (93 điều)



    Sách Luận-hành chép: Trên trời có mặt trời mặt trăng và tinh-tú, gọi đó là văn. Dưới đất có núi sông gò hốc, gọi đó là lý.

    Tôi nói: “Địa-lý ứng với thiên-văn ở trên, cho nên các bậc vương dựng kinh-đô ắt chọn ở dưới núi có danh tiếng hay ở trên sông to.

    Như sao Tử-vi là ngôi vua cao nhất, bên tả tiếp với sông Ngâ, cho nên kinh-đô Trường-An và Lạc-dương đều chiếm những chỗ cao ở núi Long-thủ và núi Bắc-mang hay những thắng cảnh ở sông Bá, sông Sản, sông Giản và sông Triền.

    Các vua xưa kinh-lý thiên-hạ, định phong cương (bờ cõi), phân biệt các thổ nghi, để tề chỉnh chính-trị, sửa chữa giáo-hóa, chỉnh trị muôn dân, dẹp yên bốn biển, với quy-mô lớn-lao, tiết-mục tường-tận rõ ràng [1b] có thể trông thấy được.

    Vua Vũ nhà Hạ phân biệt chín châu, định núi sông, phân ranh-giới, điều-lý sản-vật, phân biệt thuế-khóa.

    Theo sách Chu-lễ, chức Tư-hiểm thuộc quyền của Hạ-quan coi giữ bản-đồ của chín châu; biết đầy đủ những chỗ hiểm yếu của núi rừng sông đầm, thông đạt đường lộ.

    Chức Tụng-huấn thuộc quyền của Địa-quan coi giữ sổ-sách ghi chép của bốn phương để tuyên-cáo việc quan, để biết phong-tục ở địa-phương.

    Chức Tư-đồ coi giữ bản-đồ đất-đai, biết đầy-đủ lãnh-vực của chín châu, và số lượng diện-tích (gồm có bề ngang bề dọc)[3] của chín châu, xét định danh-xưng và dáng-mạo của núi rừng sông đầm gò đống bến trũng, đồng cao ruộng thấp.

    Người đời xưa thật tinh-tế cẩn-thận, phàm việc gì cũng biên chép vào sổ sách để phòng kê-cứu. Việc to việc nhỏ đều ghi, việc xa việc gần không sót, cho nên không cần ra khỏi cửa, chỉ ngổi ở nhà mà biết được việc ngoài muôn dặm.

    Những công-dụng lớn-lao về việc sửa trị nước nhà không có điều gì là không do ở đấy.

    Nhà Hán dựng lên, Tiêu-Hà thu lấy những bản-đồ và thư-sách của nhà Tần.

    Hán Cao-tổ được những đồ-thư ấy mà biết đầy-đủ số nhà cửa số dân-chúng nhiều hay ít mạnh hay yếu và những nơi hiểm-yếu trong thiên-hạ.

    [2a] Từ khi sách Hán-thư do họ Ban được soạn ra có phần Địa-lý chí thì quận-quốc, núi sông, dân vật, phong-tục, đường sá, hộ số mọi thứ đều được ghi chép đầy-đủ.

    Về sau những nhà viết sử đời nào cũng có trứ thuật (làm sách) đều phỏng theo khuôn phép ấy chia thành điều mục mà trình-bày xem rất rõ-ràng.

    Các bậc đế-vương xem những sách ấy thì đủ kiên-thức để nâng cao chí hướng đi tuần thú phương xa.

    Các bậc công-khanh (quan to) xem những sách ấy thì đủ kiến thức để giúp đỡ việc chính-trị.

    Các bậc sĩ đại phu khảo-cứu những sách ấy thì đủ kiến-thức để trở thành người quân-tử bác-vật nghe nhiều thấy rộng mà trong tương-lai cũng có thể góp phần bàn nghị khi bày hình thế núi-non bằng gạo[4] hay vẽ bản-đồ dưới đất về chiến-trận. Thì há rằng những kẻ chỉ phân biệt được một vật, trí mưu làm được một việc lại có thể sánh cùng đồng hạng mà nói bàn được hay sao?

    Sách Cửu châu địa vực đồ luận của Bùi-Tú đời Tấn cho rằng địa-đồ có sáu thể:

    1. Phân suất để phân biệt mức độ diện-tích của đất đai.

    2. Chuẩn vọng để chính-xác địa-thế cuộc đất này cuộc đất nọ.

    3. [2b] Đạo lý[5] để định số dặm đường đi đến.

    4. Cao hạ (cao thấp).

    5. Phương tà (vuông méo).

    6. Vu trực (cong thẳng).

    Địa-đồ phải theo thế đất mà làm ra để so-sánh chỗ bằng-phẳng với nơi hiểm trở.

    Lấy sáu thể này tham-nghiệm mà khảo cứu, tuy có núi cao biển cả cách trở, cõi riêng phương lạ xa-xôi, lên xuống quanh co khác lạ đều có thể căn-cứ vào đấy mà quyết-định.

    Trâu-Tử nói: “Trung-quốc chiếm một trong 81 phần đất trong thiên-hạ. Trung-quốc được gọi là Xích-huyện thần-châu. Trong Xích-huyện thần-châu tự nhiên đã có chín châu, đó là chín châu theo thứ-tự lớn nhỏ của vua Vũ nhà Hạ[6]. Ngoài Trung-quốc, như Xích-huyện thần-châu có đến chín cái. Cho nên gọi là chín châu. Những châu này không được kể vào số chín châu của Trung-quốc[7].







    [1] Cá du, loài cá biển không vảy.

    [2] Vân-lộc mạn sao, có 15 quyển do Triệu-Ngạn-Vệ tự là Cảnh-An soạn ra.

    [3] Quảng luân, đường đông-tây là quảng, đường nam-bắc là luân, ý nói diện-tích có chiều ngang chiều dọc.

    [4] Tụ mễ vi sơn, Mã-Viện đi đánh Ngỗi-Ngao lấy gạo bày hình-thế núi-non, mưu tính thế-trận tấn-công cho vua Quang-vũ nhà Hán xem. Vua bảo: “Giặc ở tầm mắt của ta rồi”.

    [5] Chỗ này sách chép đạo lý [][] là vô nghĩa. Ở đây đạo lý [][] là dặm đường mới hợp lý.

    [6] Chín châu. Vua Vũ nhà Hạ đặt ra chín châu:

    1. Ký-châu 2. Duyên-châu

    3. Thanh-châu 4. Từ-châu

    5. Dương-châu 6. Kinh-châu

    7. Dự-châu 8. Lương-châu

    9. Ung-châu

    [7] Nguyên-tác chép sai ở đoạn này. Câu này ở Mạnh-Tử Tuân khanh truyện trong sách Sử-ký như sau: Trung-quốc danh viết Xích-huyện thần-châu. Xích-huyện thần-châu nội, tự hữu cửu châu, Vũ chi tự cửu châu thị dã. Bất đắc vi châu số, Trung-quốc ngoại như Xích-huyện thần-châu giả cửu. Nãi sở vị cửu châu dã.
  • Đang tải...