11.16 - HueChi (type done)

17/9/15
11.16 - HueChi (type done)
  • Có biển nhỏ bao bọc như giữa một khu đấy là một châu. Có như thế ấy được tất cả chín châu, lại có biển to bao bọc ở ngoài nữa, đấy là chỗ trời đất [3a] giáp nhau.

    Thuyết lúc này mới xuất hiện giống như hoang đường.

    Nay khảo xét những sáchĐịa-lý chí, sáchTứ duệ liệt truyệntrongNhị thập thất sử[1], sáchPhật quốc ký, sáchSứ Cao-ly lục, sáchSứ Lưu-cầu lục, sáchNguyên chinh Tây-vực ký, sáchChân-lạp phong thổ ký, sáchHạ tây dương kýcủa Trịnh-Hòa đời Minh, sáchNhật-bổn ký, sáchTây dương khôn dư đồ thuyếtthì biết trong khoảng trời đất chiều đông-tây chiều nam-bắc là vô cùng vô tận.

    Ranh-giới giữa hai nước gọi là cương.

    Theo sách Chu-lễ, quan Đại Tư-đồ[2] đặt ra cương-giới đất kinh-kỳ và đào hào đắp đất làm ranh-giới.

    Sách này có chú: Câu là đào đất làm hào để ngăn trở.Phong là đắp đất làm ranh-giới.

    Thiệu-Tín-Thần[3] cai-trị đất Nam-dương, khai thông hào rãnh, lập đập nước, đặt điều-ước phân-phối đồng đều nước cho dân, [3b] khắc đá dựng ở bờ ruộng đề phòng việc phân-tranh. Đó là chính-sách hay đẹp, người làm quan-lại phải hiểu biết.

    Sách Phong tục thông chép: Đường lộ ở đồng ruộng theo chiều nam-bắc gọi là thiên, theo chiều đông-tây gọi là mạch.

    Sách Nhĩ-nhã chép:

    Châu là chỗ đất có thể ở được giữa vùng nước.

    Chử là châu nhỏ.

    Chỉ là chử nhỏ.

    Ngạn là bờ nước ở hai bên.

    Hữ là đất ở hai bên bờ (nhai).

    Áo là bờ cong.

    My là chỗ cỏ và nước lẫn lộn.

    Nhuế là đường nước quanh co.

    Lương là cái đập đá chặn dòng nước.

    Đường là đắp đất ngăn nước.

    Phần là bời đê to.

    Diễn là cái đầm rộng.

    Cao là cái đầm cong.

    Bi là cái bờ chắn nước.

    Đàm là chỗ nước sâu.

    Lại là chỗ nước chảy trên cát.

    Xuyên là dòng nước lưu-thông.

    Trạch là cái chầm, chỗ nước đọng lại.

    Khê là khe, chỗ nước tuôn xuống.

    Cốc là hốc, chỗ nước đổ xuống khe.

    Sách ấy chú rằng:

    Cốc là hốc, đường nước [4a] chảy thông giữa hai trái núi

    Giản là chỗ núi giáp nước.

    Giản là đường nước giữa hai trái núi.

    Sách Phong thổ ký[4] chép:

    Phố là vùng nước to có cái miệng nhỏ chảy thông ra chỗ khác

    Nham là nhai, là bờ núi cao.

    Nhai là bờ núi.

    Phó-nham là nơi ông Phó-Duyệt đời nhà Ân làm nhà ở ẩn.

    Ông Lữ-Ôn đời nhà Đường có bài minh[5] về ông Phó-Duyệt như sau:

    1. Hách hách Thang đức,

    2. Như hỏa bất diệt.

    3. Thao thao Thương tộ,

    4. Như hải bất kiệt.

    5. Phát tường bá khí.

    6. Thế tác thánh triết.

    7. Quốc đãn Vũ-Đinh.

    8. Dã sinh Phó-Duyệt.

    9. Duyệt thủy tư mỹ.

    10. Vũ-Đinh tức tộ.

    11. Đức thông thần giao,

    12. Hốt mộng nhi ngộ,

    13. Nhược Đế đạo ngã,

    14. Kỳ vu hạo tố.

    15. Hữu vô chi gian,

    16. Giải cấu tương ngộ.


    17. Tiêu y nhi khởi,

    18. Viên đắc kỳ nhân.

    19. Mạo phù tâm khế,

    20. Như cựu quân thần.

    21. Long phi tại thiên.

    22. Sơn xuyên xuất vân,

    23. Cảm ứng tự trí.

    24. Kỳ gian vô nhân?


    25. Xá trúc Phó-Nham,

    26. Thoát thân bằng thăng.

    27. Tác lâm thì hòa.

    28. Phấn tiếp xuyên [4b] trình.

    29. Kim tại ngô lệ

    30. Mộc tùng ngô thằng.

    31. Quân hà ngôn tai?

    32. Ân đạo trung hưng.


    33. Nguyên, Khải phan long,

    34. Vi Thuấn thục hài?

    35. A-Hành can Thang,

    36. Bão đỉnh bồi hồi.

    37. Hội hợp chi tế,

    38. Quyết duy gian tai!

    39. Hà như mông trung,

    40. Thiên thụ thần khai.


    41. Duy hiền thị đăng.

    42. Đạo quý đặc đạt.

    43. Phỉ thứ vật dụng,

    44. Tài kỷ ủng át.

    45. Cao-tông đắc Duyệt,

    46. Nãi tại hoảng hốt.

    47. Yết minh ly quang,

    48. Vạn cổ bất một

    Dịch nghĩa

    1. Đức của vua Thang[6] rực rỡ,

    2. Như lửa cháy không tắt.

    3. Phúc nhà Thương cuồn cuộn.

    4. Như biển cả không dứt.

    5. Phát hiện điềm lành, gieo rắc khí hòa.

    6. Đời nào cũng có vua sáng tôi hiền.

    7. Quốc-gia sinh ra Vũ-Đinh[7]

    8. Ông Phó-Duyệt là sinh ra ở đồng hoang.


    9. Thưở trước ông Phó-Duyệt bị tù khổ sai.

    10. Vua Vũ-Đinh nhà Ân lên ngôi.

    11. Đức huệ thông ứng, tinh-thần giao cảm,

    12. Chợt chiêm-bao rồi tỉnh dậy,

    13. Như có Thượng-Đế dẫn đường cho ta,

    14. Mong mở-mang lại nghiệp cũ.

    15. Lúc mơ-màng trong cảnh thực hư,

    16. Vua Vũ-Đinh chiêm-bao thấy gặp ông Phó-Duyệt


    17. Vua dậy sớm mặc áo đi tìm,

    18. Thì được người gặp trong mộng.

    19. Hình dáng ông Phó-Duyệt phù hợp với người trong mơ, tâm tình thì đầu hợp nhau,

    20. Như vua tôi cũ từ xưa.

    21. Lúc ấy rồng bay lên trời, vua lên ngôi.

    22. Sông núi bốc mây,

    23. Trời đất cảm-ứng mà đưa đến như thế,

    24. Trong khoảng ấy lại không có nguyên-nhân hay sao?


    25. Ông Phó-Duyệt bỏ công việc đắp tường ở Phó-Nham,

    26. Như con chim bằng thoát thân bay vút lên.

    27. Mưa dầm, mùa-màng được thuận hòa.

    28. Phấn-chấn mà chèo trên thủy trình trên sông.

    29. Sắt thì đã có đá mài của ta[8].

    30. Gỗ thì đã theo dây mực của ta[9].

    31. Vua sao cần phải dạy bảo điều gì nữa?

    32. Đạo nhà Ân được trung-hưng.


    33. Như tám kẻ bề tôi giỏi[10] và tám kẻ bề tôi hòa[11] đều vin theo chúa[12] mà lập công danh.

    34. Nếu không phải có ông Thuấn thì ngôi của vua Nghiêu về ai cho hợp?

    35. Ông A-Hành (tức Y-Doãn) cầu vua Thành-Thang trong dụng.

    36. Đã ôm vạc mang thớt làm bếp mà bồi-hồi.

    37. Trong lúc vua tôi gặp nhau,

    38. Cũng khó-khăn thay![13]

    39. Sao bằng trong giấc mộng, vua Vũ-Đinh đã gặp ông Phó-Duyệt.

    40. Trời dạy bảo cho, thần mở-mang cho.


    41. Được tôi giỏi thì phải dùng mau.

    42. Đạo quý ở chỗ được đặc-biệt thành đạt.

    43. Không theo thứ-tự cất nhắc lên thì không được vua dùng,

    44. Thì người có tài bị ngăn chận.

    45. Vua Cao-tông được ông Phó-Duyệt,

    46. Là ở trong giấc mộng mơ-hồ.

    47. Bài minh này phô bày điều rạng-rỡ,

    48. Vạn cổ vẫn còn (không mất).

    Sách Tam-Tần chép: Sông Hoàng-hà chảy xuống Long-môn, cuồn cuộn mau như tên bắn. Mỗi năm trong khoảng cuối mùa xuân, có giống cá chép vàng lội ngược dòng mà lên. Con chép nào lội lên được thì hóa thành rồng.

    Theo sách Sử-ký, Trương-Lương đưa tiễn Hán-vương đến Bao-trung, bảo đốt mất đường sạn-đạo[14]. Bao-trung tức là Tà-cốc.

    [5a] Xưa có sạn-các[15] 2.989 gian và bản-các[16] 2.992 gian. Số ấy trải qua các đời có tăng giảm không nhất trí.

    Sách Thông-giám[17] chú: Theo chế-độ nhà Đường,

    Hành-trình đường bộ

    - Ngựa đi 1 ngày 70 dặm

    - Đi bộ và cưỡi lừa 1 ngày 50 dặm

    - Đi xe 1 ngày 30 dặm

    Hành-trình đường thủy

    - Thuyền chở nặng đi ngược sông Hoàng-hà 1 ngày 30 dặm, đi ngược trên sông Trường-giang 1 ngày 40 dặm, đi ngược trên các sông khác 1 ngày 45 dặm.

    - Thuyền không đi ngược trên sông Hoàng-hà 1 ngày 40 dặm, đi ngược trên sông Trường-giang 1 ngày 50 dặm, đi ngược trên các sông khác 1 ngày 60 dặm.

    - Thuyền nhẹ hay nặng đi xuôi ven theo dòng sông thì đồng một quy-chế, đi xuôi theo sông Hoàng-hà 1 ngày 150 dặm, đi xuôi theo sông Trường-giang 1 ngày hơn 100 dặm, đi xuôi trên các sông khác 1 ngày 70 dặm.

    Thiên Địa-lý chí trong Đường thư chép: Trong mười đạo (khu-vực hành-chánh), ở:

    Đạo Quang-trung có 134 cửa quan,

    Đạo Quan-nội -- 31 cửa quan,

    Đạo Hà-nam -- 15 cửa quan,

    Đạo Hà-đông -- 33 cửa quan,

    Đạo Hà-bắc -- 24 cửa quan,

    [5b]Đạo Sơn-nam -- 5 cửa quan,

    Đạo Hoài-nam -- 12 cửa quan,

    Đạo Giang-nam -- 1 cửa quan,

    Đạo Kiếm-nam -- 12 cửa quan.

    Quản-Tử nói:”Phương-hướng của một địa-vực, nếu bốn góc không được xét định, thì đất ấy mất là tất nhiên:

    Đông-bắc là góc cấn,

    Đông-nam là góc tốn,

    Tây-bắc là góc kiền,

    Tây-nam là góc khôn

    Sách Loại-thư chép: Đất đồng-bằng của nhà Chu ở phía nam núi Kỳ, từ phía đông ngang suốt phía nam, đất mầu-mỡ




    [1] Nhị thập nhất sử, 21 bộ sử Trung-quốc gồm có 13 bộ sử đời Đường, 4 bộ sử đời Tống, 4 bộ sử đời Minh.

    [2] Nguyên-văn trong Chu-lễ: Chu-lễ Địa-quan Đại Tư-đồ. Sách này chép thiếu chữ đồ

    [3] Thiệu-Tín-Thần, người đất Thọ-xuân đời Hán, tự là Ông-Khanh, làm Thái-thú ở Linh-lăng, Nam-dương, là người siêng-cần có phương lược thích làm việc mưu lợi cho dân để dân được giàu có, dân kính nên gọi ông là Thiệu-phụ (Từ-hải)

    [4] Phong thổ ký, sách do Chu-Xử đời Tần soạn

    [5] Minh, một thể văn thường thấy ghi khắc trên vạc trên mâm, như đỉnh minh, bàn minh.

    [6] Thang, Vua Thành-Thang nhà Thương

    [7] Vũ-Đinh, tức vua Cao-Tông nhà Ân, có Phó-Duyệt làm tướng, quốc-gia đại trị, ở ngôi được 59 năm

    [8] 9 Hai câu này ý nói có bề tôi giỏi thì mọi việc được thành công.



    [10] Bát nguyên (nguyên là giỏi), tám kẻ bề tôi giỏi của vua Cao-Tân thị

    [11] Bát khải (khải là hòa), tám kẻ bề tôi hòa của vua Cao-Dương thị.

    [12] Phàn long phụ phụng, vịn rồng níu phụng, nói kẻ bề tôi vin níu theo vua mà lập công danh.

    [13] Câu này ý nói vua hiền tôi giỏi gặp nhau rất khó-khăn, không như trường-hợp vua Vũ-Đinh gặp ông Phó-Duyệt rất dễ dàng.

    [14] Sạn-đạo (sạn là gác cây làm đường đi), đường đi làm bằng tre gỗ gáp ráp lại, cũng gọi là các-đạo

    [15] Sạn-các, tức là sạn-đạo.

    [16] Bản-các, sạn-đạo gác bằng ván.

    [17] Thông-giám tức Tư-trị thông-giám