Đang dịch Sơn Nam tùng thoại

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm Ngoại ngữ khác' bắt đầu bởi Beringen, 13/6/21.

  1. Beringen

    Beringen Banned

    Đây hợp-tuyển những dịch-phẩm rất đỗi vụn-vặt của mình. Chắc-chắn còn nhiều khiếm-khuyết, bởi năng-lực còn kém, mong các bạn góp ý... kịch-liệt ! Chân-thành cảm-tạ.

    [​IMG]
     
  2. Beringen

    Beringen Banned

    BIDASARI

    Cứ liệu sớm nhất hoặc tạm được coi như nguồn gốc nhân vật Bidasari là sử thi Nàng Bidasari (Syair Bidasari), với văn bản cổ nhất còn lưu lại tới nay là bằng ngôn ngữ Melayu, soạn năm 1750. Huyền thoại Bidasari rất thịnh hành tại khu vực nay là Nam Dương các thế kỷ XVIII-XIX, sau trở thành bản sắc cộng đồng Hồi giáo Đông Nam Á. Ở hậu kì hiện đại, các cộng đồng Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei, Mindanao (Philippines) và Champa (Việt Nam) đều coi truyền thuyết Bidasari là một phần trọng yếu trong kho tàng văn chương cổ điển của mình, bởi cảm hứng gây nên sự phát triển phong phú về loại hình biểu diễn.

    Năm 1807, tiến sĩ J. Leyden người Hà Lan đã chép lại truyền thuyết này thành ấn phẩm Huyền sử Bida-Sari (Hikaiat Bida-Sari), liệt kê những điểm tương đồng của Bidasari với Nàng Bạch Tuyết của anh em Grimm và đôi chút Mĩ nhân say ngủ của Charles Perrault. Tới năm 1886 tại Âu châu đã có ít nhất 2 ấn bản đề cập Bidasari là Drie Maleische Gedichten of Sjair Ken TamboehanJatim Nestapa en Bidasari, qua đó phổ biến huyền thoại này ra các ngôn ngữ Anh, Đức, Pháp. Huyền thoại Bidasari cũng thường được coi như sự bổ sung Ngàn lẻ một đêm cho người Tây phương hiểu rõ hơn về sinh hoạt tinh thần của cộng đồng Hồi giáo Viễn Đông.

    Trong thế kỷ XX, huyền thoại Bidasari được sân khấu và điện ảnh hóa tích cực, trở thành một trào lưu văn nghệ đặc sắc trong sinh hoạt hiện đại Nam Dương, thấm nhuần các giá trị đạo đức và trí tuệ. Riêng văn bản sử thi được mệnh danh là quốc bảo tại Malaysia, Indonesia và Philippines.

    Văn bản sử thi bằng Pháp ngữ Bidasari poëme malais précédé des traditions poétiques de l'Orient et de l'Occident do tác gia Louis de Backer ấn hành tại Paris năm 1875 : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Hiện tại mình chỉ có bản dịch Anh ngữ (Bidasari and the Djinn) của bà Ninot Aziz (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link), nữ tác gia Malaysia. Đây cũng là bản truyện Bidasari phổ biến nhất trên thế giới, trong đó, bà Ninot Aziz đã chuyến hóa huyền thoại cổ truyền thành mối tình giữa Jaya Simhavarman III (R'cam Mal, Chế-mân | Po Angkasa, Raja Kembayat) với công chúa Tapasi xứ Majapahit (Po Dewi Alam).

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/6/21
  3. Beringen

    Beringen Banned

    Ở một làng chài miền Nusantara (tương ứng Đông Hải) có ông lão đã già lắm, tên là Tok Bo. Nghe đâu, xưa kia Tok Bo là tinh linh nên không bao giờ bị lão hóa, nay khi hết phép thuật thì phải cam chịu mưu sinh như mọi thường dân. Lão đi chài cá như dân làng, nhưng mẻ của ông lão lúc nào cũng đầy ắp bởi ông biết câu thần chú gọi cá vào lưới. Tuy vậy, lão chỉ giữ lại một chút, còn lại chia hết cho bọn trẻ con đem về biếu gia đình. Thường ngày, những khi nhàn rỗi, già Tok Bo lại kể cho bọn trẻ những truyện li kì về một xứ sở xa xôi bên kia trùng dương.

    [​IMG]

    Ở kinh thành xứ Kembayat (tương ứng Champa) có vị sultan luống tuổi Po Angkasa chung hưởng hạnh phúc với sultanah Po Dewi Alam qua rất nhiều năm. Dân xứ kính trọng quốc vương và vương hậu như thần nhân bởi sự cai trị đức độ hiếm có khiến cho đất nước trù phú thái bình vô cùng. Xứ Kembayat vang danh bởi những cánh đồng lúa óng vàng bất tận, những thảm cỏ xanh mướt, những làng chài đầy ắp tôm cá và những thương cảng tấp nập thuyền xe.

    Mặc dù đức vua đã già lắm nhưng đấng Allah chưa ban cho ngài một mụn con nào. Hằng đêm vương hậu cứ cầu nguyện được đứa con có đủ cả đức hạnh, nhan sắc và trí tuệ. Bà cầu mãi, tới khi thọ thai, dân chúng nơi nơi đang ăn mừng thì bỗng đâu có ác quỷ từ ngoài bể tấn công, đánh phá tan hoang xứ sở và ăn thịt vô số người. Quan quân đánh mãi không đặng, phải rước vương thất trốn vào rừng rậm để chờ vương hậu sinh xong.

    [​IMG]
    Hải quái (naga) quấy phá kinh thành Kembayat

    Khi nghỉ chân bên một bờ sông vắng, vương hậu trở dạ sinh được một tiểu công chúa vô cùng xinh xắn. Bỗng nhiên mặt nước gợn sóng lân tinh, một con cá vàng khổng lồ trồi lên nhảy rập rờn. Khi đức vua tóm lấy cá vàng đưa lên khỏi mặt nước thì cả cá và công chúa đều ngưng thở, ngài bèn thả nó ra.

    Quốc vương và vương hậu biết rằng xứ sở đã tận số nên đặt công chúa vào chiếc nôi kết hoa và kim cương ngọc báu, nhờ cá vàng đưa đi thật xa.

    [​IMG]
    Chiếc nôi đưa tiểu công chúa và cá vàng tới Indrapura

    Cá đưa tiểu công chúa dạt tới lân quốc Indrapura (tương ứng Pahang), được thương gia Djouhara và phu nhân Leila đem về nuôi. Họ gọi công chúa là Bidasari và đặt cá vàng là Bo. Cả hai thân thiết từ nhỏ tới lớn chẳng rời.

    Bidasari càng lớn càng xinh đẹp và thông minh, biết bao vương công quý tộc và bậc anh hùng trong vương quốc đều bàn tán về nàng, bày tỏ lòng ngưỡng mộ nàng. Cũng nhờ nàng, sản nghiệp của cha nuôi ngày càng nhân lên, tiếng tăm vượt khỏi xứ sở.

    Thuở ấy, Indrapura do nữ vương Lilasari cai trị, bà thầm ghen với nhan sắc và trí tuệ Bidasari. Bà liền cho vời Bidasari để nom kĩ nàng : Vóc dáng nhỏ nhắn mà thanh thoát, hàng mi như trăng lưỡi liềm, sống mũi nhỏ thanh tú như hạt hoa nhài, làn da trắng mịn như pha lê và mái tóc mượt như hoa cọ.

    Nữ vương nhận Bidasari làm con nuôi, hứa hẹn ban cho nàng cuộc sống còn sung túc gấp trăm lần nhà cha mẹ nuôi cũ. Nhưng bà biệt giam nàng trong cấm cung, cắt xén dần những đặc ơn và đày đọa nàng làm kẻ hầu người hạ. Khi đoán biết số phận Bidasari có liên hệ mật thiết với Bo, nữ vương bèn cải trang đi tìm cá. Bà đem nhiều thủ đoạn đê tiện nhất ra hòng dụ được cá vàng vào bẫy, rồi bắt nhốt Bo trong bình pha lê nhỏ không nước. Vì vậy, Bo và Bidasari đều bất tỉnh. Vương hậu bèn sai người ném Bidasari khỏi cung điện.

    [​IMG]
    Cá vàng Bo

    Ông bà Djouhara và Leila sai người làm một căn nhà thật đẹp và kiên cố trong rừng sâu cho Bidasari yên nghỉ, những mong tìm cách hồi sinh được nàng, bởi thấy sau bao hôm mà thân thể nàng vẫn không mục nát.

    Trong một chuyến đi săn, sultan lân bang là Djohan sơ ý lạc tới nơi Bidasari nằm. Khi ngài lỡ tay chạm vào mình Bidasari thì thốt nhiên nàng khẽ mở mắt và tỉnh dậy. Bidasari kể cho đức vua nghe hết cớ sự. Thế là Djohan cất quân tiến đánh vương cung Indrapura, phế truất nữ vương độc ác và cứu cá vàng Bo. Đức vua rước Bidasari về phong làm vương hậu và sống bên nàng trọn đời.

    [​IMG]
    Tok Bo vốn là một tinh linh (djinn), lúc hóa thành cá vàng khi biến ra ông chài

    Về phần Lilasari, khi bà bị bức rời vương quốc Indrapura thì bỗng dưng thủy quái cũng từ bỏ Kembayat. Cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi được hội ngộ Bidasari. Kể từ đó Djohan và Bidasari cai trị cả ba xứ sở.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/6/21
    amylee thích bài này.
  4. Beringen

    Beringen Banned

    CÔNG CHÚA ILSE

    Ilse nguyên ủy là một con lạch nước khoáng làm phụ lưu sông Oker, nhờ địa hình vây quanh khá hiểm trở nên vắng người qua lại, vô hình trung trở thành thắng cảnh thiên nhiên hoang dã rất nên thơ, được người Đức ngay từ trung đại đã nhân cách hóa thành một giai thoại. Cho tới nay, quần thể gồm lạch và thung lũng được gọi chung là Công chúa Ilse (Prinzeß Ilse).

    Công Chúa Ilse thuộc địa phận thị trấn Ilsenburg, tuy nhiên mật độ cư dân hầu như bằng 0. Địa điểm duy nhất từng có người ở là khách sạn cùng tên, xây năm 1871 nhưng rồi bị cháy trụi vào năm 1887, sau nhiều lần tái thiết bất thành đã bị bỏ hoang từ năm 1978.

    [​IMG]

    Suốt từ trung đại, Công Chúa Ilse đã làm suối nguồn cảm hứng bất tận cho các loại hình văn nghệ Đức, nhưng tuyến chính vẫn là huyền thoại có liên hệ mật thiết với tên gọi quần thể du lịch này.

    Năm 1852, huyền thoại công chúa Ilse lần đầu được in thành sách nhờ tác gia Marie Luise Auguste Petersen và thành công thương mại rực rỡ. Trong trứ tác, nhân vật công chúa Ilse không bị lũ cuốn mà lạc đường khi cưỡi ngựa đuổi theo cha - đức vua Ilsing. Nàng sơ ý băng qua cánh cổng dẫn vào cõi tiên, rồi được bà chúa tiên biệt đãi và cho ở lại cung điện cẩn pha lê mãi mãi.

    Dựa theo tác phẩm Marie Petersen, thi hào Heinrich Heine đã gia cố thêm tình tiết khi soạn sử thi Nàng Ilse (Die Ilse).

    Năm 1926, đôi tác giả ít danh vọng Karl Dassel và Karl Tolle lại công bố kịch phẩm 5 hồi cùng tên, đem công diễn tại Ströher, một địa điểm gần Celle, nhưng không được số đông hưởng ứng.


    [​IMG]
    Xưa, khi đỉnh Ilsestein cao tột hơn ngày nay bội phần, đức vua Ilsung dựng lâu đài ngay trên mỏm núi đó. Ngài có người con gái tóc vàng đẹp tuyệt trần tên là Ilse, biết bao vương công kị sĩ đã ngỏ lòng ngưỡng mộ và cầu hôn mà chẳng được nàng đoái hoài.

    Dưới chân núi có nhà nọ, một bà mẹ thầm ghen tị với Ilse, bởi đứa con gái bà ta tên Trude tóc đỏ quạch mà chẳng người trai nào thèm ngó. Bù lại, gia cảnh Trude rất sung túc, có lẽ còn hơn chán vạn ông vua trên đỉnh cao sơn kia. Người ta đồn rằng, khối tài sản ấy có được là nhờ tài ma thuật của bà mẹ, mà bà ta đích thị phù thủy.

    Ngày nọ, có người lữ khách trẻ trung tên là Rolf quá bộ tới Ilsenburg. Anh ta ghé lại nhà Trude xin nghỉ chân, và thế là Trude như bị hớp hồn. Ả nằng nặc đòi mẹ quyến rũ chàng về cho mình có chồng. Để chiều lòng con, bà mẹ lựa lúc Rolf thiếp đi, bèn rỏ giọt thuốc vào mắt chàng, đến khi tỉnh dậy thì Rolf phải yêu say đắm Trude. Họ bèn tất bật sửa soạn cử hành hôn lễ.

    Trong lúc đợi linh mục tới chứng hôn, Rolf lê gót vào rừng chơi, vô thức lạc tới lâu đài và thấy Ilse đang tỉa những nhành hồng. Nhan sắc kiều diễm của nàng lập tức khiến ma thuật tan dần, và Rolf đem lòng yêu Ilse tha thiết. Khi trở lại nhà Trude, Rolf nằng nặc đòi từ hôn rồi vội vã bỏ đi. Chàng quyết định tới lâu đài xin kiến diện đức vua. Vì lòng mến khách, Ilsung mở cửa tiếp đãi rất thân thiện. Rolf nán lại vương cung ít lâu.

    Mụ phù thủy chóng vỡ ra cớ sự, bèn phù phép cho tuyết phủ dày Ilsestein, lại khiến gió dữ cuốn phăng lâu đài. Nhưng vì thành lũy rất kiên cố nên trận gió chỉ đủ làm núi bạt dần.

    Phù thủy lại vẩy đũa phép gọi mây đen sấm chớp xô tới nhấn chìm lâu đài trong phong ba khủng khiếp. Đất đá và cây cối cứ rụng ầm ầm, khiến thành quách lay tận móng. Nước lũ cuốn người, vật và tài sản trôi đi muôn phương, trong đó có quốc vương, công chúa và vị khách lạ điển trai. Nhưng may thay, sơn thần đã kịp vớt Ilse khỏi dòng nước xiết.

    Trong tiếng cười đắc thắng của mẹ con phù thủy, cả ngôi nhà của họ cũng bị lũ cuốn. Rồi Trude thấy Rolf chìm dần xuống vực sâu mất hút, cô hoảng hồn lao theo bất chấp dòng chảy dữ. Bà mẹ vì xót con cũng nhảy theo.

    Qua thời gian, hằng đêm người ta thường thấy công chúa Ilse dạo chơi ở Ilsestein. Nàng bước từ sơn khê ra trong áo choàng lung linh cùng vương miện lấp lánh sao sa, rồi xuống lạch tắm, tới lúc bình minh lại về chốn ngụ. Dân gian cũng đồn rằng, hễ ai mang lòng gian tà tới gần Ilse thì bị hóa thành cây linh sam đứng gác quanh nàng, đấy là lý do Ilsestein tới nay toàn linh sam.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
     
  5. Beringen

    Beringen Banned

    CUỘC CHINH PHỤC LỚP 5C

    Năm 1983, cả Tô Liên cười nghiêng ngả vì một giáo viên trẻ nước Ý, nhân vật bất đắc dĩ phải gánh việc "nuôi dạy" bốn mươi tên tiểu yêu trong tác phẩm của Giovanni Mosca, được phổ biến nhờ loạt phim Yeralash trứ danh. Câu thoại mà minh tinh Yevgeny Morgunov dặn tài tử mới Gennady Khazanov trước khi nhét súng ổ quay vào cạp quần "Ai rồi cũng đến lúc chết" trở thành kinh điển trong không gian Soviet.

    Truyện chàng giáo viên suýt bị học trò xé xác rồi làm cách nào thuần hóa bốn mươi đứa "nhất quỷ nhì ma" kì thực nằm trong hợp tuyển Kỉ niệm trường xưa (Ricordi di scuola), do tác gia Giovanni Mosca san hành năm 1939. Tác phẩm được tường bày dưới hình thức hồi kí người cha để lại cho các con, gồm rất nhiều truyện cười ra nước mắt về đời thầy giáo. Vì suy cho cùng, nghề giáo không chỉ là truyền chữ, mà còn lý tưởng sống suốt đời trong lòng chúng ta. Hân hạnh giới thiệu đoản thiên Cuộc chinh phục lớp 5C (La conquista della Quinta C) qua dịch phẩm của Ngọc Giao !


    [​IMG]

    Cha vừa tròn hai chục tuổi khi cầm giấy gọi thực tập giáo viên trong túi và cứ giữ khư khư vì sợ mất cái hẹn trong mơ này. Thế là cha bước vào ngôi trường được phân công và xin gặp thầy hiệu trưởng. Lúc ấy tim cha như loạn nhịp.

    - Anh là ai ? – Cô bí thư hỏi dồn – Bây giờ trường chỉ nhận giáo viên thôi.

    - Vâng, thì tôi là giáo viên mới đây… - Cha vừa đáp vừa chìa bức thư ra.

    Cô ta thở cái thượt rồi vào phòng hiệu trưởng, lát sau ông đã xuất hiện. Thoáng thấy cha, ông ta ôm chầm đầu.

    - Tuyến trên người ta nghĩ thế nào ? – Ông ta la toáng lên – Họ phái xuống một thằng oắt con trong khi tôi cần gã khổng lồ râu ria bặm trợn lôi lũ quỷ tuột xích về đúng chỗ cũ. Mà thế nào… thằng nhóc. Ôi thôi, chúng nó mà gặp chỉ có ăn tươi nuốt sống.

    Nhưng ngay sau đó ông ta chột dạ rằng làm thế chỉ khiến cha sợ chứ báu gì, nên ông nhoẻn miệng cười, vỗ vai cha mà rằng :

    - Anh hai chục tuổi rồi chứ gì ? Nhận bổ nhiệm thư lúc này là hợp lý rồi, nhưng quả thật nom anh như mười sáu. Anh giống đứa trung học sinh đúp lớp thâm niên hơn là giáo viên. Thành thật mà nói, anh làm tôi lo sốt vó. Mà liệu anh nhầm chỗ chăng ? Thư có đề Học-hiệu Dante Alighieri không ?

    - Thì đây – Cha chìa thư như báu vật – Trường Dante Alighieri.

    - Chà, lạy Chúa quan phòng ! – Ông hiệu trưởng thở dài – Chưa ai thuần hóa nổi bọn nhóc này : Bốn mươi tên tiểu yêu, có tổ chức, có võ trang, và còn có thủ lĩnh – thằng GuerreschiVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Giáo viên cuối cùng khiến chúng nó suýt khóc là vào hôm qua, nhưng thầy ấy luống tuổi và cũng sắp hồi hưu. Còn tôi cũng xin chuyển trường rồi.

    Dứt lời, ông ta nhìn cha bằng ánh mắt hoài nghi.

    - Giá anh có ria mép nhỉ – Ông lẩm bẩm.

    Cha cũng ra cái điệu bất lực, như thể tắt hết hi vọng rồi, mà đúng là chẳng ai cứu cha được. Thế rồi ông ta nhướng mắt lên : Đi thôi !

    Hai người đi dọc hành lang rất dài, hai bên đánh số lớp : 4D, 5A, 5B, 5C…

    - Anh vào đây ! – Ông hiệu trưởng nói rồi dừng lại trước cửa 5C.

    Cha nghe rõ sau cánh cửa hắt ra những tiếng ồn : Nào gào thét ầm ĩ, nào bi sắt đập bảng, rồi tiếng súng, tiếng hát, cả tiếng bước chân huyên náo xô lệch bàn ghế…

    - Chắc chúng nó đang lập chiến lũy đấy – Ông hiệu trưởng nhủ thầm.

    Liền đấy, ông bắt tay cha rất chặt rồi bước đi, bỏ cha trơ trọi trước ngưỡng cửa 5C.


    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Guerreschi = Chiến tranh.
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 25/6/21
    amylee thích bài này.
  6. Uillean

    Uillean Lớp 2

    Самуил Яковлевич Маршак
    ДВЕНАДЦАТЬ МЕСЯЦЕВ

    «Двенадцать месяцев» — драматическая сказка (пьеса-сказка) советского писателя Самуила Маршака, написанная в 1942—1943 годах для МХАТа.

    Премьера состоялась 10 марта 1945 года на сцене Свердловского дворца пионеров, позже спектакль ставили в Московском театре юного зрителя в 1947 году и во МХАТе в 1948 году. Пьеса состоит из четырёх действий и восьми картин.

    Из 32 архивных документов за период с декабря 1944 по май 1945 года режиссера драматического коллектива Леонида Константиновича Диковского удалось установить в хронологической последовательности : работу коллектива над постановкой, даты премьеры и последующих спектаклей (каждую субботу и воскресенье до 2 мая 1945 года), репетицию и постановку спектакля на радио (26, 27 марта 1945 года).

    3 декабря 2020 года состоялось открытие выставочного проекта «Спектакль Победы : „12 месяцев“ на сцене Дворца 1945 г.». Проект поддержала Ассоциация музеев Екатеринбурга при участии музея МХАТ.

    По воспоминаниям Самуила Маршака, источником для сюжета послужила слышанная им задолго до написания сказки чешская или богемская легенда о двенадцати месяцах. Сказка часто ставится на утренниках в детских садах и младших классах школы.


    [​IMG]

    MƯỜI HAI THÁNG

    [​IMG]

    Đố em biết, một năm bao nhiêu tháng ? Mười hai. Thế gọi tên như nào ? Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng tư, tháng năm, tháng sáu, tháng bảy, tháng tám, tháng chín, tháng mười, tháng mười một, tháng chạp.

    Thời điểm tháng này kết thúc cũng gối đầu cho tháng sau. Vậy nên chẳng khi nao có trường hợp tháng Giêng chưa đi tháng Hai vội về, hoặc tháng Năm đến trước tháng Tư.

    Các tháng cứ thế trôi nên chẳng gặp nhau bao giờ. Nhưng truyền rằng ở thượng du Böhmen có cô bé đã hạnh ngộ cả mười hai tháng một lúc. Đầu đuôi cớ sự ra sao nhỉ ? Số là...


    [​IMG]

    Ở xóm nọ có bà rất đỗi cay nghiệt sống với con gái mình và cô con riêng của chồng. Bà vô cùng cưng chiều con gái đẻ, mà lúc nào cũng bẳn gắt với đứa con chồng. Dù con chồng có làm gì cũng bị chê phạm lỗi, mà cho dẫu sửa lỗi thế nào cũng coi như phá hại.

    Trong khi con bà suốt ngày nằm chăn ấm nệm êm nhấm nháp bánh gừng, thời con chồng làm lụng không ngơi tay sớm hôm : Nào xách nước, nào gánh củi, rồi giặt chăn, lại nhổ cỏ, và tưới rau. Thế nên, cô bé thấm thía cái giá mùa đông, hơi nực mùa hạ, hết gió xuân lại mưa thu. Cũng nhờ lẽ đó, cô mới được dịp chiêm ngưỡng mười hai tháng một lúc.

    Bữa ấy là trọng đông, hình như tháng Giêng. Tuyết rơi dày tới nỗi phải thường xuyên xúc ngoài cửa, còn rặng cây bên sườn núi thì chôn chân đìu hiu trong tuyết chẳng buồn lắc lư khi gió lùa qua. Ai nấy trốn rét trong nhà và đốt lò sưởi ấm.

    Cũng một hôm như thế, sẩm tối, bà dì ghẻ độc ác hé cửa nhìn trận bão tuyết quét qua, rồi lại gần lò ấm bảo cô con chồng :

    - Hãy mau vào rừng hái hoa xuyên tuyết, kẻo lỡ mai sinh thần em mày đấy.


    [​IMG]

    Cô bé ngơ ngác nhìn mẹ kế : Bà bỡn cợt hay chẳng qua muốn tống quách cô vào rừng ? Bây giờ ở trong đấy khác chi cực hình ! Mà xuyên tuyết có mọc mùa đông đâu ? Độ trước tháng Ba, có mò kiểu gì cũng chẳng ra. Nay chỉ bước vào rừng là mất lối về và còn vùi thân trong tuyết giá nữa.

    Bấy giờ con em đế theo : "Mày có lạc lối cũng chả ai thương khóc cho đâu. Không hái được xuyên tuyết thì chớ hòng về nữa. Giỏ của mày đây !".

    Cô bé bật khóc rấm rứt, đành khoác tạm chiếc khăn sờn rồi ra cửa. Gió đem tuyết thốc mạnh vào mắt và làm khăn thêm ướt đẫm. Cô cất bước, nhưng tưởng chừng không sao nhấc chân khỏi thảm tuyết dày được.


    [​IMG]

    Màn đêm trùm lấy cô bé. Màu trời đen quánh, không gợn một ánh sao, nhưng mặt đất lại sáng hơn chút. Ấy là nhờ tuyết. Rừng đây rồi, cũng tối đen tới độ không cả thấy tay mình. Bất giác cô bé ngồi thụp xuống gốc cây đổ, âm thầm đợi chết cóng.

    Bỗng ở đàng xa, giữa những tán cây, chừng như có ánh lửa lóe lên, như thể có vì sao lạc vướng vít vào cành. Cô bé bèn trở dậy bước tới chỗ sáng kia. Cô thận trọng lội trên tuyết và leo qua những thân gỗ mục. "Cầu cho ánh lửa đừng tắt !" - Cô nhủ thầm. Và quả nhiên lửa vẫn rập rờn, thậm chí càng gần càng cháy rực hơn. Nghe như mùi khói nồng, cả tiếng củi tí tách trong lửa hồng.


    [​IMG]

    Đoạn, cô bé rớn bước vào mô đất trống. Phải rồi, hoàn toàn khô ráo. Ở giữa có khoảng sáng rực như vầng dương. Hình dung kĩ hơn thì là đống lửa lớn, cuộn khói thấu trời cao. Có một nhóm người ngồi xếp quanh đống lửa ; kẻ này ở gần cho ấm, kẻ kia lại chếch xa hơn. Họ đàm tiếu râm ran.

    Cô bé nhìn họ, đoán già đoán non coi ai : Có vẻ không như thợ săn, lại còn chẳng giống tiều phu ; nom ai nấy cao sang biết chừng - kẻ áo vàng, người áo bạc, lại cả nhung xanh. Rồi cô đếm được thảy mười hai vị : Ba phụ lão, ba trượng phu, ba thanh niên và ba nhi đồng.


    [​IMG]
    [​IMG]

    Đúng lúc ấy nhóm mười hai phát hiện ra cô và thầm thì với nhau.

    Cô bé đứng trân trân, nghe đấy nhưng chẳng hiểu được gì, cứ như không phải người nói mà là nhành cây xào xạc. Họ bàn gì với nhau được một chốc rồi câm bặt.

    Vị trưởng lão cao lớn nhất ngoảnh lại cất giọng :

    - Bây giờ không tìm thấy hoa xuyên tuyết, cô bé định thế nào ? Ít cũng phải chờ tới tháng Ba đấy.

    - Thì cháu ở trong rừng ạ - Cô bé nói - Phải đợi cho tới tháng Ba. Thà chết rét trong rừng còn hơn chẳng có hoa đem về.

    Rồi cô bé òa khóc.


    [​IMG]
    [​IMG][​IMG][​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/1/22
  7. Uillean

    Uillean Lớp 2

    KHỔNG-TƯỚC CÔNG-CHÚA

    Khổng tước công chúa (孔雀公主) hay Chàng Sisouthone và nàng Manola (ព្រះសុធននាងកែវមនោរាហ៍) là những nhan đề phi chính thức một huyền thoại Thái tộc thịnh hành từ trung đại trung kì tới nay, có ảnh hưởng sâu sắc tới sinh hoạt tín ngưỡng và truyền thống ca vũ nhạc tại khu vực Đông Nam Á.

    [​IMG]

    Thời điểm thực sự hình thành truyền thuyết này tuy chưa rõ ràng, nhưng hoàn toàn có thể xác định được là khoảng triều Đường trở đi, khi Đại Lễ quốc bước đầu hưng khởi và bành trướng sức ảnh hưởng ra xung quanh. Tựu trung đây là giai đoạn hưng phấn nhất của văn hóa Thái và huyền tích này là một chứng cứ xác đáng cho cường lực văn hóa tín ngưỡng Nam Chiếu đối với các tiểu vùng Hoa Nam và Đông Nam Á đại lục.

    Cho tới hiện đại hậu kì, các cứ liệu chép lại truyền thuyết Khổng tước công chúa có sớm nhất chỉ từ thập niên 1960 tại nhiều quốc gia Đông Á với nhiều ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên nội dung nhìn chung khá nhất quán.


    [​IMG]

    Khổng tước công chúa là vũ điệu thịnh hành và tương đối lâu đời tại phía Bắc khu vực Trung Ấn, bao gồm Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchea cùng các tiểu vùng Sipsong Panna (Trung Hoa), Tây Bắc Việt Nam. Tác phẩm thường được coi là bản sắc của cộng đồng Thái, nhưng mặt khác, thể hiện rất rõ sức ảnh hưởng của văn hóa tín ngưỡng Ấn Độ đối với cộng đồng Đông Nam Á đại lục, đặc biệt là Ấn Độ giáo ở giai đoạn hưng thịnh nhất.

    Còn theo ấn phẩm Myths of the Hindus & Buddhists (London, 1913) của sơ Nivedita và sư Ananda, cốt truyện Khổng tước công chúa nhằm phản ánh một truyền thuyết xưa hơn về cuộc chiến của nữ thần Manimekhala với khổng nhân Ramasura, gây ra hiện tượng sấm sét. Cho nên Khổng tước công chúa có bản chất là vũ điệu cầu mưa thuận gió hòa cho mùa lúa được tốt tươi và mừng mùa màng được bội thu. Trong đó, Manimekhala/Neang Mekhala tương ứng Neang Keo Monorea/Nam Mục-nhược-na, Mahajanaka tương ứng Preah Sothun/Chao Sothoun/Triệu Thụ-đồn. Sự đối nghịch vương tử-công chúa với lão pháp sư chính là tái hiện xung khắc Manimekhala với hung thần Ramasura. Hình tượng vương tử-công chúa cũng được đồng nhất với nhạc công (kinnari) và vũ công (kinnara) ở không gian sân khấu ước lệ.

    Tại Kampouchea, năm 1960 giáo hội tỉnh Kampong Cham đã cho ấn hành tuyển tập Braḥpaññās jātaka (បញ្ញាសជាតក) song ngữ Pháp-Khmer, trong đó có ghi lại Cố sự Preah Sothun (រឿងព្រះសុធន) tác giả Samdach Preah Dhammalikhit Louis Em (សម្តេចព្រះធម្មលិខិត ល្វី ឯម, 1878 - 1957). Đây vốn là vở ca vũ kịch kinh điển trong kho tàng nghệ thuật Khmer, bắt nguồn từ vũ điệu Kinnara trong nghệ thuật Ấn Độ cổ đại.

    Tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, năm 1963, Thượng Hải Mĩ thuật Điện ảnh Chế phiến Xưởng đã thực hiện một phim mộc ngẫu dựa theo sử thi Vương tử Triệu Thụ-đồn (召樹屯) lưu truyền tại khu tự trị Tây Song Bản Nạp (Vân Nam) ; tới năm 1982 Bắc Kinh Điện ảnh Chế phiến Xưởng lại thực hiện cuốn phim màn ảnh đại vĩ tuyến Khổng tước công chúa (孔雀公主), vai chính do các tài tử Đường Quốc Cường và Lý Tú Minh đảm nhiệm. Vũ điệu chim công (ᥐᥣᥲ ᥘᥨᥐ ᥕᥧᥒᥰ /ka-lok-juŋ/, ᦝᦸᧃᧉ ᦷᦓᧅ ᦍᦳᧂ /fɔn-nok-juŋ/, 孔雀舞 / Khổng tước vũ) cũng là một trong những tiết mục đặc sắc trên sân khấu Trung Hoa hiện đại, khởi thủy trực tiếp từ truyền thuyết dân gian lâu đời này. Ngày 20 tháng 05 năm 2006, Trung Quốc quốc vụ viện đã đưa khổng tước vũ vào danh mục tiêu biểu di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, từ đấy tiến hành bảo trợ các hoạt động bảo tồn và đào tạo truyền nhân để cổ xúy sự phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống.

    Năm 1990, Công ty Truyền hình Trung Quốc (Đài Loan) đã tiến hành sản xuất và công chiếu bộ phim võ hiệp huyền ảo Dục hỏa phụng hoàng (浴火鳳凰), thường được dịch tại Việt Nam là Phượng hoàng lửa. Cốt truyện xoay quanh số phận Phụng Hoàng thần nữ giữa cuộc chiến của Bái Điểu tộc và Thiên Ma tộc, mượn ý từ cố sự Khổng tước công chúa. Vai chính do minh tinh Phan Nghinh Tử thủ diễn.


    [​IMG]

    Tại Lào, vũ điệu chim công được gọi là lăm tơi. Cốt truyện công chúa lốt chim công cũng được đưa vào sách giáo khoa Truyện đọc lớp 3 tại Việt Nam thập niên 1990 với nhan đề Sự tích điệu múa công nước Lào.

    Tại khu vực nay là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng lưu hành Kim Cương sơn bát tiên nữ truyền thuyết (금강산 팔선녀 전체) hay cố sự Nàng tiên và chàng đốn củi (선녀와 나무꾼) gắn liền với Thất Long bộc bố (九龍瀑布, 구룡폭포) là địa điểm du lịch lừng danh tại Kim Cương sơn quan quang địa khu, một dị bản Khổng tước công chúa. Trong đó, mẫu tự Arang và Mudal khá giống Nang Manola và Chao Sisouthone.

    Tại Nhật Bản từ trung đại hậu kì đã lưu hành một bản truyện gọi Nàng tiên hạc (鶴の恩返し, 鶴女房), nhưng chỉ gồm tình tiết chàng gánh củi bắt được cái áo lông đem giấu mà được vợ tiên.


    [​IMG]

    Tại Việt Nam nay còn đền Thái Thượng Sơn (thôn Thái Sơn, xã Sơn Lai, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình), tương truyền thờ công chúa Nhồi Hoa (tương tự Manola, Monorea) nước Ải Lao từng góp nhiều voi cho hoàng đế Lê Thánh Tông (Lê Thánh Tông/Lê Tư Thành tương đồng Chao Sothoun) dẹp giặc dữ. Trong lễ hội thường niên phải có vũ điệu Champa nhằm tôn vinh bà chúa đền. Tuy nhiên, lịch sử đền và huyền tích lập đền chỉ có sớm nhất từ cuối thế kỷ XVIII, không liên đới gì tới triều đại Hồng Đức mà hoàn toàn chỉ là hư cấu dân gian. Vũ điệu chim công cũng là một trong những tiết mục đặc sắc nhất trên sân khấu Việt Nam hiện đại.

    Còn tại bản quán Ấn Độ, vũ điệu chim công được cho là khởi phát từ hai bang Tamil Nadu và Kerala, trực tiếp liên quan đến lễ mừng cơm mới trong cộng đồng Tamil. Vũ điệu này truyền sang Đông Nam Á từ trung đại trung kì qua ngả Tây Jawa, tạo ra nhiều biến thể rất phong phú nhằm tôn vinh vẻ uyển chuyển của nữ lưu.


    [​IMG]
    [​IMG]

    Văn bản Sự tích điệu múa công nước Lào trong sách Truyện đọc lớp Ba (Nhà xuất bản Giáo Dục - Hà Nội, 1995) :

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
     

Chia sẻ trang này