Tác giả Vasily Shukshin : Tác phẩm

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học nước ngoài' bắt đầu bởi Cynir, 22/7/21.

  1. Cynir

    Cynir Banned

    Tác gia Vasily Makarovich Shukshin (Василий Макарович Шукшин) sinh ngày 25 tháng 07 năm 1929 ở thôn Srostki, quận Biysky, vùng Altay. Theo tài liệu lưu trữ, cha ông bị xử bắn năm 1933 vì tội "chống nông trang tập thể" (антиколхозного заговора), mãi tới năm 1956 mới được phục hồi danh dự. Gia đình ông bị chính quyền địa phương kì thị, buộc ông phải tạm đổi sang họ mẹ là Vasily Popov (Василий Попов) để khỏi gián đoạn việc học.

    Năm 1943, Vasily Shukshin vào trường kĩ nghệ xe hơi Biysky, nhưng học được hai năm thì bỏ về nông trang làm việc. Từ 1946 tới 1949 ông lang thang khắp nơi xin làm công nhân đứng máy.

    Năm 1949, Vasily Shukshin được gọi đăng trình bộ binh vùng Moskva, nhưng ngay sau đó được chuyển sang ngạch hải quân. Ban đầu ông làm thủy thủ Hạm-đội Baltik, rồi được bổ sung vào vị trí cán bộ vô tuyến điện ở Hạm-đội Hắc Hải. Ông bắt đầu ghi lại những kinh nghiệm đầu đời thành truyện và đọc cho đồng đội nghe.

    Nhưng năm 1953, Vasily Shukshin phải giải ngũ vì bệnh viêm bao tử - đương thời bị coi là nan y, chủ yếu do thời trai trẻ ông có tật nghiện rượu. Ông về làng thi chứng chỉ giáo viên rồi ra dạy môn ngữ văn học Nga ở một trung học hiệu. Do trường mới lập nên ông được đề bạt làm hiệu trưởng.

    [​IMG]

    Vào năm 1954, Vasily Shukshin lại bỏ lên Moskva thi vào ngành đạo diễn Viện Điện-ảnh Gerasimov (VGIK). Để cho ông có lộ phí, mẹ phải bán đứt một con bò.

    Ngay từ khi còn học tới lúc đã ra trường, Vasily Shukshin liên tục tham gia sản xuất và đóng nhiều bộ phim, có những cuốn ông đảm nhiệm cả ba vị trí đạo diễn, biên kịch và diễn viên. Dần dà, Vasily Shukshin vươn lên chiếm một chỗ đứng độc đáo trong giới điện ảnh Tô Liên.

    Kể từ năm 1963, Vasily Shukshin được bổ nhiệm giám đốc hãng phim Gorky. Tuy nhiên, ông vẫn không ngừng các hoạt động chế tác và đóng phim, giành được khá nhiều giải thưởng danh giá. Riêng các năm 1973-4, trong thời kì điện ảnh Tô Liên thăng hoa rực rỡ nhất, tần suất làm việc của Vasily Shukshin lên cao chưa từng thấy. Hậu quả là căn bệnh viêm bao tử tái phát, mặc dù ông đã rất chú trọng kiêng khem, nhất là khi con gái mới sinh.

    3 giờ sáng ngày 02 tháng 10 năm 1974, Vasily Shukshin mất ngay tại phim trường Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, trên sông Volga. Ngày 07 tháng 10 cùng năm, ông được an táng tại nghĩa trang quốc gia Novodevichy (khu 1, hàng 3).

    [​IMG]

    Mặc dù chỉ hoạt động văn nghệ đúng 25 năm, nhưng Vasily Shukshin để lại di sản vô cùng lớn. Đấy là mấy chục cuốn phim cùng hàng trăm truyện ngắn, thống kê trung bình cứ vài tuần ra một tác phẩm.

    Các phim và truyện Vasily Shukshin có mẫu số chung là lấy thôn trang miền thảo nguyên làm bối cảnh. Những câu truyện bàng bạc khắc khoải rất đời, tuy có vẻ ít biến cố nhưng khắc họa tinh tế nội tâm con người Nga khi chiến tranh vừa đi qua. Có lẽ vì thế, ông Aleksey Varlamov (hiệu trưởng trường văn bút Gorky) gọi Vasily Shukshin là "con người Nga thuần túy".

    [​IMG]

    » Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link »
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/7/21 lúc 09:44
    123phat and QuangHai like this.
  2. Cynir

    Cynir Banned

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    СОЛНЦЕ, СТАРИК И ДЕВУШКА

    Dịch giả Quỳnh Dung, 2006

    [​IMG]

    Mấy hôm nay trời nắng gắt. Mắt đất hầm hập, cây cối cũng nóng. Cỏ héo khô lại xạo dưới bàn chân.
    Chỉ gần tối trời mới mát mẻ.
    Đến lúc ấy, ông già ốm yếu mới lần ra bờ con sông Katuni chảy xiết, ngồi xuống vẫn một chỗ ấy, bên cạnh gốc cây khô cằn, nhìn mặt trời.
    Mặt trời đang lăn xuống sau rặng núi. Về chiều, mặt trời nở to và đỏ rực.
    Ông lão ngồi bất động. Hai bàn tay nhăn nheo mầu nâu sẫm đặt trên hai đầu gối. Mặt ông lão cũng nhăn nheo. Đôi mắt lờ đờ và ướt. Chiếc cổ khẳng khiu. Đầu ông nhỏ, tóc bạc trắng. Xương vai gầy guộc nhô lên dưới lần áo sơ mi vải xanh.
    Một lần, đang ngồi như thế, ông lão nghe thấy tiếng ai sau lưng :
    - Chào cụ ạ.
    Ông lão gật đầu đáp lại.
    Một cô gái mang chiếc va li mỏng dính ngồi xuống bên cạnh.
    - Cụ ngồi chơi đấy ạ?
    Ông lão lại gật đầu, rồi đáp :
    - Ờ, ngồi chơi ...
    Ông lão không nhìn cô.
    - Cháu vẽ cụ được không ạ ? - Cô gái hỏi.
    - Cháu bảo gì ? - Ông lão chưa hiểu.
    - Cháu vẽ cụ ấy mà.
    Ông lão không trả lời ngay, vẫn nhìn về phía mặt trời, chớp chớp hàng mi mầu hồng, không còn lông mày.
    - Bây giờ lão đẹp đẽ gì đâu. - Ông nói.
    - Sao cụ lại nói thế ? - Cô gái bỗng lúng túng. - Cụ đẹp lắm.
    - Lão lại ốm yếu nữa.
    Cô gái ngắm ông lão một lúc lâu, rồi đưa bàn tay mịn màng vuốt ve bàn tay khô khốc và nhăn nhúm của ông lão và nói :
    - Cụ rất đẹp. Cháu nói thật đấy.
    Ông lão khẽ mỉm cười.
    - Nếu vậy thì cô vẽ đi.
    Cô gái mở va li.
    Ông lão đưa bàn tay che miệng ho.
    - Chắc cô ở ngoài thành phố phải không ?
    - Vâng ạ.
    Vẽ thế này cũng được tiền chứ ?
    - Có bức được, có bức không, cụ ạ. Nếu cháu vẽ đẹp thì người ta sẽ trả tiền.
    - Thế thì phải cố vẽ.
    - Vâng ạ.
    Họ lại im lặng.
    Ông lão vẫn hướng về mặt trời.
    Cô gái chăm chú ngắm ông lão hơi chếch và vẽ.
    - Cụ người vùng này ạ?
    - Phải.
    - Cụ quê ở đây ạ?
    - Phải.
    - Năm nay cụ bao nhiêu rồi ạ?
    - Bao nhiêu tuổi ấy à? Tám chục.
    - Thế rồi kia!
    - Già lắm rồi, - Ông lão thừa nhận và lại khẽ mỉm cười, - Còn cháu?
    - Hai mươi nhăm ạ.
    Họ lại im lặng.
    - Mặt trời hay chưa kìa! - Ông lão khẽ reo lên.
    - Cụ bảo mặt trời làm sao ạ? - Cô gái chưa hiểu.
    - Mặt trời rất to.
    - À, cụ nói đúng. Phong cảnh chỗ này đẹp thật.
    - Cháu nhìn nước sông bên kia bờ kìa...
    - Vâng.
    - Đỏ như có pha máu ấy.
    - Vâng. - Cô gái nhìn sang bờ bên kia. - Đúng thế.
    Mặt trời đã chạm tới đường viền của đỉnh núi Antai, rồi bắt đầu chìm dần sau dãy núi xanh biếc. Mặt trời càng xuống thấp thì đường viền dãy núi càng rõ nét. Dãy núi cứ như nhích lại gần. Dưới thung lũng, nơi giữa con sông và rặng núi, hoàng hôn đỏ hồng đang sẫm dần. Bóng tối lâng lâng như từ dãy núi lan tỏa đến gần họ. Cuối cùng, mặt trời lấp hẳn sau đỉnh núi Bubuakhan, và liền sau đấy, những tia sáng màu vàng thẫm rực rỡ xòe ra như nan quạt trên bầu trời xanh nhạt. Lát sau, những tia sáng ấy cũng lại lặng lẽ tắt dần. Chân trời phía ấy chỉ còn sáng lên như một đám cháy ở xa.
    - Mặt trời lặn rồi. - Ông lão thở dài.
    Cô gái xếp những tờ giấy vào va li.
    Hai ông cháu cứ ngồi như thế một lúc, lắng nghe tiếng sóng vỗ liên tiếp và khẽ khàng vào bờ.
    Từng đám sương mù đang trôi trên thung lũng.
    Trong khóm cây gần đấy, một con chim đêm kêu khẽ. Tiếng kêu được bờ bên kia vang trở lại.
    - Dễ chịu quá, - ông lão nói khẽ.
    Còn cô gái thì đang nghĩ đến chuyện ít hôm nữa cô sẽ trở về thành phố thân yêu kia, đem theo rất nhiều ký hoạ, trong đó có chân dung ông lão này. Và bạn trai của cô, một hoạ sỹ thực sự tài năng, thế nào cũng sẽ cằn nhằn: "Vẫn lại những khuôn mặt nhăn nheo! ... Để làm gì kia chứ? Ai chẳng biết khí hậu Xibia khắc nghiệt và người dân ở đấy phải lao động rất cực nhọc. Nhưng vẽ để làm gì kia chứ? Sao lại thế?..."
    Cô gái hiểu rằng cô cũng chẳng phải tài năng gì nhiều. Nhưng cô vẫn cứ băn khoăn về cuộc đời vất vả của ông lão này. Trông hai bàn tay của ông đủ rõ... Lại vẽ những nếp nhăn! "Phải làm việc thôi, phải làm việc thôi...!".
    - Chiều mai cụ lại sẽ ra đây chứ ạ? - Cô gái hỏi ông lão.
    - Có. - Ông lão đáp.
    Cô gái đứng dậy, trở về làng.
    Ông lão ngồi thêm lát nữa rồi cũng về.

    ❀​

    Ông về đến nhà, ngồi vào chỗ của ông ở trong góc nhà bên cạnh bếp lò, chờ con trai về để ăn tối.
    Bao giờ đi làm về, bác con trai cụ cũng mỏi mệt và bực bội về đủ mọi chuyện. Vợ bác ta cũng thế, luôn bực dọc về chuyện gì đó. Các cháu nội của cụ đã trưởng thành và đều ra thành phố cả rồi. Vắng bọn trẻ, nhà càng thêm hiu quạnh.
    Họ ngồi ăn.
    Bác con dâu bẻ vụn bánh mỳ thả vào đĩa đựng sữa cho cụ. Cụ ngồi chệu chạo nhai ở một góc bàn. Ông lão cố đưa nhẹ chiếc thìa để khỏi va mạnh vào đĩa gây tiếng động. Không ai nói gì.
    Rồi họ sửa soạn đi ngủ.
    Ông lão leo lên nóc bếp lò, còn hai vợ chồng bác con trai cụ thì vào buồng. Họ lặng lẽ. Với lại có chuyện gì để nói đâu? Mọi lời lẽ họ đã nói hết từ lâu rồi.
    Chiều hôm sau ông lão và cô gái lại ngồi trên bờ sông, cạnh gốc cây khô. Cô gái vẽ vội vã, còn ông lão thì nhìn về phía mặt trời và kể :
    Đời lão lúc nào cũng an nhàn, không có điều gì phải phàn nàn cả. Lão làm thợ mộc. Không lúc nào thiếu việc. Mấy đứa con lão đều theo nghề cha. Chiến tranh cướp đi mất gần hết, những bốn đứa. Còn mỗi hai thằng. Một thằng hiện vẫn sống với lão. Tên nó là Xtêpan. Thằng kia tên là Vanca thì công tác ở ngoài thành phố, ở Banxcơ. Làm chân đội trưởng công trình ở công trường xây dựng. Nó viết thư về, nói cũng an nhàn. Thỉnh thoảng có về làng thăm lão. Cháu nội của lão đông lắm. Đứa nào cũng yêu quý ông. Bây giờ chúng đều ở thành phố cả ...
    Cô gái đang vẽ bàn tay ông lão. Cô vội vã, bực tức, chốc chốc lại tẩy xóa.
    - Cụ sống ngày trước có vất vả lắm không ạ ? - Cô hỏi một câu chẳng ăn nhập gì hết.
    - Sao lại vất vả ? - ông lão ngạc nhiên. - Lão đã kể cháu nghe rồi thôi : sung sướng ấy chứ.
    - Cụ chắc tiếc các bác con trai lắm nhỉ ?
    - Đã đành, - ông lão lại ngạc nhiên. - Mất những bốn thằng, không tiếc sao được ?
    Cô gái vẫn chưa hiểu, cô thấy thương hại ông lão hay thấy ngạc nhiên về thái độ bình thản và nhịn nhục của ông cụ, cảm giác nào nhiều hơn?
    Mặt trời đã lại lặn xuống đằng sau rặng núi rồi. Chân trời lại đỏ rực lên một cách lặng lẽ.
    - Mai trở trời đấy, - ông lão nói.
    Cô gái nhìn lên bầu trời trong vắt :
    - Sao cụ biết ạ?
    - Lão thấy nhức nhối xương cốt.
    - Nhưng trời vẫn trong vắt thế kia.
    Ông lão không trả lời.
    - Chiều mai cụ cũng lại ra đây chứ ạ?
    - Chưa chắc, - ông lão không đáp lại ngay. - Khắp người đang đau như dần.
    - Cụ ơi, thứ đá này ở đây gọi là đá gì ạ? - cô gái lôi trong túi áo ra một hòn đá trắng có những vân vàng óng ánh.
    - Đá nào? - ông lão hỏi, mắt vẫn hướng về dãy núi xa xăm.
    Cô gái chìa hòn đá ra. Ông lão không quay mặt lại, chỉ giơ bàn tay.
    - Đá này ấy à? - ông lão hỏi, hơi đưa mắt về phía hòn đá, rồi nắn nó trong những ngón tay co quắp. - Đá cuội đấy. Hồi chiến tranh không có đá lửa, là chúng tôi dùng đá này để đánh lửa.
    Cô gái sửng sốt trước một phát hiện, cô có cảm giác như ông lão mù. Cô không biết nói gì, chỉ lặng lẽ ngắm nhìn nghiêng ông lão. Còn ông thì hướng về phía mặt trời vừa lặn, vẫn nhìn với một vẻ trầm ngâm, bình thản.
    - Cháu cầm lấy, - ông lão nói, chìa hòn đá về phía cô gái. - Nhiều hòn không như thế này. Có hòn trắng muốt, trong nữa, thấy cả những vân ở giữa. Có hòn nhẵn nhụi như trứng chim bồ câu, có hòn lại giống như trứng sẻ, hơi xanh, nhưng đều có vân ở giữa hết, giống như thế này.
    Cô gái vẫn nhìn ông lão, không dám hỏi xem ông có mù thật hay không.
    - Nhà cụ ở chỗ nào ạ?
    - Cũng gần đây thôi. Kia là nhà bác Ivan Kôlôkônnhicốp, - ông lão trỏ ngôi nhà ngay trên bờ sông, rồi đến gia đình Bêđarép, rồi đến nhà anh Đinôviép, rồi đến nhà Vôlôkitin, vào mãi đến trong cái ngõ kia mới là nhà của lão. Có việc gì cháu cứ đến. Hồi còn lũ cháu nội ở nhà, vui đáo để.
    - Cảm ơn cụ.
    - Lão về đây. Chân tay nhức quá.
    Ông lão đứng dậy rồi bước lên con đường dốc.
    Cô gái nhìn theo cho đến khi ông cụ rẽ vào khuất trong ngõ. Cô không thấy cụ vấp váp hoặc ngừng lại chỗ nào. Ông lão bước chậm chạp, mắt hướng xuống bàn chân.
    "Cụ không mù, - cô gái hiểu ra. - Chỉ đơn giản là mắt kém thôi".
    Chiều hôm sau không thấy ông lão ra bờ sông. Cô gái ngồi một mình nghĩ ngợi về cụ. Trong cuộc đời giản dị bình thường của cụ có chứa đựng một cái gì đó không đơn giản, một cái gì đó thực sự lớn lao. "Cũng như mặt trời kia, trông nó đơn giản là thế, hết mọc rồi lại lặn, - cô gái nghĩ. - Nhưng đâu phải chỉ là đơn giản". Rồi cô gái chăm chú nhìn lại những bản ký họa của mình. Cô thấy buồn man mác.
    Hôm sau ông lão cũng không ra. Cả hôm sau nữa.
    Cô gái bèn tìm đến nhà cụ.
    Cô tìm thấy.
    Phía trong hàng rào của một ngôi nhà năm gian mái tôn, ở góc sân, một người đàn ông trạc năm chục tuổi đang bào tấm gỗ thông.
    - Chào bác, - cô gái nói.
    Người đàn ông đứng thẳng dậy, nhìn cô gái, rồi quệt ngón tay cái những giọt mồ hôi đọng trên trán, gật đầu:
    - Chào chị.
    - Bác làm ơn cho hỏi, có phải đây là nhà ông cụ ...
    Người đàn ông chăm chú nhìn cô gái hơi ngạc nhiên khiến cô ngừng lại.
    - Phải, - bác ta đáp. - Tôi đang đóng áo quan cho cụ đây.
    Cô gái há hốc miệng:
    - Cụ mất rồi ạ?
    - Mất rồi. - Bác ta lại cúi xuống, bào thêm hai nhát nữa, rồi ngước lên nhìn cô gái. - Chị hỏi cụ tôi có việc gì?
    - Cháu đến thăm thôi. Chẳng là cháu vẽ cụ.
    - À... - Bác ta đưa mạnh một nhát bào.
    - Bác cho hỏi một câu, cụ bị mù phải không ạ? - Cô gái hỏi sau một lúc đắn đo.
    - Đúng thế.
    - Cụ bị mù đã lâu chưa ạ?
    - Khoảng hơn chục năm rồi. Có chuyện gì vậy?
    - Không ạ. Cháu chỉ hỏi thế thôi.
    Cô gái bước ra ngoài hàng rào.
    Ra đến ngoài đường, cô tựa vào một thân cây và khóc thổn thức. Cô thấy thương tiếc ông lão. Và cũng tiếc vì cô không biết cách kể về ông cụ. Nhưng lúc này cô cảm thấy được rằng, trong cuộc sống và công lao của con người, có chứa đựng một ý nghĩa sâu xa và thầm kín nào đó. Và cô không nhận ra rằng lúc này cô đã trưởng thành thêm được nhiều lắm.
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 22/7/21
    hungbc1010 and minhp like this.

Chia sẻ trang này