1.02. (Tập 1) @vancuong7975(lần 2)WIKI

21/11/15
1.02. (Tập 1) @vancuong7975(lần 2)WIKI
  • Link PDF
    Link Google Docs
    Link Word Online
    tín ngưỡng của họ nó khả dĩ mang lại cho họ nhiều lý thú nhất".

    Nhưng ngay từ cái định nghĩa đó cũng đã toát ra những luận điểm cơ bản của Xtăngđan về tính xã hội và tính lịch sử của nghệ thuật. Luận điểm thứ nhất là Xtăngdan tiếp thu được của các nhà văn hóa Ánh sáng và phát triển xa hơn là, nghệ thuật về bản chất có tính chất xã hội, nó phục vụ những mục đích xã hội. Nghệ sĩ chỉ thực hiện sứ mệnh của mình khi họ kéo xã hội theo sau, giá trị của nhà văn chủ yếu là ở chỗ họ đã tham gia đến mức độ nào vào những biến cố cách mạng, vào đời sống xã hội đương thời. Trong Raxin và Sếchxpia, ông viết: "Tôi chẳng là gì cả nếu tôi cô độc. Tôi chẳng là gì cả nếu đằng sau tôi chẳng ai đi theo. Và tôi là tất cả nếu độc giả tự nhủ: con người này vận dụng tư tưởng tiến lên trước".

    Từ đó Xtăngđan đi tới chỗ khẳng định rằng khi mà đời sống xã hội đã xảy ra những biến chuyển lớn, người ta không thể đứng nguyên ở những vị trí mỹ học cũ, khi mà điều kiện xã hội thay đổi thì quan niệm về cái đẹp cũng thay đổi và nghệ thuật cũng phải thay đổi. Trong cuốn Lịch sử hội họa Ý, ông viết: "Thế giới bị cách mạng xâm nhập. Nó không bao giờ còn quay trở lại nền cộng hòa cổ đại, hay nền quân chủ Lui XIV", Trong Raxin và Sếchxpia, ông vạch ra rằng qua lịch sử nước Pháp nhân dân chưa bao giờ trải qua, trong phong tục và sở thích của họ, những thay đổi mau chóng hơn và triệt để hơn là trong khoảng từ 1780 đến 1823, "ấy thế mà người ta lại vẫn muốn đem đến cho chúng ta cái thứ văn chương đó!" (tức chủ nghĩa cổ điển), và "ngày nay, bắt chước Xôphôclơ và Oripiđơ mà cho rằng những sự bắt chước đó không làm cho người Pháp thế kỷ XIX ngáp dài, thì đó là chủ nghĩa cổ điển"... Thế là Xtăngđan đả kích bọn hậu sinh phản động của chủ nghĩa cổ điển muốn khôi phục sự sùng bái cổ đại hoặc duy trì luật tam duy nhất và thờ mỗi hai chân trong bi kịch. Theo ông, chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII đã được đại diện đầy đủ nhất trong sáng tác của Raxin. Ông không phủ nhận Raxin là một nhà văn lớn nhưng ông cho rằng thời đại sinh ra Raxin đã qua lâu rồi, bây giờ Raxin không còn có thể biểu thị những yêu cầu mỹ học mới được nữa. Và ông khuyên, không phải là bắt chước thẳng kịch của Sếchxpia, mà là học ở nhà đại văn hào này "cái cách nghiên cứu thế giới trong đó chúng ta đang sống và cái nghệ thuật đem lại cho người đồng thời với chúng ta đúng cái loại bi kịch mà họ cần đến". Như vậy, rõ ràng là Xtăngđan đã đánh giá một cách sáng suốt nhà văn hiện thực lớn Sếchxpia, và ông khẳng định mạnh mẽ luận điểm về tính lịch sử của nghệ thuật.

    Đồng thời, Xtăngđan cũng đã đề ra luận điểm về tính chân thực của nghệ thuật. Cũng trong Raxin và Sếchxpia, ông tỏ ý khen ngợi một vở hài kịch đương thời vì những biến cố trong tác phẩm đó "giống như sự việc xảy ra hàng ngày dưới con mắt chúng ta", và những nhân vật của nó "hệt như những người mà chúng ta gặp hàng ngày trong các phòng khách"... Tóm lại, vở hài kịch đó mô tả xã hội
    y như nó sinh hoạt và vận động năm 1824"... Trong tiểu thuyết Đỏ và Đen, nhắc lại một lời của Rêan, Xtăngđan xác định tính chất của tiểu thuyết như "một tấm gương đi dạo trên một đường cái lớn. Nó phản ảnh vào mắt ngài khi thì màu xanh thẳm của bầu trời, khi thì chất bùn nhơ của những vũng lầy trên đường cái. Và con người mang tấm gương đó trong cái gùi đeo lưng của y sẽ bị ngài buộc tội là phản đạo đức! Tấm gương của y trình bày bùn nhơ, ngài lại buộc tội tấm gương! Hãy buộc tội con đường cái lớn trên đó có vũng bùn thì đúng hơn, và hơn nữa hãy buộc tội viên thanh tra lục lộ đã để cho nước đọng bùn lầy thành vũng. Chính sự phản ánh chân thực đờisống xã hội, bóc trần cả những cái xấu xa của nó ra, đã nổi bật trong các tiểu thuyết của Xtăngđan, đặc biệt trong Đỏ và Đen và trong Tu viện thành Pacmơ là những bản cáo trạng đanh thép đối với xã hội quý tộc và tư sản đương thời

    Nhưng khi mô tả chân thực đời sống xã hội, mô tả cuộc sống và con người, Xtăngđan, khác với Banzắc, ít quan tâm đến ngoại vật, đến hoàn cảnh xung quanh trong đó biến diễn hành động. Ông tập trung chú ý vào sự phân tích nội tâm, phân tích cuộc đấu tranh bên trong của nhân vật, qua thái độ của nhân vật đối với xã hội, ông phê phán xã hội. Ông đã từng nghiên cứu tâm lý con người sâu sắc trong tác phẩm nghiên cứu về tình yêu. Trở thành bậc thầy về phân tích tâm lý, ông mở đầu cho (1-) Đỏ và Đen của Xtăngđan (chương XIX, quyển II). một dòng tiểu thuyết gọi là "tiểu thuyết tâm lý" với hai tác phẩm nổi tiếng nói trên. Chính Banzắc, với bài phân tích phê bình đặc sắc tiểu thuyết Tu viện thành Pacmơ, đã cho ta thấy rõ, về mặt đó, phong cách khác hẳn nhau giữa hai nhà tiểu thuyết hiện thực lớn của thời đại.

    Là nhà phân tích tâm lý bậc thầy, Xtăngđan chú trọng đến nhiệt tình, đến dục vọng của con người. Vấn đề dục vọng chiếm một vị trí đặc biệt trong triết học và sáng tác của ông. Ở điểm này, ông là người kế thừa trực tiếp của các nhà triết học ánh sáng. Theo họ, dục vọng là phẩm chất cần thiết cho sự phát triển hài hòa xã hội và con người. Điđorô (Diderot) chẳng hạn cho rằng dục vọng trước hết là một hiện tượng xã hội. Theo ông, con người lãnh đạm, không có nhiệt tình, không có dục vọng thì không thể là một công dân, vì bất cứ tình cảm công dân nào cũng đều là dục vọng. Chủ nghĩa yêu nước là gì? - Đó là một dục vọng. Tình bạn bè là gì? - Đó cũng là một dục vọng. Theo liền Điđorô, Xtăngđan cũng hiểu dục vọng một cách rộng rãi như vậy. Ông cho rằng khả năng dục vọng là tiêu chuẩn không phải chỉ của trình độ tri thức mà còn của sự phát triển công dân của con người, và dục vọng chính la khả năng của con người về những tình cảm lớn, những xúc động tự nhiên và sinh động, về những sự nghiệp anh hùng và vô tư.

    Nhưng, theo nhận thức của Xtăngđan thì dục vọng không bao giờ đối lập với lý trí mà chịu sự kiểm soát của lý trí. Nguyên tắc duy lý đó, ông cũng đã thừa hưởng của các nhà triết học ánh sáng. Trong tác phẩm về tình yêu, ông nghiên cứu tình yêu trên cơ sở duy lý nghiêm ngặt. Ông bàn về những điều kiện và nguyên nhân phát sinh tình yêu và thiết lập các giai đoạn phát triển của nó. Trong tiểu thuyết của ông, những nhân vật như Juyliêng Xôren, Matinđơ đơ la Môlơ, như Fabrixơ đen Đôngô, Xăngxêvêrina, là những người có dục vọng mãnh liệt, có tình yêu mãnh liệt, nhưng ngay khi họ bị dục vọng thôi thúc họ vẫn luôn luôn lý luận về tình cảm của họ, suy nghĩ về tác động của nó và đặt nó dưới sự kiểm soát của lý trí. Và Xtăngdan theo dõi trình bày từng bước phát triển tình yêu của họ như một nhà mổ xẻ nghiêm túc.

    Xtăngđan cho rằng xã hội có thể thúc đẩy những dục vọng mãnh liệt, những phẩm chất anh hùng phát triển ở con người hoặc ngược lại bóp chết chúng, ông đã chú ý quan sát xã hội đương thời về phương diện này và đã nhận thấy trong thời kỳ cách mạng Pháp thế kỷ XVIII cũng như trong phong trào vận động giải phóng dân tộc và thống nhất nước Ý đã có những điều "kiện xã hội thúc đẩy sự xuất hiện những nhiệt tình cao quý và những sự nghiệp anh hùng. Còn như ở Pháp, dưới thời Trùng hưng cũng như thời Quân chủ tháng bảy, thì cái hơi lạnh chết chóc của chế độ phản động phong kiến và Nhà thờ cũng như sự chiến thắng của thói danh lợi đê tiện và chủ nghĩa con buôn của giai cấp tư sản đã phá hoại, thủ tiêu mọi khả năng xuất hiện những tình cảm lớn, những tính cách anh hùng. Trong điều kiện đó bất cứ một con người nào có phẩm chất, có tâm hồn, bất cứ ai khao khát sự nghiệp anh hùng, dù chỉ là chủ nghĩa anh hùng cá nhân, không thể không đi vào con đường chống đối lại cái thực tại tư sản tầm thường, hèn kém. Đó chính là tấn bi kịch của những nhân vật như Juyliêng Xôren, như Fabrixơ đen Đôngô, bi kịch mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, nó là chủ đề chung của nhiều tiểu thuyết của Xtăngđan và được thể hiện xuất sắc nhất trong tiểu thuyết Đỏ và Đen.

    Trong cuộc đấu tranh văn học, Xtăngđan đề cập tới cả vấn đề bút pháp, phong cách. Một mặt ông chống lại cái tính khoa trương, hoa mỹ, giả tạo trong bút pháp của bọn cổ điển chủ nghĩa. Mặt khác, ông cũng đối lập với bút pháp của phái lãng mạn chủ nghĩa mà người tiêu biểu nhất là Satôbriăng (Chateaubriand). Phong cách của nhà văn này rất được thịnh hành trong những năm 20, đó là lối văn bóng bẩy, kiểu sức như lối truyền giáo của bọn nhà thơ, lối văn mà Mác rất ghê tởm, với cái thâm thúy giả tạo, cái phóng đại phù phiếm, cái lối làm dáng bằng tình cảm, mầu mè, bóng bẩy, lạm dụng hình dung từ, lạm dụng cổ ngữ, thổ âm, thuật ngữ để tạo ra cái gọi là "mầu sắc địa phương". Xtăngđan chủ trương một bút pháp trong sáng, giản dị, ngắn gọn, đạt tới sự chính xác tối đa. Trong một bức thư gửi cho Banzăc, ông viết: "Tôi biết một quy tắc duy nhất: phải trong sáng. Nếu tôi không trong sáng, toàn bộ thế giới của tôi không tồn tại được". Ông kể lại rằng khi viết cuốn Tu viện thành Pacmơ, để đạt tới giọng văn chính xác và để cho việc biểu hiện luôn luôn được tự nhiên và chân thực, hàng ngày ông đọc hai ba trang trong bộ Dãn luật của Napôlêông. Chỉ một điều đó, chỉ một việc đi ngược lại cái thời thượng chuộng lối văn đại cà sa của Satôbriăng đã khiến cho giới phê bình văn học tư sản không ưa Xtăngđan và lưu truyền câu chuyện hoang đường coi ông là một nhà văn bút pháp kém cỏi! Xtăngđan chống lại mọi thứ kéo dài, ông không dùng sự mô tả rườm rà. Ở điểm này bút pháp của ông khác hẳn bút pháp của Victo Huygô cũng như của Banzắc thì lòng thiên vị những mô tả kéo dài về ngoại hình, ngoại vật. Xtăngđan, trái lại, mô tả rất ngắn, ông có khả năng chỉ bằng vài nét chính xác có khi nêu lên cả một hiện tượng lớn, ông biết phát hiện ra cái gì là chủ yếu nhất để nêu lên đặc trưng mặt này mặt khác của cuộc sống. Ví như trong Tu viện thành Pacmơ, ông chỉ vẽ lên chi tiết một xác lính chết mất giày để thò ra đôi chân bẩn mà Fabrixơ đen Đôngô bắt gặp trên đường đi để cho anh ta thấy cái mặt tầm thường của chiến tranh. Chính Banzắc đã phân biệt rõ điều đặc biệt đó trong bút pháp của Xtăngđan khi ông nói: "Bâylơ theo một nguyên lý lớn: trong nghệ thuật khốn khổ cho kẻ nào nói hết mọi thứ", Xtăngđan đưa cái yêu cầu trong sáng, giản dị, chính xác vào cả cái địa hạt rất khó thực hiện mà là địa hạt sở trường của ông, đó là phân tích tâm lý, mô tả tâm trạng phức tạp của nhân vật. đây rõ ràng Xtăngđan đã vạch ra một hướng mới cho "tiểu thuyết tâm lý", ông đưa tính chính xác, tính khoa học vào việc phân tích tâm lý. Ông đi sâu vào nghiên cứu thế giới bên trong của con người, cố gắng tìm ra những quy luật của đời sống tâm lý, và mặc dầu ông theo dõi rất tỉ mỉ sự phát triển của nó, ông không bao giờ biến thế giới nội tâm thành cái gì bí hiểm, hũ nút như rất nhiều người sau ông sẽ làm. Đó là vì nhà văn hiện thực lớn Xtăngđan phát hiện được rằng tâm lý nhân vật bao giờ cũng được quyết định bởi toàn bộ điều kiện xã hội trong đó nhân vật sống và hoạt động. Ví như Juyliêng Xôren suy nghĩ và hành động thế nào là do cả cái môi trường gia đình, xã hội chung quanh đã tác động sâu sắc đến anh ta. Từ đó, Xtăngđan đã có thể đi tới vẽ lên được những tính cách điển hình đề ra trong những hoàn cảnh điển hình, nó là đặc trưng cơ bản của phương pháp hiện thực chủ nghĩa.

    Ấy thế nhưng, như trên đã nói, lúc ông còn sống, ít người biết đến Xtăngđan. Giới nghiên cứu và phê bình văn học tư sản lặng thinh hoặc hạ thấp giá trị của ông vì ông đã đi ngược lại những tiêu chuẩn văn học, mỹ học được số đông công nhận thời bây giờ, và nhất là vì tác phẩm của ông là những bản tố cáo mãnh liệt bộ mặt đồi bại, xấu xa, giả dối của xã hội tư sản quý tộc đương thời, trong sáng tác của ông, mạnh hơn ở bất cứ một nhà văn nào khác của thế kỷ XIX, vang lên cái âm vang của cuộc cách mạng Pháp vĩ đại. Tài năng của Xtăngđan chỉ được một số ít người đương thời biết đến và tiếp đón với một thái độ thông cảm, mà đó là những người xuất sắc nhất, tài giỏi nhất của thời đại như Gớt (Goethe), Puskin (Pouchkine), Banzắc. Và quả nhiên, như Xtăngđan đã dự đoán, mãi khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mới nhiều ngườì đọc sách của ông, nghiên cứu và nhận hết giá trị lớn lao của sự nghiệp sáng tác của ông. Và không ít người đi theo vết chân của ông, tôn ông là bậc thầy lớn của “tiểu thuyết tâm lý", thừa nhận ông là một trong những kiện tướng của trào lưu chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học thế giới. Nói về Xtăngđan, nhà đại văn hào hiện thực xã hội chủ nghĩa Măcxim Gorki viết: "Nếu có thể so sánh tác phẩm của Xtăngđan với những bức thư, có lẽ đúng hơn phải gọi những tác phẩm đó là những bức thư cho tương lai".

    m - TIỂU THUYẾT ĐỎĐEN (1831)

    Để viết tiểu thuyết Đỏ và đen, Xtăngđan đã mượn chuyện của một vụ án có thực đăng trên mục thời sự một tập san tòa án năm 1827. Một thanh niên là Ăngtoan Bectê, con một người thợ thủ công, sau khi học ở một chủng viện, vào làm gia sư ở một gia đình và được bà chủ nhà yêu dấu. ít lâu sau vì ghen tuông anh giết bà ta và bị kết án tử hình, về mặt sự kiện, vụ Bectê được kể lại khá đúng trong cuốn tiểu thuyết của Xtăngđan, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Sự thật, nhà văn đã xây dựng tác phẩm của mình bằng vô số tài liệu rút ra từ những kinh nghiệm sống phong phú của bản thân tác giả, từ những quan sát tỉ mỉ đời sống xã hội của ông trong bao nhiêu năm, và ông đem lại cho câu chuyện riêng ngẫu nhiên đó một ý nghĩa điển hình rộng rãi.

    Nhưng tại sao Xtăngđan lại đặt cho cuốn tiểu thuyết cái tên Đỏ và Đen? Nhà văn không để lại một lời giải thích nào cho nên các nhà nghiên cứu và phê bình đã tranh luận nhiều và hiểu rất khác nhau, thậm chí có người giải thích một cách khá tùy tiện. Chẳng hạn người ta cho rằng đây là câu chuyện đánh bạc, quay số, lấy may rủi quyết định, số phận thành hay bại! Nhiều người hiểu màu "đỏ" là màu của quân sự mà màu "đen" là màu của nhà thơ, chỉ ra hai cái chí hướng của nhân vật Juyliêng Xôren. Gần đây các nhà nghiên cứu Xô Viết đưa ra một quan điểm có thể tin cậy được vì nó dựa vào nội dung tư tưởng của tác phẩm để giải thích, nêu lên mối tương phản giữa tinh thần cách mạng, tính cách anh hùng, tình cảm mãnh liệt tượng trưng bằng màu đỏ, với những thế lực phản động, đồi bại, đen tối của giai cấp quý tộc, nhà thơ và giai cấp tư sản thắng thế dưới thời Trùng hưng.

    *

    Không phải ngẫu nhiên mà Xtăngđan đã cho tác phẩm Đỏ và Đen một cái đầu đề phụ là "Biên niên sử thế kỷ XIX". Rõ ràng, Xtăngđan muốn bám sát sự thật lịch sử, và ông không chỉ đóng khung tác phẩm của ông ở cái tiểu sử của Juyliêng Xôren mà trải ra cả một bức tranh thời sự rộng lớn của xã hội Pháp đương thời, vả chăng, muốn mô tả sinh động và sâu sắc bản thân nhân vật Juyliêng Xôren, tâm lý và hành động của anh ta, cuộc sống và đấu tranh của anh ta, tác giả không thể không đặt anh ta vào cái hoàn cảnh xã hội trong đó anh ta đã sinh ra và lớn lên, cái xã hội mà Xtăngđan một nghìn lần nguyền rủa vì nó đã hủy hoại cả cuộc đời của chàng thanh niên Juyliêng Xôren có trí tuệ và có nghị lực, mà tác giả vô cùng trìu mến và thương xót.

    Đó là cái xã hội Pháp dưới thời Trùng hưng, sau những năm chiến công vang dội của Napôlêông, dòng họ Buốcbông do quân đội nước ngoài đưa về khôi phục lại nền dân chủ trên cơ sở xã hội mà cuộc cách mạng 1789 vừa mới dựng lên. Chính quyền tư sản tạm thời bị dẹp, 30 bọn quý tộc di cư theo gót nhà vua trở về, một số lớn, với tư tưởng bảo hoàng cực đoan, âm mưu thủ tiêu những thể chế mới và khôi phục lại những đặc quyền đặc lợi xưa kia của chúng, mong dựa vào viện trợ của nước ngoài và cấu kết với bọn tôn giáo phục tùng Giáo hoàng , bọn này thành lập Hội Thánh lũng đoạn và chi phối cả chánh quyền ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, giai cấp quý tộc chỉ là một lực lượng đang suy tàn, xu thế của xã hội Pháp vẫn là đi vào con đường tư bản chủ nghĩa với công cuộc công nghiệp hóa vừa bắt đầu, vì vậy giai cấp tư sản, dù tạm thời bị lép vế, vẫn là một lực lượng ở cái thế đi lên và đang bộc lộ hết tính chất cục kỳ xấu xa, tàn ác của nó trong thời kỳ tích lũy nguyên thủy.

    Chính là với con mắt sắc sảo của một nhà văn hiện thực lớn, Xtăngđan đã nhận ra cái xu thế tất yếu đó của xã hội Pháp đương thời mà ông mô tả sắc nét hơn ở hầu hết trong thiên tiểu thuyết kiệt tác Đỏ và Đen.

    *

    Hãy xem ông mô tả giai cấp quý tộc với hai nhân vật tiêu biểu của nó là đơ Rênan, đại diện cho tầng lớp quý tộc tỉnh nhỏ, và hầu tước đơ La Môlơ, đại diện cho bọn quý tộc trong xã hội thượng lưu ở Pari. đơ Rênan thuộc một dòng dõi quý tộc lập nghiệp đã lâu đời ở địa phương Frăngsơ Côngtê. Hắn vừa làm thị trưởng thị trấn Verie vừa là chủ một xưởng làm đinh. Chính ở điểm này hắn là một điển hình đáng chú ý của gã quý tộc thời Trùng hưng, quý tộc đi vào con đường tư sản hóa. Và Xtăngđan quả là nhà văn Pháp đầu tiên đã nhận thấy "quá trình tái sinh của giai cấp quý tộc trong giai cấp tư sản". Bằng hai câu, ông lột được hết tính cách của đơ Rênan: "Nhưng chả mấy chốc, người du khách Pari đã thấy khó chịu vì một cái vẻ tự mãn tự phụ hoa lẫn cái gì tuồng như thiển cận và ngu đần. Nghĩa là người ta cảm thấy rằng tài trí của con người đó chỉ giới hạn ở chỗ có ai nợ y cái gì thì y đòi cho thật đúng kỳ hạn, còn y nợ ai thì y trả hết chậm chạp lươn khươn". Thế là ở hắn hợp nhất cái lòng tham lam bần tiện của một gã tư sản với cái tính kiêu căng ngu xuẩn của một kẻ quý tộc. Hắn kiêu hãnh vì nguồn gốc của hắn và lấy làm xấu hổ vì là một công nghiệp gia, nhưng điều đó không hề ngăn cản hắn chỉ chạy theo tiền lãi trong cái nghề buôn sắt, làm đinh, thêm vào đó, hắn lại có cái thô bỉ cục cằn của một tên quý tộc nông thôn, thậm chí rất mực thô bạo ngay cả với vợ hắn mà hắn rất nể vì bà ta có hồi môn lớn và đang có một bà cô sắp để lại cho một gia tài kếch xù. Song, để cho hình tượng đơ Rênan được trọn vẹn, tác giả lại vạch ra cả bước đường xuống dốc của gã quý tộc tư sản hóa đó. Nếu ở đầu cuốn tiểu thuyết được vẽ lên cái vẻ đường bệ của đơ Rênan trên ghế thị trưởng, thì ở cuối truyện tác giả để hé cho ta nhìn thấy cái cảnh lu mờ bi đát của hắn sau khi bị bẩy ra khỏi ghế thị trưởng, và từ hàng ngũ bảo hoàng hắn đã chuyển thành đảng viên tự do để hoàn thành bước đường tư sản hóa của hắn cả về mặt chính trị.

    Tất nhiên tầng lớp quý tộc quyền thế ở thủ đô mà đơ La Môlơ đại diện có phần ngang ngạnh hơn trên con đường tư sản hóa. Chúng kiêu căng đến tột bực, chúng "không che đậy lòng khinh bỉ thành thật của chúng đối với tất cả những ai không xuất thân từ đám người từng leo lên những cỗ xe của nhà vua". Nhưng điều đặc sắc là Xtangđan đã vẽ nổi bật lên cái không khí lạnh lẽo, buồn nản, "chết ngạt về tinh thần" của giai cấp đang tàn lụi đó. Những phòng khách của chúng, "buồn rầu ngang với tráng lệ, là xứ sở của ngáp dài và lý luận tẻ ngắt", ở đó ngự trị ba thứ, kiêu căng, chán chường và lễ phép hoàn hảo. Quả thật chúng hết sức kiêu căng, tự phụ, nhưng chúng lại rất mực lễ phép, lịch sự, chúng ăn nói hết sức nhã nhặn, không muốn làm mất lòng ai, phát biểu ý kiến hơi mạnh một chút thì tưởng như đã làm một điều thô tục "lo sợ nói ra một điều gì khiến người ta nghi ngờ là có tư tưởng khác thường hay để lộ ra là đã đọc một thứ sách gì bị cấm". Nói trắng ra, lễ phép đấy, lịch sự đấy, nhưng thực chất là giả tạo, hời hợt và tẻ ngắt, đó là biểu hiện của cái gì đang suy tàn. Tựu trung cái bao trùm lên tất cả là một nỗi chán chường vô tận. Thậm chí những thanh niên lui tới nơi phòng khách đó cũng đều uể oải ngáp dài, họ dường như đã mất hết cả nhiệt tình, không còn chút sinh khí. Gã con trai hầu tước đơ La Môlơ chẳng hạn, hắn rất mực thanh lịch, thông minh, và dũng cảm có thừa, nhưng hắn chỉ là một "thằng điên lúc mười hai giờ trưa không bao giờ biết đến hai giờ sẽ làm gì". Rõ ràng là cái giai cấp ăn trên ngồi trốc, sống bằng mồ hôi nước mắt của người khác đó, thật là nhàn rỗi, và tìm đủ mọi cách lấp thì giờ trống rỗng, chúng cưỡi ngựa, đấu gươm, khiêu vũ, để ria mép và chạy theo mọi thú vui tầm thường. Thậm chí, già như hầu tước đơ La Môlơ cũng nói thẳng với một linh mục rằng việc chăm sóc các thú vui chơi của ông ta "phải là điều coi trọng hàng đầu", vì "duy chỉ có vui chơi là thật sự ở đời".

    Nhưng một người như hầu tước đơ La Môlơ chẳng phải là kẻ chịu ngồi yên để chờ ngày suy sụp. Ông ta cũng bận rộn lắm chứ, mà bận những việc thật là to tát, không kể "hai việc nhỏ nhặt nhưng khá quan trọng" là chăm sóc cơ nghiệp và chăm sóc thú vui chơi. Chẳng hạn, "ông mưu mô vận động để làm cho cả nhà vua và quốc gia chấp nhận một bộ nào đó, bộ này sẽ tạ ơn ông, đưa ông lên hàng công tước". Song, cái việc quan trọng hơn cả đối với hầu tước đơ La Môlơ mà cũng là đối với cả giai cấp quý tộc là việc duy trì chế độ, duy trì địa vị thống trị của giai cấp. Chẳng là bản thân các ngài quý tộc đã từng trải qua cuộc cách mạng 1789 rồi, nhất là trải qua nền chuyên chính Jacôbanh. Như con chim phải tên sợ cành cây cong, bây giờ các ngài đó luôn luôn nơm nớp, đi mỗi bước lại tưởng như đằng sau mỗi bức hàng rào ẩn nấp một chiến sĩ Jacôbanh, một Rôbexpie, thậm chí các ngài sợ hãi cả người đánh xe hay kẻ đầy tớ trong nhà. Hơn ai hết, hầu tước đơ La Môlơ thấy rõ cái số phận giai cấp mình như trứng để đầu đẳng. "Thưa các Ngài, ông ta nói trong một cuộc họp kín, ngai vàng, nhà thờ, giai cấp quý tộc có thể tiêu ngay ngày mai, chừng nào mà chúng ta chưa tạo nên được ở mỗi tỉnh một lực lượng với năm trăm người tận tụy... Mỗi chúng ta phải hy sinh một phần năm lợi tức của mình để thành lập cái đội quân nhỏ năm trăm người tận tụy đó ở mỗi tỉnh. Bấy giờ thì các ngài mới có thể trông mong được ở một sự chiếm đóng của quân nước ngoài. Không bao giờ người lính nước ngoài vào sâu đến Đijông thôi, nếu hắn không chắc chắn được thấy có năm trăm người lính bạn trong mỗi tỉnh. Các vua nước ngoài chỉ lắng nghe các ngài khi các ngài báo tin cho họ là có hai vạn người quý tộc sẵn sàng cầm vũ khí để mở cho họ các cửa ngõ của nước Pháp. Các ngài sẽ bảo công việc đó nặng nhọc lắm, nhưng, thưa các ngài, cái đầu chúng ta là ở cái giá đó. Giữa sự tự do báo chí và sự tồn tại của chúng ta ở địa vị quý tộc là cuộc chiến đấu sống mái. Hoặc các ngài sẽ trở thành dân công nghệ, nhà nông, hoặc các ngài phải cầm súng...". Ấy đó, âm mưu của bọn quý tộc là thế đó: chúng sẵn sàng đón quân đội nước ngoài vào để bảo vệ địa vị của chúng. Và đây, dưới ngọn bút sắc nhọn của Xtăngđan, bộ mặt của những tên quý tộc họp kín để bàn tính mưu mô kia: một tên thì to lớn với "diện mạo và ngôn ngữ của một kẻ đang tiêu hóa", một tên khác "lùn và mập, da dẻ hồng hào, mắt sáng và chẳng có biểu hiện gì khác hơn là một vẻ hung dữ của lợn lòi", tên thứ ba người bé nhỏ, nước da vàng, vẻ hơi điên, vừa bước vào đến cửa đã nói oang oang, thiên hô bát sát, một tên nữa là một đại nhân mà tất cả kiến thức chỉ là "biết nổi giận với một kẻ đi hầu"... Thiết tưởng chỉ mấy nét bút trên đây cũng đủ nói lên tất cả giá trị của những ngài quý tộc âm mưu đại sự đó!

    Tuy nhiên, ngoan nganh là thế, bọn quý tộc cung đình kia cũng không tránh khỏi sức hút của cái quỹ đạo tư sản nó đã trở thành quy luật xã hội của thời đại. Cho nên, hầu tước đơ La Môlơ, mặc dầu dè bỉu cái nghề công thương, cũng vẫn phải mượn tên người mà ném tiền vào những công việc kinh doanh đầu cơ ám muội về tài chính ở thị trường hối đoái. Chẳng hạn như khi được tin ngày mai có thể có đảo chính thì lập tức ông ta bán tống đi phiếu thực lợi quốc gia. Và một điều đặc biệt có ý nghĩa là cái việc ông ta long trọng tiếp đón gã tư sản Valonô mà ông ta đự định vận động đưa vào hàng tỉnh trưởng để làm vây cánh cho bọn ông ta.

    Nhưng, chưa nói đến giai cấp tư sản, giai cấp quý tộc còn có một địch thủ gần gũi hơn vì nó cũng là đồng minh của họ, đó là Nhà thờ cơ đốc giáo chịu sự chi phối của La-mã. Hai bên vừa cấu kết với nhau mà lại vừa kèn cựa lẫn nhau. Dưới thời Trùng hưng, giới tu hành tổ chức ra Hội Thánh (Congrégation) dăng mạng lưới khắp nơi không phải chỉ để phục hồi tôn giáo mà còn xen cả vào đấu tranh xã hội và chính trị. Ớ nhiều nơi, như ở Bơdăngxông, nó trở thành một lực lượng có khi chi phối cả đời sống chính trị ở địa phương. Và điều đặc biệt là, ở thời đại tư sản, Nhà thờ cũng không tránh khỏi vòng cương tỏa của đồng tiền, nghĩa là bên cạnh sự thờ Chúa nó cũng tôn thờ cả đồng tiền, mà có lẽ sự tôn thờ thứ hai này lại mãnh liệt hơn vì nó thiết thực.

    Với con mắt của một nhà văn hiện thực duy vật và vô thần, Xtăngđan căm phẫn vạch trần bộ mặt thật của bọn người khoác áo chùng đen. Như vậy chẳng phải là tuyệt nhiên không có một số người gọi là "chân tu", nghĩa là họ thành thật tin tưởng, thờ Chúa, và làm điều thiện, họ thuộc phái Janxênít, như linh mục Sêlăng, linh mục Pira. Nhưng phái này lép vế trước phái Jêduýt, và cả hai linh mục kia đều bị chung một số phận là bị phe địch tìm cách đẩy đi mặc dầu tuổi đã già. Trừ mấy người đó ra, còn tất cả các giáo sĩ đều được mô tả như những kẻ cũng chạy theo tiền tài, danh vị như ai, những kẻ giả nhân giả nghĩa, quỷ quyệt mà tàn ác.

    Trước hết hãy xem tác giả mô tả một nơi đào tạo ra bọn tu sĩ kia: đó là chủng viện Bơdăngxông mà tác giả gọi là một "địa ngục trần gian", ở cái trường học tôn giáo đó, các sinh đồ coi nhau như kẻ thù, hàng giờ hàng phút phải giả dối che đậy mọi ý nghĩ, tình cảm riêng, vì sự dò la và tố cáo giữa bạn học với nhau được khuyến khích. Có điều lạ là ở học viện đó, học hành giỏi giang, đứng đầu về các môn học giáo lý, lịch sử giáo hội,... lại là "một tội lỗi huy hoàng". Là vì từ thời cách mạng, Nhà thờ Pháp coi sách vở là kẻ thù và chỉ có "sự phục tùng của trái tim là tất cả". Tất cả nền giáo dục của chủng viện đóng khung ở "một tấm lòng kính trọng mênh mông và vô biên đối với đồng tiền khô và lỏng", nghĩa là tiền mặt, và sự thần phục giáo hoàng, vị Chúa thứ hai ở trái đất. Và đại đa số đám sinh đồ kia xuất thân từ nông dân nghèo khổ, chỉ trông thấy ở nghề thầy tu cái hạnh phúc lâu dài được "ăn uống no nê và có một bộ áo ấm về mùa đông". Giám đốc chủng viện là linh mục Pira thuộc dòng Janxênít thì luôn luôn bị đe dọa cách chức, và mọi người đều lấy làm ngạc nhiên vì ở cái cương vị ông ta có bao nhiêu là mối quan hệ với các tay thầu cung cấp lớn mà sau mười lăm năm cai quản chủng viện ông ta ra đi chỉ vẻn vẹn có trong tay năm trăm hai mươi quan tiền dành dụm được. Trái lại, tên phó giám đốc chủng viện Caxtanet, thù địch với ông Pira, là một kẻ không coi "một tội ác nào là đen tối quá" hắn, khuyên học trò"hãy như một cái gậy trong tay (giáo hoàng)" thì sẽ được một chức vụ bất khả bãi miễn, chính phủ trả một phần ba tiền lương bổng, và các tín đồ (...) sẽ trả hai phần ba kia. "Chính ta đây, •* hắn giải thích, - ta đã được biết những xứ đạo miền núi, bổng ngoại còn tốt hơn rất nhiều những xứ đạo ở thành phố. Tiền bạc không kém, lại chưa kể những gà trống thiến béo mẫm, trứng gà, trứng vịt, bơ tươi và hàng nghìn cái thú vị lặt vặt nữa, và ở đó, ông cha xứ là người thủ chi không ai dám chối cãi: không có bữa ăn ngon nào mà không được mời mọc, thiết đãi v.v...".

    Và đây là hình ảnh viên phó giám mục đơ Frile mà khuôn mặt, nhìn nghiêng, giống hệt diện mạo một con cáo. Hắn là một con người quỷ quyệt, đứng đầu cả mạng lưới Hội thánh Bơdăngxông, có tiếng là cất lên hạ xuống những viên tỉnh trưởng như chơi, hắn mà gửi thông điệp về Pari thì các quan tòa, tỉnh trưởng và cho đến cả tướng tá trong doanh trại cũng đều phải run sợ. Mười hai năm về trước, khi mới đến Bơdăngxông, hắn chỉ có một gói hành lý nhỏ xíu, ấy thế mà bây giờ đã nghiễm nhiên là một trong những nghiệp chủ giàu có nhất tỉnh. Hắn theo đuổi một vụ kiện lớn về đất đai, chọi nhau hẳn với hầu tước đơ La Môlơ, và mặc dầu thế lực của ông này, sau sáu năm trời, kết quả chỉ là ông ta "không đến nỗi tuyệt đối thua kiện". Thế thì tài năng của tên phó giám mục giàu có và thần thế đó như thế nào? Cái tài đặc biệt của hắn là "biết mua vui cho đức giám mục", và biết gỡ xương cá cho ông này, món cá chả là món ăn sở thích của Đức Cha, thế mà mắt người lại kèm nhem! Và cái tên phó giám mục đó chỉ thiếu chút nữa là quỳ xuống chân cô gái Matinđơ, khi hắn biết cô này là bạn thân bà cháu gái có uy thế của Đức Cha nắm trong tay quyền phân phối chức giám mục trên toàn nước Pháp.

    Chung quy bao nhiêu hình tượng bọn tu sĩ trong cuốn tiểu thuyết đều chứng minh một sự thật ghê tởm, nó trở thành như một nguyên lý mà Xtăngđan luôn luôn nhắc tới dưới hình thức này hay hình thức khác, khi thì ông nói: "ý niệm tôn giáo gắn chặt với ý niệm giả dối và kiếm tiền", hoặc khi thì: "những ý niệm hội viên Hội Thánh có thế lực và sự tàn ác thâm hiểm và quỷ quyệt khăng khít gắn bó với nhau". Và để cho bức tranh tôn giáo được trọn vẹn, ở những trang cuối tác giả kể lại lời dối dăng cuối cùng của Juyliêng Xôren nói với bạn như thế này: "... Này, bọn hội thánh Bơdăngxông qúy hóa ấy cái gì chúng cũng làm tiền được cả, nếu anh khéo thu xếp, chúng sẽ bán cho anh cái xác chết của tôi đấy...

    *

    Song giai cấp quý tộc và giới tu hành mới chỉ là hai trong ba lực lượng thực tế nắm quyền hành trong xã hội thời Trùng hưng. Tỷ như cái thị trấn Verige chịu sự áp bức của bộ ba quý tộc đơ Rênan, linh mục Maxlông và tư sản Valonô. Cái lực lượng thứ ba chính là giai cấp tư sản với chính đáng của nó là đảng tự do. Tài chẩn đoán xã hội của nhà văn hiện thực Xtăngđan chính là ở chỗ đã phát hiện ra cái chính quyền tay ba đó, và nhất là ông đã chỉ ra rằng cái lực lượng thứ ba, tức là giai cấp tư sản, tuy tạm thời có bị lép vế, nhưng nó lại là lực lượng đi lên, và bản thân nó tác động đến cả hai thành phần kia, thu hút chúng vào cái quỹ đạo tinh thần của nó. Mặt khác, ông cũng nhận ra rằng giai cấp tư sản cũng áp bức nhân dân như giai cấp quý tộc, mà cái đảng tự do kia cũng chẳng hơn gì đảng bảo hoàng.

    Muốn hay không, thời đại đó cũng là thời đại của tư sản, thời đại của đồng tiền làm chúa tể, thời đại của tinh thần vụ lợi ngự trị. Thậm chí cái thành phố Verie bé nhỏ và xinh đẹp kia cũng có thể làm cho khách tham quan ngạt thở vì cái không khí tanh hôi của những chuyện tài lợi nhỏ nhen. Từ ngôi nhà, bức tường, khu vườn, và cả hàng cây trên đường phố cũng dường như tiêm nhiễm phải cái tinh thần vụ lợi. Là vì mấy tiếng Sinh Lợi Nhuận đã trở thành nếp nghĩ thông thường của hơn ba phần tư dân Verie, nó là "cái lý lẽ quyết định hết thảy" trong cái thành phố công nghệ nhỏ nằm giữa những ngọn đồi ngoạn mục, những thung lũng cũng tươi sáng và sâu thẳm.

    Tinh thần vụ lợi, chạy theo đồng tiền của giai cấp tư sản được Xtăngđan thể hiện đầy đủ nhất trong hình tượng nhân vật Valonô, mà tính chất điển hình được tác giả nhấn mạnh bằng cách thỉnh thoảng lại biến cái tên riêng của hắn thành một danh từ chung (Ee Valenod). Hắn là đại biểu cho loại tư sản hãnh tiến, xưa kia bố không để lại cho được tới sáu trăm quan thực lợi, lúc còn ít tuổi đánh một cái áo tàng màu xanh vỏ táo ai cũng thương hại. Ấy thế mà rồi, ngoi lên tới chức giám đốc viện tế bần, hắn đã chuyển lòng thương hại của người ta thành lòng ghen tị với cặp ngựa đẹp giống Normăng của hắn, với những sợi dây chuyền bằng vàng của hắn, với những
  • Chia sẻ trang này