02. trang 15-46 - @kiemrong08 (done)

21/7/15
02. trang 15-46 - @kiemrong08 (done)
  • PHẦN I

    NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT - TỪ MỘT CÁCH NHÌN

    CHƯƠNG I NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

    1. Dân chủ trực tiếp hay Dân chủ đại diện

    Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân có thể thực thi quyền lực này trực tiếp hoặc thông qua những người đại diện. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có dân chủ trực tiếp; trong trường hợp thứ hai, chúng ta có dân chủ đại diện.

    Về mặt lý thuyết, dân chủ trực tiếp là hình thức tổ chức quyền lực dân chủ nhất. Tuy nhiên, dân chủ đại diện lại là hình thức có tính khả thi cao hơn và thiết thực hơn.

    Dân chủ trực tiếp rất dễ làm say lòng người. Thoạt nghe, nó thật giản dị và thơ mộng. Thế nhưng, đưa dân chủ trực tiếp vào cuộc sống lại là một công việc hết sức khó khăn. Xin lấy cuộc họp tổ dân phố bàn về việc cải tạo đường ông cấp nước, một trong những hình thức dân chủ trực tiếp rất phổ biến làm ví dụ: trước hết, bạn sẽ thấy mời được tất cả những người hàng xóm đáng kính của mình tới dự họp là một "sứ mệnh không thể". Các cuộc họp như vậy bao giờ cũng vắng từ 25% đến gần một nửa số cư dân đáng ra phải có mặt. Tuy nhiên, đây chỉ là chuyện "có cô thì chợ thêm đông, cô đi lây chổng thì... họp vẫn xong". Việc cải tạo đường ống dẫn nước, có thể, vẫn được cuộc họp tổ dân phố quyết định, chỉ có điều cái dân chủ trực tiếp mà chúng ta mong đợi đã gián tiếp mất gần một nửa. Chưa hết, đến khi bắt đầu thảo luận về việc thiết kế đường ống, việc đóng góp tài chính và bồi dưỡng cho các anh ở công ty cung cấp nước sạch vì đã "nhiệt tình giúp đỡ", bạn sẽ thấy câu thơ: "Láng giềng là láng giềng ơi - Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều" không chỉ đúng cho chuyện yêu đương, mà còn cả cho những chuyện ít dính dáng đến điều đó nhất. Nghĩa là, chúng ta rất khó thống nhất ý kiến được với nhau. Cho dù đó mới chỉ là những vấn đề dân sinh nho nhỏ, chứ chưa dính dáng gì đêh chuyện hòa bình thế giới cả.

    Thế thì, bạn cứ thử tượng tượng xem việc thực hiện dân chủ trực tiếp ở phạm vi một phường, một huyện, một thành phố hoặc một nước sẽ ra sao? Chỉ riêng cái chuyện tập hợp tất cả dân cư ở một địa điểm để "nói cho nhau nghe" thôi đã là điều không tưởng. Bạn vẫn có thể thực hiện dân chủ trực tiếp trong phạm vi cả nước bằng hình thức trưng cầu dân ý: Toàn dân sẽ bỏ phiếu để thông qua các quyết định quan trọng của đất nước. Về mặt lý thuyết, đây là cách làm hết sức dân chủ. Tuy nhiên, cái khoảng cách từ lý thuyết đến thực tê' cuộc sống là hết sức mênh mông theo mọi chiều của không-thời gian. Và trong cái sự mênh mông đó, chân lý, như cá lặn mất tăm dưới biên, luôn tuột khỏi tầm tay của chúng ta. Trước hết, nhận xét "dân chủ thì tốn kém" không biết do ai đưa ra, nhưng chắc chắn là để chỉ các cuộc trưng cầu dân ý như thế này. Ngoài ra, trưng cầu dân ý thường ít có ý nghĩa, khi các cuộc tranh luận sâu rộng trong toàn xã hội không thật sự diễn ra. Không tin bạn cứ thử trưng cầu dân ý về việc có nên bỏ viện phí hay học phí không mà xem. Bạn sẽ có ngay câu trả lời "nên bỏ", thậm chí trước khi cuộc bỏ phiếu thật sự diễn ra. Và những người dân đã hành động đúng. Nếu việc bỏ viện phí, học phí không kéo theo hậu quả nào đó thì nên bỏ chúng đi. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Việc làm này chắc chắn sẽ dẫn tới những hậu quả to lớn cho cả xã hội; cái được và cái mất của nó có thể lớn đến mức khó có thể tính hết ngay được. Đó là chưa nói tới tình trạng sẽ có những người được nhiều hơn, và những người mất nhiều hơn trong một quyết định như vậy. Đây là một trong những trường hợp mà dân chủ trực tiếp sẽ không dẫn chúng ta đi được đâu xa.

    Quán quân của việc thực hiện dân chủ trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý là đất nước Thụy Sĩ. Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem, nếu trong các cuộc trưng cầu dân ý chỉ có được 50 - 60% người dân tham gia. Và nếu một quyết định được thông qua với đa số quá bán của những người tham gia, chưa biết chừng một thiểu số trên dưới 30% dân cư đã quyết định thay cho cả dân tộc.

    Có thể, trong tương lai, gắn với nền dân chủ điện tử, dân chủ trực tiếp sẽ trở nên dễ dàng hơn. Điều này chỉ xảy ra khi chúng ta có được các công dân điện tử, và các công dân này có đầy đủ tư chất của các chính khách thật sự. Và trước khi điều đó xảy ra, dân chủ đại diện vẫn là cách thức tổ chức quyền lực quan trọng hơn và hữu ích hơn. Vậy thì chúng ta nên tập trung mọi cố gắng của mình dể củng,cố nền dân chủ dại diện mà chúng ta đang có. Quan trọng tăng cường khả năng đại diện của các cơ quan này (đổng thời bảo đảm công bằng xã hội). Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng một đại biểu không đủ trình độ thì sẽ rất khó thực hiện tốt chức năng đại diện, cũng như rất khó tác động lên nghị trường để bảo đảm sự công bằng xã hội. Khả năng điều chỉnh cơ cấu sau mỗi vòng hiệp thương cho thấy chúng ta đang dành ưu tiên nhiều hơn cho tiêu chuẩn của đại biểu HĐND. Đây là cách làm hợp lý. Suy cho cùng, phương thức quan trọng nhất để vận hành chức năng đại diện là bảo đảm lợi ích (cả tinh thần lẫn vật chất) của việc làm đại biểu và bảo đảm sự phụ thuộc của các đại biểu vào cử tri.

    Nhân dân bỏ phiếu cho ai chính là ủy quyền cho người đó thay mặt mình điều hành công việc của đất nước, về mặt pháp lý, sự ủy quyền chỉ được xác lập khi các ứng cử viên giành được trên 50% số phiếu của cử tri. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề quá lớn trong các cuộc bầu cử ở nước ta.

    3. Về chế định Đại diện

    Chúng ta cần các vị đại biểu Quốc hội để làm gì? Sau mười một lần đi bầu, có vẻ như đây là một câu hỏi không thật thông minh. Tuy nhiên, đây lại là một trong những vấn đề hệ trọng nhất của nền quản trị quốc gia và nền lập pháp hiện đại. Người Nga thường nói: "Một dân tộc sẽ có được những lãnh tụ như dân tộc đó xứng đáng được có." Tương ứng với nhận thức và đòi hỏi của xã hội ta là các loại đại biểu dân cử sẽ được bầu ra qua mỗi thời kỳ.

    Trong cuộc tiếp xúc với các đại biếu Quốc hội khóa XI của tỉnh Hà Tĩnh ngày 28 tháng 7 năm 2002, cựu đại biểu Quốc hội (Khóa VI) Phan Đình Diệu chia sẻ: Ngoài nhất trí ra, "chúng ta phải biết đóng góp ý kiến, phải có trách nhiệm với những người đã bầu ra mình". Bằng cách nói giản dị, ông Phan Đình Diệu đã nêu lên nội dung quan trọng nhất của việc chúng ta cần các vị đại biểu Quốc hội để làm gì: Đó là để có trách nhiệm đối với chúng ta. Chế độ trách nhiệm đối với cử tri là linh hồn của chức năng đại diện. Điều này được quy định trong Hiến pháp như sau: "Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước" (Điều 97).

    Theo các học giả J.K. Johnson và R.T. Nakamura, đại diện là một trong ba chức năng quan trọng của các cơ quan lập pháp (hai chức năng khác là làm luật và giám sát). Đại diện là điều dễ nói nhưng khó làm. Dưới đây là những khó khăn thực tế liên quan đến việc thực hiện chức năng đại diện:

    Một là, muốn đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri, trước hết phải nắm bắt kịp thời ý chí, nguyện vọng đó. Tuy nhiên, đây thật sự là bài toán hóc búa. Cử tri là một tập hợp khổng lổ những công dân có quyền Bầu cử. Ngoài việc trưng cầu dân ý, ít có cách thức đáng tin cậy nào khác để xác định được ý chí, nguyện vọng chung của các công dân này. Trên thực tế thường xảy ra các lỗi sau đây:

    1. Đại biểu nghĩ gì thì dễ cho rằng cử tri cũng nghĩ như vậy. Quyết định cung cấp miễn phí muối iốt cho đồng bào vùng cao là một ví dụ (Quốc hội khóa IX). Sau một năm thực hiện, nhiều đại biểu mới phát hiện ra rằng cử tri muốn được mua muối iốt (với giá hợp lý), chứ không phải muốn được cho không. Đơn giản là nếu cho không thì không bao giờ muối iốt đến được với tất cả những người cần dùng.

    2. Đại biểu nghe đại biểu. Các cuộc tiếp xúc cử tri với thành phần là đại diện của các ban, ngành, đoàn thể, đôi khi chỉ là dịp để các đại diện bán chính thức nói cho các đại diện được ủy quyền nghe. Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã nhận xét một cách rất hóm hinh về vấn đề này: "Không khéo chúng ta đang đứng trước tình trạng là đại biểu thì kiêm nhiệm, còn cử tri thì chuyên nghiệp." Trong trường hợp này, xác suất về việc tâm tư, nguyện vọng của đa số cử tri có thể hoàn toàn khác với những gì được nêu ra tại các cuộc tiếp xúc cử tri như trên là rất lớn.

    3. Các cử tri "đặc biệt" có thể dẫn đại biểu "đi lạc đường". Các cử tri đang khiếu kiện sẽ là những người tham gia và phát biểu tích cực nhất tại các cuộc tiếp xúc cử tri. Mặc dù yêu cầu, nguyện vọng của các cử tri này cần được lắng nghe và quan tâm giải quyết song họ có thể không nói lên tiếng nói chung của cử tri.

    Các cuộc tiếp xúc cử tri là rất quan trọng, nhưng có lẽ chưa đủ để nắm bắt kịp thời ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Các phương tiện thông tin, báo chí; các cuộc điều tra dư luận xã hội; các buổi tiếp xúc, trao đổi không chính thức là các cách thức quan trọng khác.

    Một xã hội dân sự năng động với các tổ chức xã hội, các nhóm lợi ích và các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển là cơ sở để xác định chính xác và kịp thời ý chí, nguyện vọng của cử tri.

    Hai là, nắm bắt ý chí, nguyện vọng của cử tri không dễ - biến chúng thành hiện thực còn khó hơn.

    Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X (1997-2002), đại biểu Nguyễn Duy Quý, cựu Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, đã làm được hai việc hết sức quan trọng cho cử tri ở đơn vị Bầu cử của ông (huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An): 1- Tác động để cải tạo đường giao thông nối với thành phố Vinh. 2- Tác động để xây dựng lại cầu Trằm. Tuy nhiên, không phải đại biếu nào cũng làm được như vậy. Thông thường, các đại biểu có thế lực, có quan hệ và có khả năng mới làm được điều này. Đây là lý do tại sao nhiều địa phương chỉ mong muốn được tiếp nhận các ứng cử viên có thế lực (chủ yếu là các vị bộ trưởng) về ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương mình.

    Tuy nhiên, quyền lợi của cử tri ở đơn vị Bầu cử thường phải được đặt chung trong quyền lợi của quốc gia (của cử tri cả nước). Xử lý mối quan hệ này là nhiệm vụ chính trị khó khăn.

    Theo các nhà nghiên cứu, chế độ trách nhiệm đối với cử tri được các đại biểu Quốc hội thể hiện qua các hình thức hoạt động cụ thể sau đây: 1- Hình thành chính sách. 2- Cung câp dịch vụ. 3- Bảo đảm phần xứng đáng của cử tri trong việc phân bổ ngân sách.

    Ba là, có khá nhiều cách thức (chủ thuyết) đại diện. Vấn đề là chúng ta muốn được đại diện theo cách nào?

    Việc tại một kỳ họp của Quốc hội khóa VIII, theo đề nghị của cử tri, Đoàn đại biểu Quổc hội Thành phố Hổ Chí Minh đã cố gắng tác động để Chính phủ sớm tìm cho nền tài chính nước nhà một vị bộ trưởng mới, thì đó là đại diện theo lệnh. Theo cách thức này, các đại biếu sẽ thực hiện những mệnh lệnh cụ thể của cử tri.

    Thế nhưng, các vị đại biểu không phải bao giờ cũng hành động như vậy. Điều dễ thấy là mặc dầu có hàng ngàn ý kiến và kiến nghị của cử tri gửi tới mỗi kỳ họp, Quốc hội vẫn tiếp tục xem xét và quyết định các vấn đề đã được đưa vào chương trình nghị sự từ trước. Trong trường hợp này, các đại biểu đã tự mình quyết định việc gì đang là quan trọng nhất cho cử tri. Cách hành xử như vậy là đại diện theo ủy quyền.

    Ngoài ra, các học giả còn nói đến chủ thuyết đại diện trung gian: các đại biểu làm trung gian để thỏa hiệp các lợi ích khác nhau của cử tri; chủ thuyết đại diện biểu trưng: các đại biểu biểu trưng cho sự dung hòa giữa các sắc tộc, tôn giáo v.v...

    Đại diện theo ủy quyền là cách thức mà đa số các nước trên thế giới đang áp dụng.

    Cuối cùng, chức năng đại diện là chiệc cầu nối tất cả chúng ta với quyền lực Nhà nước. Và hy vọng rằng các đại biểu Quốc hội sẽ là những nhịp cầu tin cậy của cử tri chúng ta.

    4. Quốc hội điện tử

    Quốc hội điện tử là một thuật ngữ đang vào mốt. Cũng giống như chữ @ cứ nhắc đến là đã thấy sang. Mặc dầu, chữ @ thì đóng góp được gì cho hệ thống chữ cái đang tồn tại từ trước đến nay? Quốc hội điện tử cũng vậy. Những người nghèo đã bao năm chờ bảo hiểm y tế sẽ được gì trong sáng kiến này?

    Thực ra, Quốc hội điện tử là một thuật ngữ có tỷ lệ nội địa hóa còn tương đối thấp. Ngoài cái sự sang, nó không nói được gì nhiều cho trí tuệ của chúng ta.

    Ở nước ngoài, khái niệm tương tự là nghị viện điện tử. Nghị viện điện tử được hiểu là việc áp dụng công nghệ số và các công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology - ICT) để nâng cao hiệu quả hoạt động của nghị viện và mở rộng sự tương tác giữa nghị viện với cử tri. Nghị viện điện tử là phần hợp thành của một khái niệm rộng lớn hơn là dân chủ điện tử.

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động của nghị viện, thì tự động hóa, số hóa và quản trị thông tin, tri thức ở nghị viện là những nội dung chính. Để mở rộng sự tương tác với cử tri thì việc sử dụng khả năng kết nối của ICT và các tính năng ưu việt của không gian tự động (cyber space) là nền tảng của ý niệm. Như vậy, nghị viện điện tử cũng chỉ là một nghị viện bình thường được trang bị phương tiện hiện đại để hoàn thành tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.

    Quốc hội điện tử ở ta có lẽ cũng sẽ được phát triển trên cơ sờ của khung khái niệm này. Nếu vậy, chúng ta cũng đã làm được một số việc.

    Trước hết, hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đã được hình thành. Quốc hội đã có các mạng máy tính ở Hội trường Ba Đình, ở Trụ sở Văn phòng Quốc hội tại 35 Ngô Quyền, đang gấp rút xây dựng mạng máy tính ở Trụ sở mới của Văn phòng Quốc hội tại 37 Hùng Vương. Hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử đã được xây dựng, gồm có cơ sở dữ liệu luật Việt Nam, cơ sở dữ liệu dân nguyện, cơ sở dữ liệu hỏi đáp thông tin, cơ sở dữ liệu phát biểu của các vị đại biểu Quốc hội tại Hội trường, cơ sở dữ liệu đại biểu Quốc hội và cán bộ công chức Văn phòng Quốc hội v.v... Intranet và website của Quốc hội trên Internet cũng đã được xây dựng. Theo một điều tra của nhóm chuyên gia thuộc Ngân hàng Thế giới, năm 2002, website của Quốc hội (và của Tổng cục Hải quan) được đánh giá là có nhiều thông tin và được trình bày hấp dẫn nhất tại Việt Nam. Như vậy, phần tự động hóa và số hóa các tác nghiệp và các nguồn dữ liệu của Quốc hội có vẻ tương đối ổn. Tiếp tục hiện đại hóa là cần thiết, vì vốn liếng trong tay chúng ta cũng đã có ít nhiều. Thế nhưng, việc sử dụng có hiệu quả hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin là nhiệm vụ phức tạp hơn. Chiếc máy tính chỉ trở nên hữu ích khi người ta học cách sử dụng nó; hệ thống cơ sở dữ liệu cũng vậy. Tuy vậy dữ liệu vẫn có thể không trở thành thông tin; thông tin vẫn có thể không trở thành tri thức. Cuối cùng, con người điện tử và văn hóa tin học mới là những điều kiện tiên quyết. Phát triển những thứ này khó khăn hơn việc mua sắm máy tính và lắp nối mạng.

    Nội dung quan trọng nhất của khái niệm Quốc hội điện tử là việc sử dụng ICT để mở rộng sự tương tác của Quốc hội với dân. Đây là một nhiệm vụ khó khăn phức tạp hơn rất nhiều lần.


    Về mặt ý tưởng, tận dụng khả năng kết nối và lan tỏa của ICT, chúng ta có thể tạo ra một hệ thống mạng như hệ thống mạch máu trong cơ thể con người. Những cộng đồng dân cư ở vùng sâu, vùng xa sẽ được kết nối vào mạng thông qua đường dây điện thoại và các phương tiện kết nối khác. Không gian tự động (cyber space) sẽ làm cho khoảng cách biến mất, và các đại biểu của dân có thể giao tiếp được với cử tri của mình một cách dễ dàng. Một ý tưởng thật giản dị và sáng tỏ! Tuy nhiên, đưa ý tưởng này vào cuộc sống là điều không hề đơn giản, và một loạt vấn đề đang được đặt ra mà vẫn chưa có được những câu trả lời sáng tỏ.

    Trước hết, đó là sự sẵn sàng điện tử (e-readiness) của đất nước. Sự sẵn sàng điện tử lại cũng là một thuật ngữ nghe rất Tây. Rằng thì là nó cũng được dịch từ tiếng nước ngoài ra như Quốc hội điện tử vậy. Đại loại chúng ta có thể hình dung mọi chuyện như sau: Cũng giống như việc thiết kế và xây dựng các ngôi nhà phụ thuộc vào nền móng của chúng, xây dựng Quốc hội điện tử (kể cả việc ứng dụng ICT để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội) không thể tách rời khỏi những điều kiện thực tế của đất nước. Điều kiện có ảnh hưởng lớn nhất ở đây là sự sẵn sàng điện tử. Ngôi nhà Quốc hội điện tử phải được xây trên cái nền của sự sẵn sàng điện tử này.

    Thế thì đất nước ta đã sẵn sàng đến đâu? Bảng các chỉ số so sánh ICT dưới đây sẽ cho thấy sự sẵn sàng điện tử của nước ta đang ở mức nào.
    bảng biểu Các chỉ số so sánh công nghệ thông tin truyền thông

    Nguồn: SỐ liệu của Hiệp hội Viễn thông Quốc tê' 2000 và số liệu, của Tổng cục Bưu điện Việt Nam, 2002

    EAP: Khu vực Đông Á Thái Bình Dương

    Theo tất cả các chỉ số được liệt kê, chúng ta đang đứng vào hàng rất thấp trong khu vực và thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của thế giới. Xin trích lời của chuyên gia tư vấn cho UNDP về ICT Laurel Elmer nhận xét về sự sẵn sàng điện tử của Việt Nam: "Các phát hiện từ một loạt đánh giá về sự sẵn sàng điện tử mới đây cho thấy rằng Việt Nam được xếp vào một trong những hạng thấp nhất trong khu vực và được trang bị yếu kém để phát triển mạnh trong một nền kinh tế mạng hóa."

    Sự sẵn sàng điện tử này có thể chỉ là một bãi cát khổng lổ mà "lâu đài Quốc hội điện tử" khó lòng đứng vững trên đó.

    Rõ ràng, một Quốc hội điện tử sẽ ít có ý nghĩa khi thiếu những cử tri điện tử. Hiện nay, những người có thế truy cập Internet ở ta là khoảng gần 1 triệu. Trong lúc đó dân số nước ta là 80 triệu. Có vô số rủi ro tiềm ẩn trong sự chênh lệch khổng lổ này. Chưa biết chừng những cố gắng xây dựng Quốc hội điện tử chi phục vụ được cho lợi ích của một thiểu số không lấy gì làm lớn lắm trong xã hội.

    Không chỉ là cử tri điện tử mà vấn đề nghị sĩ điện tử có vẻ cũng hệ trọng không kém. Các nghị sĩ điện tử của chúng ta cũng chưa xuất hiện nhiều trong xã hội hiện nay. Cử tri nào thì nghị sĩ ấy, các đại biểu Quốc hội biết sử dụng thành thạo máy tính và Internet ở ta chưa phải là nhiều.

    Kể ra đây tất cả những khó khăn nói trên không phải là để quay lưng lại với một tương lai đang tới. Vì rằng, dù chúng ta muốn quay lưng kiểu gì chăng nữa thì vấn đề vẫn nằm ở phía trước chúng ta, và thách thức của một thế giới hội nhập vẫn treo lơ lửng trên đầu. Tuy nhiên, nhận thức rõ khó khăn là cần thiết để có được bước đi phù hợp.

    Nâng cao sự sẵn sàng điện tử của đất nước kết hợp với việc trang bị kiến thức và kỹ năng sử dụng máy tính,

    Internet cho các đại biểu Quốc hội là rất cần thiết đế xây dựng nền móng cho ngôi nhà Quốc hội điện tử. Bước tiếp theo sẽ là công bố chính thức cho tất cả các cử tri hệ thống địa chỉ e-mail (thư điện tử) của các đại biểu Quốc hội. Tiếp theo nữa là xây dựng website cho từng đại biểu Quốc hội; cung cấp các công cụ giao dịch trực tuyến; các diễn đàn trực tuyến v.v... và v.v...

    Trước mắt, một số công việc có thể triển khai ngay là cung cấp các thông tin cần thiết cho cử tri thông qua website của Quốc hội; đăng tải trên mạng các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết để xin ý kiến của nhân dân; tổ chức các cuộc điều tra dư luận thông qua mạng...

    Dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, một sáng kiến về việc xây dựng Nghị viện điện tử toàn cầu đang được triển khai. Dự kiến Nghị viện này sẽ kết nối 35 ngàn nghị sĩ của các nước trên thế giới. Mỗi nghị viện quốc gia sẽ cử tối thiểu một nghị sĩ tham gia Hội đồng Nghị viện điện tử, số lượng các thành viên Hội đồng tiếp theo sẽ căn cứ vào dân số của mỗi nước. Nghị viện điện tử sẽ xem xét và quyết định những vấn đề toàn cầu như môi trường, khí hậu, AIDS v.v... và giám sát Liên Hợp Quốc. Các nghị sĩ Việt Nam ta đã sẵn sàng cho cuộc chơi mới chưa? Thách thức rõ ràng rất lớn. Điều này cho thấy đẩy nhanh việc xây dựng Quốc hội điện tử là rất cần thiết. Cũng như bóng đá, thiếu kinh nghiệm thi đầu ở sân nhà, sẽ rất khó khăn trong các cuộc chơi trên sân quốc tế.

    5. Tiếp xúc cử tri - bài toán khó

    Giữ mối quan hệ thường xuyên với cử tri không chỉ là trách nhiệm pháp lý, mà còn là điều kiện để các vị đại biểu Quốc hội làm tốt chức năng đại diện của mình. Tuy nhiên, đây là điều không dễ thực hiện. Lý do là các đại biểu Quốc hội thường rất bận (đặc biệt là các đại biểu kiêm nhiệm). Và cử tri cũng không phải là những người nhàn rỗi. Đằng sau những quy định khắt khe của pháp luật, nhiều khi cử tri vẫn không biết tìm gặp những người đại diện của mình bằng cách nào. Ngược lại, các vị đại biểu muốn gặp gỡ, trao đổi với cử tri cũng cảm thấy lúng túng.

    Thật ra, việc giữ mối quan hệ thường xuyên với cử tri chỉ có thể thực hiện có hiệu quả trong mô hình Nhà nước điện tử (sử dụng Internet và các công nghệ số để tiếp cận người dân). Thế nhưng, ở ta, Nhà nước điện tử còn là vấn đề rất mới. Cơ sở hạ tầng cả về vật chất - kỹ thuật lẫn về con người còn có bước tụt hậu khá xa. Thậm chí, chúng ta vẫn còn chưa nhất trí được với nhau về khái niệm Nhà nước điện tử là gì. Trong điều kiện như vậy, các cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội vẫn là cách thức giữ mối quan hệ với cử tri phù hợp và rất quan trọng đối với nền chính trị nước ta.

    Các cuộc tiếp xúc cử tri cả trước và sau kỳ họp Quốc hội đều do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì. Đây là tổ chức tập hợp tất cả các lực lượng và tầng lớp của xã hội ta, vì vậy có rất nhiều thuận lợi trong việc điều phối các hoạt động liên quan đến cử tri.

    Xét về tính chất, tiếp xúc cử tri trước kỳ họp là để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; sau kỳ họp là để báo cáo kết quả.

    Tiếp xúc cử tri trước kỳ họp Quốc hội

    Các cuộc tiếp xúc cử tri trước kỳ họp giúp ích rất nhiều cho các đại biểu Quốc hội. Những lợi ích dưới đây là điều rất dễ nhận thấy:

    Một là, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Người dân càng tin đại biểu của mình bao nhiêu thì càng chân thành bấy nhiêu.

    Hai là, nắm bắt được các vấn đề đang đặt ra cho đất nước. Nhờ vậy, các cuộc thảo luận của Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội tại Hội trường thường có chất lượng và phản ánh đúng nhu cầu của đất nước.

    Ba là, nắm bắt được các thông tin cần thiết để thực hiện chức năng giám sát. Đa số các câu hỏi chất vấn được nêu ra tại các kỳ họp thường do các đại biểu thu thập được thông tin qua sự phản ánh của cử tri.

    Tuy nhiên, cách tổ chức tiếp xúc cử tri như hiện nay cũng còn có một số hạn chế. Trước hết, đa số cử tri là khách mời. Cử tri bình thường (và vì vậy đặc trưng nhất) rất ít tham gia. Trong lúc đó, các khách mời thì đa số là đại diện đáng kính của các ban, ngành, đoàn thể. Các cuộc tiếp xúc cử tri với thành phần như thế đôi khi chỉ là dịp để các đại diện bán chính thức nói cho các đại diện được ủy quyền nghe.

    Các cuộc tiếp xúc cử tri là rất quan trọng, nhưng có lẽ chưa đủ để nắm bắt kịp thời ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Các phương tiện thông tin, báo chí; các cuộc điều tra dư luận xã hội; các buổi tiếp xúc, trao đổi không chính thức là các cách thức quan trọng khác.

    Tiếp xúc cử tri sau kỳ họp Quốc hội

    Loại hình tiếp xúc cử tri này là để các đại biểu Quốc hội báo cáo về kết quả của kỳ họp. Tuy nhiên, có vẻ như qua các phương tiện thông tin đại chúng, cử tri đã được biết khá chi tiết về các quyết định của kỳ họp. Vậy thì, đâu là giá trị gia tăng của các cuộc tiếp xúc cử tri?

    Trước hết, các cuộc tiếp xúc cử tri này là biểu tượng dễ nhận thấy nhất của một nền dân chủ. Việc ủy quyền bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm báo cáo. Do các nước xã hội chủ nghĩa thường áp dụng chế độ ủy quyền theo lệnh (imperative mandate), trách nhiệm báo cáo càng được đặt ra khắt khe hơn.

    Hai là, thông tin do các đại biểu Quốc hội cung cấp sẽ có những điểm khác rất cơ bản so với của báo chí. Nếu thông tin của báo chí thường xoay quanh những "cái gì", "ra sao", thì thông tin của các vị đại biểu Quốc hội sẽ có trọng tâm là "tại sao". Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, các đại biểu sẽ giải trình về việc tại sao Quốc hội lại quyết định như vậy. Đây là thông tin phục vụ quy trình dân chủ hơn là quy trình nhận thức. Nó rất cần thiết để cử tri giám sát hoạt động của các đại biểu Quốc hội. Suy cho cùng, một quyết định lý giải được là một quyết định có trách nhiệm.

    Ngoài ra, nếu báo chí không có trách nhiệm phải làm rõ mối quan hệ giữa các quyết định của kỳ họp với lợi ích của cử tri thì các vị đại biểu Quốc hội phải làm được điều này. Điều 97 Hiến pháp nước ta quy định: "Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị Bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước."

    Chức năng đại diện đòi hỏi các vị đại biểu Quốc hội phải có năng lực phân tích cái được, cái mất của cử tri trong mỗi quyết sách của mình. Tuy nhiên, "chính trị là nghệ thuật của những điều có thể". Không ai có thể làm những điều không thể. Thế nhưng, phạm vi và tính chất của những điều có thể phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần trách nhiệm và nghệ thuật của các chính khách, các đại biểu của nhân dân.

    6. Trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị

    Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm trước pháp luật. Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm trước cử tri. Tất cả mọi công dân ai cũng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuy nhiên, không phải ai cũng chịu trách nhiệm trước cử tri. Những người không nắm giữ các chức vụ cao cấp của Nhà nước thì không phải chịu loại trách nhiệm này.

    Trách nhiệm chính trị được xác lập dựa trên sự tín nhiệm. Và sự bất tín nhiệm là loại chế tài duy nhất ở đây. Tuy nhiên, đây là loại chế tài mang nặng tính "xa xỉ": nó chỉ phát huy tác dụng trong một hệ thống chính trị có lương tâm.

    Trách nhiệm chính trị được bảo đảm bằng hai cách:

    Một là, thông qua Bầu cử.

    Hai là, thông qua hoạt động của cơ quan đại diện cho cử tri.

    Qua Bầu cử, cử tri thể hiện sự tín nhiệm, cũng như sự bất tín nhiệm của mình bằng lá phiếu. Những người không nhận đủ phiếu của cử tri thì cũng có nghĩa là không được cử tri tín nhiệm trong việc điều hành đất nước. Ngược lại, những người nhận đủ phiếu của cử tri có nghĩa đồng thời nhận được sự ủy quyền. Một chính phủ được ủy quyền là một chính phủ có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhân dân cho chương trình nghị sự mà chính phủ đó đề ra.

    Thực tế cho thấy, không phải một chính phủ nào cũng có được sự ủy quyền của cử tri. Ví dụ, chính phủ của Tổng thống Mỹ George Bush hiện nay là một chính phủ không có sự ủy quyền. Đơn giản, ông George Bush đã nhận được ít phiếu của cử tri hơn là đối thủ của mình trong cuộc Bầu cử Tổng thống vừa qua. Ông George Bush đã thắng cử theo luật (nhận được nhiều phiếu hơn từ các đại cử tri), chứ không phải theo tín nhiệm của đa số cử tri Mỹ. Đây là một sự trớ trêu của Luật Bầu cử Mỹ. Vì vậy, rất nhiều người Mỹ muốn cải cách Luật Bầu cử Tổng thống. Thực tế cho thấy, đây không phải một công việc dễ dàng. Tuy nhiên, điều hành đất nước mà không được ủy quyền thì có lẽ chỉ có ở Mỹ!

    Cử tri có thể ủy quyền theo hai cách: ủy quyền theo lệnh và ủy quyền theo chế độ ủy trị, ủy quyền theo lệnh, cũng như ủy quyền theo chế độ ủy trị là những khái niệm nghe rất lạ tai. Có lẽ, nguyên nhân chính là do những khái niệm này chưa được nhắc tới nhiều trong khoa học chính trị ở nước ta. Tuy nhiên, nếu thuật ngữ "sức khỏe sinh sản" được chấp nhận, hai thuật ngữ nói trên hoàn toàn có cơ hội để được "nhập quốc tịch" vào một ngày nào đó.

    Ủy quyền theo lệnh nghĩa là việc cử tri bầu ra đại diện của mình, và đại diện đó chỉ được làm theo lệnh của cử tri (các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thường áp dụng loại ủy quyền này), ủy quyền theo chế độ ủy trị là việc cử tri bầu ra đại diện của mình, và đại diện đó được toàn quyền quyết định mọi công việc theo cách mà đại diện đó cho là tốt nhất. Luật Bầu cử ở ta chưa quy định rõ về loại ủy quyền mà các vị đại biểu Quốc hội của chúng ta có được qua Bầu cử. Tuy nhiên, không làm rõ điều này thì bảo đảm trách nhiệm chính trị là điều không dễ.

    Nhiều quan chức cao cấp của Nhà nước không phải do cử tri trực tiếp bầu ra, vì vậy chế tài về trách nhiệm chính trị được thực hiện thông qua hoạt động của cơ quan đại diện cho cử tri. Ở nước ta cơ quan này là Quốc hội (ở địa phương là Hội đồng nhân dân các cấp).

    Hoạt động giám sát của Quốc hội mà quan trọng nhất là chất vấn, nghe báo cáo và bỏ phiếu tín nhiệm chính là công cụ để bảo đảm trách nhiệm chính trị. Và trách nhiệm chính trị mới là mối quan tâm của Quốc hội, không phải trách nhiệm pháp lý. (Quốc hội không phải là thiết chế được sinh ra để áp đặt trách nhiệm pháp lý). Tuy nhiên, đối với các quan chức chính trị, không xử lý được trách nhiệm chính trị thì việc xử lý trách nhiệm pháp lý sẽ rất khó khăn. Xin phân tích việc xét xử cựu Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải để làm rõ điều này. Do trách nhiệm chính trị đã không được xử lý trước nên vị cựu Bộ trưởng này đã bị đưa ra xét xử ở Tòa án nhân dân tối cao (không thể để Tòa án quận hoặc thành phố xét xử một bộ trưởng). Lúc đó ở Tòa án tối cao chỉ có một loại thủ tục để áp dụng cho trường hợp này là xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm, nghĩa là bị cáo không có quyền kháng án. Ông Hải đã không "tâm phục, khẩu phục" với bản án 3 năm tù (và không chỉ một mình ông Hải), nhưng đã không thể kháng cáo. Rủi ro lớn nhất ở đây là: một tên tội phạm hình sự vẫn có quyền kháng cáo, còn một vị bộ trưởng lại không có quyền này. Nếu trách nhiệm chính trị của vị bộ trưởng này được xử lý trước ở Quốc hội, sau đó như một công dân bình thường, bị cáo Vũ Ngọc Hải được đưa ra xét xử ở tòa án quận, thì điều đáng tiếc nói trên đã không xảy ra.

    Mới đây, khi bị Quốc hội chất vấn về những bê bối xảy ra ở một bộ, vị bộ trưởng có liên quan đã trả lời là ông đang hợp tác tối đa với các cơ quan tư pháp để làm rõ vụ việc và trách nhiệm đến đâu sẽ xin chịu đến đây. Các vị đại biểu Quốc hội có vẻ hài lòng với câu trả lời này. Tuy nhiên, trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý là hai vấn đề khác nhau. Các cơ quan tư pháp không thể giúp Quốc hội làm rõ trách nhiệm chính trị của một quan chức. Quốc hội chính là cơ quan có thẩm quyền và có trách nhiệm đối với công việc này.

    Trách nhiệm chính trị là một loại trách nhiệm rất quan trọng. Bảo đảm trách nhiệm chính trị là bảo đảm sự trong sạch và vững mạnh của Nhà nước.
    7.Đại biểu Quốc hội: chuyên trách hay chuyên nghiệp?

    Giữa hai thuật ngữ "chuyên trách" và "chuyên nghiệp", các nhà lập pháp nước ta đã chọn "chuyên trách" để chỉ những đại biểu làm việc 100% thời gian cho Quốc hội: "Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu hoạt động chuyên trách và có những đại biểu hoạt động không chuyên trách" (Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Điều 45). Đây là một sự lựa chọn tinh tế và chính xác.

    Chuyên trách là chuyên đảm trách một công việc. Chuyên nghiệp là chuyên theo đuổi một nghề như nghiệp của đời người và tinh thông nghề đó. Như vậy, chuyên trách chưa phải là chuyên nghiệp, mặc dù chuyên nghiệp lại chính là chuyên trách có nghề. Tuy nhiên, làm chính khách ở nước ta chưa phải là một nghề. Và bạn cũng khó theo đuổi nghề này vì phải đối mặt với một rủi ro rất khó vượt qua. Đó là cơ cấu của các đại biểu Quốc hội thường xuyên thay đổi, và "mười năm phấn đấu" của bạn có thể không rơi vào bất kỳ một giờ cơ cấu nào cả.

    Vậy thì cái mà chúng ta đang có chính là các đại biểu chuyên trách, những người dành toàn bộ thời gian cho hoạt động của Quốc hội như là thực hiện một nhiệm vụ được giao. Chắc chắn, trong số các đại biểu này, nhiều người sẽ nhanh chóng trở thành những nghị sĩ chuyên nghiệp, thông thạo hoạt động nghị trường, biết cách tác động có hiệu quả lên chính sách và pháp luật. Họ sẽ là những hạt giống hết sức quan trọng của nền lập pháp Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, tạm thời thì các đại biểu chuyên trách đang là những "tân binh" trên một mặt bận hoàn toàn mới mẻ và phải đối mặt với những thách thức rất lớn.

    Trước hết, đó là thách thức của việc đổi nghề. Một họa sĩ giỏi không nhất thiết phải viết văn hay. Xác suất thành công của việc chuyển đổi từ nghề vẽ sang nghề văn là không lớn. Làm chính khách không phải là viết văn. Nhưng chuyển từ các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, hoạt động quản lý sang làm đại biểu chuyên trách thì cũng giống như việc bỏ nghề vẽ để bắt đầu nghề văn vậy. Và nghịch lý này tự thân đã hàm chứa không ít những rủi ro.

    Làm nghề đại biểu thực chất là làm hai việc sau đây:

    Một là, làm cho cử tri vừa lòng.

    Hai là, hoạt động có hiệu quả ở Quốc hội.

    Như vậy, hoạt động chuyên trách nghĩa là dành 100% thời gian để làm hai nhiệm vụ nói trên. Tỷ lệ thời gian dành cho mỗi nhiệm vụ phụ thuộc vào cách thức tổ chức công việc của từng đại biểu. Tuy nhiên, ở các nước phát triển, tỷ lệ này thường là 50/50. Dưới đây, xin được phân tích đôi điều về hai nhiệm vụ nói trên.

    Một là, làm cho cử tri vừa lòng

    Làm cho cử tri vừa lòng chính là thực hiện chức năng đại diện. Công việc này diễn ra chủ yếu ở đơn vị Bầu cử, chứ không phải ở thủ đô. Đối với một đại biểu chuyên nghiệp, làm cho cử tri vừa lòng là điều hết sức quan trọng. Cuối cùng thì cử tri mới là người quyết định cái sự chuyên nghiệp của đại biểu có thể xảy ra hay không. Nếu lần Bầu cử tiếp theo, cử tri thay đổi sự lựa chọn, e rằng cái sự chuyên trách vẫn chưa có đủ thời gian để chuyển thành chuyên nghiệp. Thế nhưng, làm cho cử tri hài lòng là một công việc khó khăn. Trên thực tế, dễ làm hơn chính là điều ngược lại. Để trợ giúp cho các đại biểu trong việc thực hiện chức năng đại diện, pháp luật ở nhiều nước thường dành cho các đại biểu quyền quyết định việc chi một khoản ngân sách nhất định (ở một số nước khoản ngân sách này khá lớn) cho đơn vị Bầu cử của mình. Các đại biểu có thể quyết định việc xây cầu, xây trường học hoặc bệnh viện theo yêu cầu của cử tri. Đâu cũng là tiền ngân sách, nhưng ở ta thì cứ phải xin các quan chức hành pháp mới được. Trong điều kiện như vậy, thực hiện chức năng đại diện ở nước ta rõ ràng khó khăn hơn. Và không có gì áy náy bằng tình cảnh cứ mỗi lần tiếp xúc cử tri, các đại biểu lại chỉ có thể hứa là sẽ báo cáo với Quốc hội. Cách làm này chứa đựng rất nhiều bất cập, vì ai cũng biết rằng đa số kiến nghị của cử tri vẫn chỉ là những điều đã được nhắc đi, nhắc lại ở rất nhiều cuộc tiếp xúc với các đại biểu. Cử tri sẽ phải nghĩ gì sau nhiều lần kiến nghị với các đại biểu như vậy? Khắc phục điều bất cập này, có lẽ, trước hết sẽ là trách nhiệm của các đại biểu chuyên trách, những người ăn lương Quốc hội để làm công việc này. Đây là một công việc khó khăn, nhưng quan trọng. Suy cho cùng, bảo đảm sự vận hành trên thực tế của chức năng đại diện chính là nội dung quan trọng nhất, thậm chí là linh hồn của việc thực hành dân chủ.

    Hai là, hoạt động có hiệu quả ở Quốc hội

    Hoạt động có hiệu quả ở Quốc hội chính là thực hiện chức năng của nhà lập pháp. Khi thiết chế nghị viện vận hành thực sự, thì Quốc hội là một trong những nơi bận rộn nhất nước. Một đại biểu mới được bầu hoặc là bị dòng thác công việc cuốn trôi vào vô tận, hoặc là "đứng trên bờ nhìn nước chảy". (Đây có thể là tình cảnh mà không ít các đại biểu chuyên trách phải đối mặt hiện nay). Ở các nước có nền lập pháp phát triển, chuyện ngập lụt vì công việc ở Quốc hội phần lớn lại là do chính các đại biểu chuyên nghiệp tạo ra. Họ không chỉ tạo ra dòng thác công việc, mà còn lái nó trôi theo ý muốn của mình. Như vậy, khả năng tác động lên chương trình nghị sự, lên tiến trình và kết quả của công việc là bản chất của tính chuyên nghiệp. Muốn làm được điều này phải có rất nhiều kỹ năng và phải nắm vững "luật chơi" (quy trình, thủ tục) trong hoạt động nghị trường. Điều này đòi hỏi phải có thời gian.

    Trong lúc đó, cái mà không ít các đại biểu chuyên trách đang có là kinh nghiệm và kỹ năng điều hành công việc của một quan chức hành chính. Đây là những kinh nghiệm và kỹ năng rất có giá trị. Tuy nhiên, Quốc hội không phải là Chính phủ. Những gì có giá trị cho hoạt động quản lý, điều hành chưa chắc đã giúp ích được nhiều cho hoạt động lập pháp và đại diện. Ngược lại, việc hành pháp hóa hoạt động của Quốc hội (tất nhiên là chưa xảy ra) chứa đựng những rủi ro rất lớn cho cả hệ thống.

    Thách thức thứ hai là vấn đề năng khiếu. Làm nghị sĩ chuyên nghiệp cũng giống như nghề viết văn vậy. Đây là một trong những nghề đòi hỏi phải có năng khiếu bẩm sinh đặc biệt. Một chính khách bằng diễn thuyết của mình có thể làm cho con tim và khối óc của người nghe bừng sáng. Đây là năng khiếu trời cho hơn là kết quả của sự cần cù, tập luyện. Thời gian tới, các đại biểu chuyên trách sẽ còn có thời gian để kiểm nghiệm năng khiếu làm chính khách của mình.

    Một thách thức khác là điều kiện sinh hoạt và làm việc khó khăn. Đây là vấn đề hết sức tế nhị. Các đại biểu chuyên trách có thể sẽ không bao giờ nói thẳng ra. Tuy nhiên, không ít đại biểu chuyên trách đang phải sống lại cảnh cơm niêu nước lọ của thời sinh viên. Với hệ thống lương bổng hiện nay, ăn cơm nhà hàng có thể vẫn là một thứ xa xỉ mà nhiều đại biểu chuyên trách sống xa nhà chưa thể cho phép mình được hưởng. Trong tương quan chung, việc quy định một chính sách lương bổng quá đặc biệt cho các đại biểu chuyên trách là rất khó khăn. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng ở ta lương không phải là thu nhập; thu nhập không chỉ là lương. Trong rất nhiều trường hợp, "phần mềm" mới là khoản thu nhập chính. Điều này có thể đúng cho cả xã hội, thì lại không đúng cho các đại biểu chuyên trách. Phải chăng xây dựng một hệ thống phụ cấp cho các đại biểu chuyên trách như tất cả các nghị viện vẫn làm là giải pháp cho vấn đề này? Cuối cùng thì nền lập pháp nước ta sẽ có được những đại biểu chuyên trách như thế nào phụ thuộc không nhỏ vào cách thức mà chúng ta đối xử với các đại biểu chuyên trách đương nhiệm hiện nay.

    Các đại biểu chuyên trách là cái chúng ta đang có, nhưng có lẽ các đại biểu chuyên nghiệp mới là cái chúng ta cần. Tuy nhiên, không có chuyên trách thì không thể có chuyên nghiệp. Toàn bộ sự anh minh chính trị nằm ở khả năng hoạch định các bước đi.

    8. Công cụ để nhận biết các vấn đề của đất nước

    Theo thông lệ, cứ mỗi năm hai lần, các vị đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận về tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đây là các phiên họp về mọi vấn đề. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp; giá nông sản; chế biến và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp; thất thoát trong các công trình xây dựng cơ bản; bảo hiểm y tế; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; lãng phí; tham nhũng; tệ nạn xã hội v.v... và v.v... là một số ít trong những vấn đề kể mãi không hết tại các phiên họp toàn thể của Quốc hội ngày 5 - 6/5/2003. Làm thế nào để có thể giải quyết một cách hữu hiệu đối với một số lượng các vấn đề đồ sộ như vậy? Và nếu chúng ta không giải quyết được, thì đâu là giá trị của hình thức hoạt động này? Có lẽ, không ai nói thẳng ra, nhưng những câu hỏi như trên luôn luôn treo lơ lửng trong không khí.

    Thực ra, việc Quốc hội phải họp phiên toàn thể để thảo luận các vấn đề của đất nước gắn liền với những triết lý sâu xa của thiết chế nghị viện.

    Trước hết, đại diện là chức năng rất quan trọng, nêu không nói là quan trọng nhất, của Quốc hội nước ta, cũng như của nghị viện các nước trên thế giới. Mỗi vị đại biểu Quốc hội đều có nghĩa vụ phải phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri mà những thứ này thì nhiều vô kể trong cuộc sống. Cách phản ánh thiết thực và hiệu quả nhất là nói thẳng ra tại diễn đàn số một của đất nước - phiên họp toàn thể của Quốc hội. Thông qua báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng, cử tri sẽ có được thông tin phản hồi và sẽ cảm thấy hài lòng. Mà sự hài lòng của cử tri là điều quan trọng nhất đối với các đại biểu, những người giữ chức nhờ được dân bầu.

    Nghị viện của hầu hết các nước trên thế giới đều phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri bằng cách này hay cách khác. Điều thú vị là ở nhiều nơi, việc này được triển khai dưới những hình thức hết sức thiết thực. Ví dụ ở Australia, cứ vào đầu giờ của một số ngày trong tuần, các nghị sĩ có một thời gian nhất định để phát biểu về những vấn đề quan trọng mà cử tri ở đơn vị Bầu cử quan tâm. Những nghị sĩ có nhu cầu phát biểu sẽ đến hội trường và trổ tài hùng biện trước các phóng viên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, đa số các nghị sĩ khác không có nhu cầu nghe, họ ở lại làm việc trong phòng của mình. Đối với các nghị sĩ, việc phát biểu chỉ là chuyện nhỏ; việc phải nghe mới là câu chuyện nhọc nhằn hơn. Cứ lấy Quốc hội ta làm ví dụ, nếu thời gian một đại biểu bỏ ra để phát biểu là 15 phút, thì tổng số thời gian 498 đại biểu bỏ ra để nghe là hơn 16 ngày làm việc!

    Các nghị sĩ chuyên nghiệp thường có kỹ năng biến phát biểu của mình về một vấn đề nào đó tại nghị viện thành một sự kiện. Điều này tác động trực tiếp đến công luận và buộc các cơ quan hành pháp phải có hành động để cải thiện tình hình. Ngoài ra, họ còn biết cách sử dụng các công cụ hiệu năng của nghị viện để hỗ trợ cho những cố gắng của mình. Các công cụ quan trọng nhất của nghị viện là các đạo luật và các nghị quyết. Vì vậy, khi phát biểu, các nghị sĩ thường dọa là sẽ trình dự thảo nghị quyết của mình về vấn đề có liên quan ra nghị viện. Trên thực tế sau khi nói ra được vấn đề mà cử tri quan tâm, nhiều nghị sĩ thường chấm dứt mọi cố gắng của mình ở đó. Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, các nghị sĩ đã thật sự trình dự thảo nghị quyết của mình ra trước nghị viện.

    Trở lại với nước ta, các vị đại biểu Quốc hội của chúng ta cũng hoàn toàn có thể làm được như vậy. Ví dụ, sau khi phê phán việc để xe máy của người vi phạm luật giao thông hàng tháng dưới mưa nắng ngoài trời, đại biểu Quốc hội có thể đưa ra dự thảo nghị quyết về việc phải cải thiện tình hình hoặc về trách nhiệm đền bù thiệt hại do cách làm này gây ra. Cũng tương tự, các vị đại biểu Quốc hội có thể đưa ra dự thảo nghị quyết về việc khắc phục tình trạng thất thoát trong xây dựng cơ bản; về việc phòng chống ngộ độc thức ăn; về việc bán bảo hiểm y tế cho nông dân v.v... Cách làm này đòi hỏi tính chuyên nghiệp rất cao, tuy nhiên, nó sẽ biến những đại biểu được dân ủy quyền trở nên có thực quyền.

    Ngoài ra,các phiên thảo luận về tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội còn đóng vai trò là một diễn đàn của đất nước. Các vấn đề tích tụ trong cuộc sống cần phải được nhận biết và nói ra thành lời ở đâu đó. Có nơi nào khác làm được điều này tốt hơn là các phiên họp toàn thể của Quốc hội? Các phiên thảo luận này chính là công cụ để dân tộc ta nhận biết và hiểu rõ hơn các vấn đề của mình. Các vấn đề được các vị đại biểu Quốc hội nêu ra có thể là quá nhiều cho một người nghe, nhưng hoàn toàn không nhiều cho các cơ quan Nhà nước. Cùng lắm, mỗi cơ quan cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về một số vấn đề mà các vị đại biểu đã nêu ra, chưa kể, các vấn đề này thường không phải hoàn toàn mới.