10. Trang 169 - 192Vancuong7975(xong)Wiki

4/1/16
10. Trang 169 - 192Vancuong7975(xong)Wiki
  • :rose:
    PHỤC THÙ CHO CHA([1])

    (Bình-luận tiểu-thuyết)

    Phàm tiểu-thuyết hay phải tả được tình-trạng xã-hội cùng tâm-lý người ta. Nhưng tình-trạng xã-hội rõ-rệt ra ngoài dễ biết, mà tâm-lý người ta ẩn-khuất ở trong khó nhận.

    Muốn tả cái tình-trạng hiển-nhiên, phải có nét bút tài-hoa, lời văn sán-lạn, mới diễn được hết những cảnh phiền-phức trong đời người, muốn giải cái tâm-lý u-ẩn, phải có con mắt sáng-suốt, trí nghĩ thâm-trầm mới gỡ được hết những mối phân-vân trong tình-tính. Hai đàng đều phải có tài mới được, nhưng một đàng tài lộ ra ngoài, một đàng tài ẩn ở trong. Lộ ra ngoài thì dễ đẹp, ẩn ở trong mới cảm sâu. Nên những tiểu-thuyết tả tình-trạng xã-hội thường được nhiều người đọc nhiều người ưa, nhưng so với những tiểu-thuyết tả tâm lý người ta, có kém phần cảm-động thâm-trầm.

    Tuy-nhiên, lối tiểu-thuyết tâm-lý cũng lắm người ham. Tâm-lý người ta, dù người đời nào nước nào cũng thế, mà tình-trạng xã-hội thì tùy xã-hội có khác nhau. Một đàng là thuộc về «thông-thường», một đàng là thuộc về «đặc-biệt». Sự thông-thường cố-nhiên dễ cảm người ta hơn là sự đặc-biệt.

    Trong rừng tiểu-thuyết Pháp ngày nay, - rừng rậm bao-la, chẳng thiếu gì hoa thơm cỏ lạ, - tiểu-thuyết của Paul Bourget thuộc về lối tiểu-thuyết tâm-lý. Ông là một văn-sĩ hiện-thời thông-thuộc tâm-lý người đời hơn cả. Mỗi bộ tiểu-thuyết của ông như cái đuốc sáng soi vào một bộ-phận trong tâm-giới người ta. Tâm-lý của thượng-lưu xã-hội nước Pháp, nhất là hạng đàn-bà đài-các phong-lưu, không còn chút bí-mật cho con mắt sâu-sắc của ông.

    Trong bộ André Cornélis (Cổ-nại-lý sám-hối lục) bàn ở đây, ông xét riêng về tâm-lý của kẻ phạm tội giết người. Một người vì tình mà giết người, một người vì hiếu mà giết người, tâm-lý hai người khác nhau thế nào? Bởi những duyên-cớ gì, bởi những tình-tiết gì, bởi những tư-tưởng gì ngấm-ngầm trong tâm-não, bởi những tình-ý gì ẩn-khuất trong cõi lòng, khiến cho hai người sinh-hoạt ở chốn phong-lưu phú-quí, đến đem nhau nhúng tay vào máu sống, kẻ lưỡi dao, người chiếc súng, như phường đạo-tặc trên đường? Đó là vấn-đề tác-giả định nghiên-cứu. Nhưng phàm nhân-vật trong tiểu-thuyết của ông dù phạm tội cũng không phải là tầm-thường, tuy dùng thủ-đoạn sát-lục mà thực là tư-cách anh-hùng. Nên vấn-đề ấy không phải thuộc về hình-pháp-học mà thuộc về tâm-lý-học. Giải được tâm-lý những người chủ-động trong bi-kịch ấy, mới biết cái «ác-nghiệp» của những người ấy cũng là ở trong lẽ tất-nhiên, bởi vận-mệnh khiến nên như thế, không đáng trách-oán, không đáng tức giận, chỉ đáng bi-thương vô-cùng.

    Một người thiếu-niên cha bị giết, giết người giết cha mình, mà người giết cha mình ấy là chồng thứ hai của mẹ mình: Đó là cốt chuyện. Còn thể chuyện là thể tự-thuật, nghĩa là tự người chủ-động kể lại chuyện mình. Trả thù xong cho cha, người thiếu-niên ấy vẫn chưa thấy an-ủi trong lòng, muốn đem nỗi khổ giãi bày trên giấy mực, mong cho bớt được chút nào, bèn bắt đầu chép tập «sám-hối-lục» rất bi-thảm này. Không hối-hận gì việc phục-thù cho cha, chỉ thương thân vì vận-mệnh đã khiến mình lâm vào tình-cảnh ấy, thương thân mà đau-đớn trong lòng.

    Thiếu-niên tên là André Cornélis. Hồi gia-biến mới có chín tuổi. Bấy giờ là năm 1864. Cha tên là Justin nguyên làm thầy kiện có tiếng, sau chủ-trương một «sở biện-sự» lớn, công-việc tốt, gia-tư ước được một triệu rưỡi phật-lăng. Ông cần-mẫn chính-trực, chăm-chỉ thạo việc, nhiều người ơn cậy, nhiều người mến yêu. Mẹ tên là Marie nhan sắc tuyệt vời, tài-tình phong-nhã. Nhà cao cửa rộng, thật là một bậc phú-quí ở thành Paris. Ông có người bạn thân, tên là Jacques Tarmonde xưa đồng-học ở trường Luật, thường đến chơi nhà luôn. Tarmonde cũng là người nho nhã phong lưu, trước có làm việc ngoại-giao, sau giàu có an-nhàn ở nhà.

    Một hôm ông chủ, ông bạn, phu-nhân với cậu bé cùng ngồi ăn cơm, chủ-nhân đứng dậy trước, nói phải ra nhà giấy có việc vội, vì ông có hẹn lại nhà trọ thăm một người khách ngoại-quốc, người ấy mượn ông thu xếp mấy việc quan-trọng. Ông lại nói thêm rằng người khách ấy xem dáng kỳ-dị, ông cũng muốn trực tiếp cho biết rõ người thế nào. Đi từ bấy giờ đến chiều không thấy về, sáng mai không thấy về, chiều mai cũng không thấy về, Phu-nhân ở nhà sốt ruột, cho mời ông bạn để mượn đi hỏi tin-tức. Ông bạn nói có lẽ ông Justin phải kịp theo người ngoại-quốc đi có việc cần, nhờ người đem giấy về nhà mà người ta quên đi chăng, đợi đến sáng mai không thấy về thì sẽ hết sức cho đi tìm.

    Hôm sau thấy khiêng xác ông Justin về nhà, thì ra bị giết đã hai ngày, mà trong người không có giấy-má gì, sở cảnh-sát không nhận được là ai, mãi đến bấy giờ mới tra biết nhà ông vậy. Thảm thay mà kỳ thay! không biết cớ gì bị giết, không biết người giết là ai.

    Bấy giờ André còn nhỏ, chưa hiểu đầu-đuôi thế nào, chỉ biết đau-đớn thương cha, thấy mẹ rũ-rượi âu-sầu, thường hỏi mẹ thì mẹ cũng không nói rõ cho biết. Nghe miệng người vú già kể lại được chút nào hay chút đó. Biết mang-máng rằng cha bị giết, mà không hiểu duyên-do cái bi-kịch ấy thế nào. Về sau tìm lại các nhật-báo năm bấy giờ, đọc kỹ mới biết đại-khái cái án mạng đó và biết tòa án đã hết sức cứu xét trong mấy năm, không tra ra tên ác-phạm là ai.
    Quan tòa xét các giấy-má của ông Justin thì biết trước khi ông bị hại có thư-từ với một người tên là Henri Rostand, xưng là ủy-viên của một công-ti lớn ở Cựu-kim-sơn bên nước Mĩ sai sang để xin chính-phủ Pháp lập đường hỏa-xa ở thuộc-địa Nam-kỳ. Trưa hôm ngồi ăn cơm ở nhà mà ông vội đứng lên trước là có hẹn lại tiếp chuyện với người ấy ở nhà «Đế-quốc đại-khách-sạn». Ông ở nhà ra đi mười hai giờ một khắc, sau hỏi người canh cửa nhà khách-sạn thì khai rằng ông đến đấy vào khoảng mười hai giờ rưỡi, hắn có nhờ ông hỏi số buồng của Rostand.

    Tên Rostand này là người ngoại-quốc, đến khách-sạn ngày hôm trước, thuê một buồng ở tầng thứ nhì có một phòng ngủ, một phòng khách. Từ lúc đến trọ không ra ngoài, bữa cơm chiều hôm ấy và bữa sáng hôm sau đều ăn ở trong buồng. Người canh cửa nhà khách-sạn lại nói rằng vào khoảng hai giờ thì người ngoại-quốc ấy xuống đi một mình, nhưng nhà hàng kẻ ra người vào nhiều, anh ta không nhớ ông khách vào chơi với người ấy lúc mười hai giờ rưỡi đã ra chưa. Tên Rostand đưa lại chìa khóa buồng, dặn rằng có ai hỏi thì bảo đợi ở trên gác, rồi điềm-nhiên đi, miệng hút thuốc lá, tay cắp cái cặp. Từ đấy không thấy trở về nữa. Cả ngày, đến tối người nhà hàng vào dọn buồng ngủ, đi qua phòng khách không có ý nhận làm gì, chỉ thấy đồ hành-lý còn để ngổn-ngang ra đấy, dọn xong lại ra.

    Trưa hôm sau người khách cũng không về, người nhà lại vào dọn giường, cũng vẫn không có ý nhận. Buổi chiều cũng vậy. Lại đến ngày hôm sau người nhà vào dọn vẫn thấy y-nguyên như cũ, lấy làm lạ, mới nhìn khắp trong buồng thì trông thấy ở dưới ghế tràng-kỷ một cái xác người nằm sóng-sượt, đầu buộc vải trắng. Kêu lên, người nhà đổ vào, mở đầu ra thì thấy có vết súng bắn ở sau gáy. Xem đó thì biết bị bắn sau lưng, có lẽ đương lúc ngồi giở giấy-má bàn việc với tên kia. Tiếng bắn chắc không ai nghe thấy, vì có lẽ nó dùng thứ súng riêng và đạn bắn vào ngay chân óc, chắc là chết tức-khắc. Nó đã sắp sẵn khăn buộc, bắn xong buộc kín ngay lại, rửa tay vào bình nước gần đấy, rồi điềm-nhiên hút thuốc đi. Không biết rằng nó giết để lấy tiền hay giết vì cớ gì. Hiện khám trong người ông thì không thấy đồng-hồ, không thấy ví tiền, không thấy giấy-má gì cả. Nhưng không biết lúc ông đi trong người mang bao nhiêu tiền, mà cũng có lẽ tên kia lấy đồng-hồ ví tiền là để làm ra cách ăn trộm cho cảnh-sát khó tra, chứ không phải là chủ-ý lấy tiền. Tìm khắp trong người ông cũng không thấy tự-tích gì, nên lúc ban đầu cảnh-sát chưa thể nhận được là xác ai. Sau vạch áo lên thấy có hiệu người thợ may và số áo, đến hỏi nhà thợ may tra số mới biết là ông Justin Cornélis.

    Ấy đầu đuôi cái bi-kịch, về sau quan tòa thuật lại như thế. Còn tên giết người kia thì không sao tra-tìm ra được. Tên Rostand chắc là tên giả. Mở cái rương y để lại ở khách-sạn thì toàn những đồ tầm-thường mua ở một nhà đồ cũ nào. Nhà đồ cũ ấy sau cũng tìm ra được, nhưng kể hình-dạng tên Rostand lại không in với lời khai người canh cửa nhà khách-sạn. Người canh cửa nói mặt nó đen đen và có nhiều râu, người bán đồ cũ thì nói nó trắng mà không có râu. Sau xét ra trung-gian nó đã đổi hình-dạng, bôi mặt đen, buộc râu giả, còn cái tiếng nói, cái dáng với cái khổ người thì bao nhiêu người làm chứng đều khai giống nhau cả, từ người nhà hàng cơm, người đánh xe thuê, người bán đồ cũ, cho đến người thợ cạo sau tìm được cũng khai như thế. Người thợ cạo thì nói rằng tháng trước có đến thửa một bộ tóc một bộ râu thật khéo, đeo vào khác hẳn người đi, không ai nhận được mặt, nói để diễn một lớp tuồng trá-hình.

    Ấy tòa án đã xét kỹ, tra ra được bấy nhiêu điều, nhưng càng xét lại thấy việc càng lạ càng khó giải, vì càng rõ rằng đứa phạm đã lập-tâm lâu và phòng-bị kỹ. Xét trong giấy-má của ông Justin thì thấy có hai bức thư của tên Rostand gửi tự Londres về, hai cái cùng viết chữ đứng, giao các nhà chuyên-môn tự-dạng xét thì quả có một công ty ở thành Cựu-kim-sơn, nhưng không từng phái người ủy-viên nào sang Pháp cả. Án này thật là một cái án ly-kỳ, không sao dò ra manh-mối. Chắc không phải là giết để lấy tiền, vì không có lẽ dụng công lập mưu một cách tuyệt-diệu như thế để ăn trộm một ít tiền với cái đồng hồ trong túi áo. Hay là giết thù chăng? Xét trong đời ông Justin không có sự gì đáng kẻ thù-hằn đến thế. Tòa án, Sở cảnh sát, đã dùng hết cách dò la tra-cứu trong mấy tháng, đành chịu không xét ra. Sau việc nguội dần đi, rồi tắt hẳn.

    Ấy tình-trạng thái bi-kịch trong nhà Cornélis như thế. Bi-kịch ấy là khởi điểm một bi-kịch vô-hình nữa, thảm gấp mấy lần, trong mười mấy năm về sau này. Nhưng muốn giải cái bi-kịch vô-hình ấy, trước phải hiểu tâm-lý những người trong chuyện, vì chuyện từ đây là thuần thuộc về tâm-lý, không từng xuất-hiện ra sự thực, mãi cho đến kết-cục sau cùng cũng chỉ trong hai người biết với nhau mà thôi. Nhà tiểu-thuyết không cần phải tài-liệu ở ngoài, chỉ thuần dùng những mánh-khóe trong lòng người mà kết-cấu thành chuyện, ấy khéo là ở đó.

    Từ sau cái bi-kịch thứ nhất, trong nhà Cornélis không xảy ra việc gì khác thường, có thể nhân đó đoán được cái bi-kịch thứ nhì về sau. Phu-nhân bấy giờ còn trẻ lắm, người lại đẹp, tính đa-tình, không mấy nỗi mà khuây-khỏa cái nông-nỗi thảm-sầu cũ. Sẵn được ông bạn Tarmonde có ái-tình với mình, bèn nhận kết-duyên cùng ông. Từ đấy bắt đầu một cuộc đời mới, cái hình-ảnh cuộc đời cũ mỗi ngày một phai lạt đi, hầu thành ra lịch-sử vậy. Sự đó cũng không lấy gì làm lạ, đàn bà góa trẻ cải-giá là thường, mà cải giá với người bạn cũ chồng cũng không phải là một sự không từng có.

    Còn cái nông-nỗi con mồ-côi cha ở với cha-dượng, cũng chẳng phải là sự lạ thường chi. Duy có sự không thường là cái tâm-lý của thiếu-niên từ bấy giờ. Người ta thường nói con trẻ có cảm-giác mạnh, phàm cảm sự gì dễ nhiễm mà khó quên. Huống cảm-giác đây lại là cái cảm tê-tái lòng người, thâm-tím ruột gan, vào một người đa-tư đa-lự như thiếu-niên tất càng ngày càng thâm-trầm thấm-thía. Từ khi cha bị hại một cách ám-muội như thế, thiếu-niên không lúc nào là không băn-khoăn tự hỏi: Đứa ác phạm giết cha mình là ai? Vẫn biết rằng tòa án đã hết sức xét không ra, nhưng thiếu-niên cảm giác mơ-màng rằng rồi thế nào cũng tìm được. Cứ theo tâm-lý-học thì phàm cảm-giác thâm-trầm, phàm tư-tưởng gì đã nuôi lâu ở trong lòng, sau thành như một giống có sinh-hoạt, tức như cái «thần » nó ám mình. Thiếu-niên tư tưởng mãi đến việc cha bị giết, rồi tư-tưởng ấy càng ngày càng mạnh, thành như cái mệnh-lệnh của người chết truyền cho người sống phải trả thù cho mình, Theo lý-tưởng thần-bí của Đông- phương ta thì cho là oan-hồn còn khắc-khoải, khao-khát muốn hại kẻ làm oan. Theo triết-lý của Âu-châu thì cho là lẽ tất-nhiên về tâm-lý hay gọi là cái vận-mệnh. Nhưng dù là oan-hồn, dù là vận-mệnh, từ đấy thiếu-niên tự-nguyện dùng hết cách tìm cho được đứa ác-phạm mà báo-thù cho cha. Thiếu-niên nói trong tập Sám-hối: «Lòng muốn báo thù ấy như ngôi sao chiếu-mệnh cho suốt một phần đời tôi, như ngọn đèn sáng màu máu đỏ, thắp trong quãng đêm dài của tôi»

    Đồng-thời với chí phục-thù ấy, trong tâm-hồn thiếu-niên lại xuất-hiện ra một lòng ghen-ghét nữa. Ghen-ghét ai? Ghen-ghét người cha-dượng mình. Tục-ngữ nói: «Mấy đời mẹ ghẻ có thương con chồng». Giá nói: «Mấy đời cha dượng có thương con vợ», cũng là phải. Mà mấy đời con chồng cũ lại yêu mến chồng mới là người đến cướp quyền của cha mình.

    Thiếu-niên càng trông thấy mẹ thương-yêu chồng mới bao nhiêu càng như đứt ruột bấy nhiêu. Ông chồng mới lại là người tính ghẻ-lạnh, tuy đối với con vợ vẫn hết trách-nhiệm bảo-hộ, nhưng thực không có chút cảm-tình gì. Chắc ông cũng ghét thiếu-niên bằng thiếu-niên ghét ông, chẳng kém gì. Phàm đã ghét thì hay xét. Mỗi khi hai người gặp mặt nhau, không hề nói chuyện nhiều. Thiếu-niên chỉ chú-ý xem-xét cách ăn nói đứng ngồi, cùng hình-dung diện-mạo, mà suy-lường tâm-tính ông. Về phần ông đối với thiếu-niên chắc cũng thế. Nhưng thiếu-niên thường nhận những khi đối-diện nhau, ông hay liếc mắt nhìn trộm và có ý ngượng-ngập. Nhiều lần hình như ông nhìn mặt thiếu-niên lấy làm khó chịu lắm, giá có thể đuổi phắt được ra ngoài cũng không đừng. Ông là người vốn trầm-tĩnh, không phải vô-cớ mà có cái thái-độ như thế. Thiếu-niên vẫn tự hỏi câu ấy, lấy làm một vấn-đề khó giải. Tuy cha ghẻ con nuôi không ưa nhau là sự thường, nhưng không có lẽ ghét nhau đến thế, lại nhất là ghét ngấm-ngầm, bề ngoài vẫn tỏ ra ân-cần tử-tế. Tựu-trung tất có một duyên-cớ gì ám-muội, cần phải khám-phá cho ra. Thiếu-niên suy-nghĩ mãi về căn-do sự ghen-ghét ấy, rồi tư-tưởng ấy cũng trở thành một ma-lực như cái chí báo-thù kia. Ma-lực ghen-ghét với mãnh-lực báo-thù, hai cái bấy giờ càng ngày càng mạnh, dường như muốn hòa-hợp với nhau làm một. Thiếu-niên cứ băn-khoăn suy nghĩ mãi, một ngày tự-nhiên phát lên câu hỏi lạ-lùng: Cái người mình rất ghen-ghét kia, có phần gì vào cái án mình muốn báo-thù này không? Cái người mình gọi là cha dượng kia có phải là người giết cha đẻ mình không? Thiếu niên khởi ra cái nghi vấn ấy mà rùng mình, khiếp-sợ, không dám quyết-đoán ra thế nào. Nhưng cái nghi-vấn ấy đã xuất-hiện ra, không thể bỏ không giải-quyết được, tất phải xét cho đến cùng, cho rõ thực-hư thế nào. Từ đây trở đi là đoạn ngờ-vực nhau đến cực-điểm. Nhân mấy việc ngẫu-nhiên xảy ra mà sự ngờ-vực ấy sau thành sự xác-thực.

    Thiếu-niên có một người cô là chị ruột ông Justin. Từ khi em bị hại, bà chị vẫn phiền-não trong lòng, không bao giờ nguôi. Nhưng bà vốn sùng đạo, tin nghiệp-báo về lai-sinh, nên có khi thiếu-niên ngỏ cho cô biết cái chí báo-thù, bà vẫn thường can, nói rằng kẻ phạm-ác đã có Trời trị tội, ta không nên thiện-tiện mà phạm quyền Thượng-đế. Tuy vậy xem ý bà đối với cái án bi-thảm đó cũng có một mối ngờ-vực như thiếu-niên, làm cho bà đau đớn trong lòng, nhưng bà rất kín-đáo không hề ngỏ ý cho cháu biết. Chợt bà mắc bệnh tê thấp, mỗi ngày một nặng, rồi mất. Trước khi tạ-thế, bà có cho gọi thiếu-niên lại, bảo lấy một tập giấy cũ đựng trong cái tráp nhỏ đem đốt đi. Bà bấy giờ không nói được nữa, nhưng trông con mắt khẩn-khoản như muốn cần cho đem đốt đi ngay. Thiếu-niên nhìn vào tập giấy thấy đề mấy chữ «Thơ của Justin, Năm 1864». Thì ra tập ấy chính là tập thư của cha mình viết cho bà chị giữa năm 1864 là năm bị-hại. Thiếu-niên chắc rằng trong thư đó tất có sự gì có thể giúp cho việc điều tra cái án kia. Bấy giờ lòng phục-thù đương nồng-nàn bèn cất tập thư vào một chỗ, nói dối cô rằng đã đốt rồi. Sau thiếu-niên vẫn hối-hận sự dối người chết ấy là sự không nên, nhưng khi ấy cái ma-lực nó mạnh quá, không thể ngăn cầm được. Đến khi đem ra đọc, càng thấy mướt mồ hôi. Trong suốt mấy cái thơ toàn là những lời em than với chị về nông-nỗi khổ trong gia-đình. Ông Justin tự biết rằng vợ không có ái-tình với mình, mà cái anh bạn thân kia thật là con người nham-hiểm lập-tâm muốn cướp vợ mình. Ông vẫn biết phu-nhân đoan-chính, tuy không đằm thắm với chồng như xưa, nhưng không phải đã có tư-tình với người kia. Song ông sợ Tarmonde rắp mưu hiểm độc để phá cuộc gia-đình của ông… Mấy cái thơ đó trước ngày bị-hại có mấy tháng. Thiếu niên đọc đi đọc lại, tưởng như mình nằm trong mộng, nửa thức nửa tỉnh, nửa mê nửa cuồng. Tự nghĩ mối nghi ngờ nay đã đến ngày giải-quyết: Người mình ghen-ghét, mình ngờ vực quả là kẻ thù không thể cùng đội trời đạp đất với mình. Nhưng xét kỹ chẳng qua mới là một sự tưởng-tượng mà thôi, chưa có chứng-cớ gì đích-xác. Mới biết được rằng cha mình ghen Tarmonde mà ngờ cho muốn quyến-dụ mẹ mình, nhưng sự ghen sự ngờ đó không tất-nhiên là có quan-hệ với cái án về sau. Muốn rõ Tarmonde có phải là chủ-động cái án đó không, thì phải dùng cách thí-nghiệm khác, một sự tưởng-tượng ấy quyết chưa đủ. Nhưng thí-nghiệm ra làm sao? Các nhà hình-pháp-học thường dạy rằng phàm kẻ phạm-tội hễ nghe nói đến cái tội mình, nói đến người bị-hại, thì chột-dạ, trong bụng bối-rối, ngoài mặt biến-sắc, không được vững vàng như lúc thường, người sành mắt nhận ra ngay. Thiếu-niên muốn dùng cách đó mà thí-nghiệm với cha-dượng, tự nghĩ rằng nếu người ấy quả là kẻ có tội thì mình nói đến tên cha mình, kể đến tình-trạng cái bi-kịch xưa, tất giật mình mà biến sắc, nếu không thì điềm-nhiên mà không động dung. Ba lần thử như thế, cố ý nói thiết-tha về những việc cũ, ám-chỉ sự này sự kia, lại hỏi lắm câu đột-ngột, tưởng người non gan dễ chột dạ, mà người kia vẫn vô-tình như không, vững-vàng như thường. Như thế thì một là người vô-tội, hai là người có tội mà cái đảm-lực rất mạnh, cầm-giữ được cả sự cảm-động tự-nhiên. Duy có một lần, sau khi thí-nghiệm như thế, thiếu-niên đã trở về đến dọc đường tình-cờ trông thấy Tarmonde đi xe qua mà không biết mình. Nhìn mặt bấy giờ tiều-tụy quá, khác hẳn cái mặt điềm-nhiên lúc nãy. Người ta phi có sự khổ-não vô-cùng không đổi sắc mặt mau như thế. Thiếu-niên đồ rằng vừa mới rồi đối-diện nhau là cái nét mặt gượng cố làm ra điềm-nhiên, mà bây giờ ngồi một mình trong xe mới thật là cái mặt tiêu-điều khốn nạn vì những lời ám-chỉ mới rồi. Nhưng không động lòng, cớ sao lại thay đổi mau như thế? Đó cũng là một cái chứng xác-thực vậy. Nhưng xét kỹ vẫn còn là chứng-cớ vô-hình, chưa đủ nhân đó mà buộc tội một người được. Phải có cái chứng gì hiển-nhiên, có hình-tích rõ-ràng, không thể nghi-ngờ được, thì mới đủ bằng-cớ. Chứng ấy làm thế nào mà tìm cho được? Quan tòa có thế-lực, có oai-quyền, dùng hết phương-pháp, trong bao ngày tháng, còn không thể phát-minh được một cái chứng nào hiển-nhiên như-thế, huống-chi là cô-đơn một mình.

    Thiếu-niên đã hầu thất-vọng, đành chịu không sao quyết được cái án khốn-nạn kia. Hốt-nhiên được một sự tình-cờ thật là thiên-định. Thiếu-niên đối với mẹ vẫn một lòng yêu mến, không hề bao giờ ngờ mẹ. Vì vẫn biết rằng mẹ là người nông-nổi nhẹ dạ, thực tình thương chồng cũ, thực tình yêu chồng mới, không có gan nào làm nên tội tầy-đình như thế. Cứ xem sau này chính phu nhân vô-tình mà thành ra trao cho con trai then-chốt cái án đó thì đủ biết phu-nhân không dính-dáng gì vào đấy, tựa-hồ như lăn-lóc trong đống máu đào mà không có vết máu trên tay vậy.

    Một hôm thiếu-niên trông thấy mẹ có dáng âu-sầu. Ông chồng đã mấy tháng nay đau nặng, nhưng bữa ấy bệnh đã lui, đáng mừng mới phải mà lại thấy buồn hơn mọi khi, lấy làm lạ lắm. Cố hỏi mẹ vì cớ gì. Mẹ ngần-ngại giờ lâu, rồi mới chịu ngỏ việc riêng của mình cho con trai biết. Nguyên thiếu-niên vẫn biết rằng Tarmonde có một đứa em, hung-đồ có tiếng, mấy lần phải án trộm cướp, sau làm lính bỏ quân phải tội xử-tử, trốn đâm đầu xuống sông chết. Việc đó đã cũ lắm, ai cũng cho là tên ấy chết thực rồi. Nay phu-nhân nói rằng chồng mới bảo cho biết tên ấy chưa chết, xưa ông mạo khai với quan rằng nó tự-tử để cho nó thoát thân, đổi tên sang Mĩ-châu mà làm ăn, nay nó xin tiền ông không được, định về Pháp để phát-giác việc cũ làm cho tổn-hại danh-dự của ông. Hiện nó đã ở Paris rồi. Phu-nhân lấy sự đó làm khổ-tâm lắm, vì chồng đương lúc bệnh nặng phải cái buồn ấy nữa thì e bệnh không khỏi được. Phu-nhân vẫn không biết trong bụng con trai đối với chồng mình có mối ngờ rất lớn, nên mới nói chuyện riêng của chồng cho con biết, không dè câu chuyện ấy lại hình như gợi thêm mối ngờ ra, khác nào như tưới dầu vào đống lửa cháy vậy. Thiếu-niên từ trước tuy ngờ Tarmonde là giết cha mình mà còn một điều chưa thể giải được: Là chính ngày hôm ấy, giữa giờ ông Justin bị hại ở nhà khách-sạn thì Tarmonde còn đương cùng với mẹ mình ăn cơm nói chuyện ở nhà, chắc không phải là tự tay hắn giết, tất thuê đứa côn-đồ nào giết. Nhưng cứ theo lời khai của người làm chứng thì tên Rostand gặp ông Justin ở nhà khách-sạn ngày hôm ấy lại là người ngoại-quốc nói tiếng Anh như người Mĩ. Đến nay thiếu-niên mới biết thằng em hung-đồ của Tarmonde vẫn còn sống mà nó đã ở bên Mĩ lâu năm. Bấy giờ hoảng-nhiên như trong tay nắm được cái chứng-cớ hiển-nhiên, đã khổ-tâm tìm-tòi mấy năm nay. Cái thằng Rostand giả người Mĩ để giết cha mình ở Đế-quốc khách-sạn, tất là thằng em Tarmonde không sai. Thằng anh nham hiểm độc-ác muốn cướp vợ bạn, biết rằng phu-nhân đoan-chính không bao giờ phản chồng mà theo mình, lập-tâm giết bạn để quyến-dụ người yêu cho dễ, bèn lợi-dụng thằng em mạt-kiếp đã thạo nghề giết người lại được không ai biết rằng còn sống, để làm chân tay mà thực-hành mưu gian-ác ấy. Thôi, cái ám-muội kia nay đã tỏ rõ như bàn tay, không còn chút nghi ngờ gì nữa.

    Thiếu-niên bấy giờ thấy nghị-lực trong người rất mạnh, nhất-tâm quyết thực-hành cho được cái chí báo-thù trong mười mấy năm nay. Hồi cha bị hại mới có lên chín, nay tuổi đã hai-mươi-bốn, trong mười-lăm năm trời biết bao nhiều nỗi khốn-khổ đau-đớn trong lòng, đến giờ mới thật như sắp trút được cái gánh nặng trên vai. Nhưng phải nghĩ cách thực-hành thế nào cho ổn-thỏa. Chắc khi hai anh em thằng kia mưu nhau làm sự đại-ác, tất có thơ-từ cho nhau, thằng anh tất phải hứa cho thằng em nhiều tiền hắn mới chịu nhận, rồi sau hắn quấy nhiễu xin tiền thêm mãi, đến nay không cho nữa hắn mới định về Pháp đe dọa phát-giác việc kia ra. Muốn phát-giác tất phải có giấy-tờ gì làm tang-chứng. Chắc Tarmonde sợ giấy-tờ ấy tiết-lộ ra rõ cái tội-ác của mình, nên thấy thằng em lại về Paris lo mà phát-phiền nổi bệnh lên. Nói với vợ rằng sợ nó làm xấu danh-dự mình cũng là nói chặn trước cho vợ khỏi nghi-ngờ điều khác mà thôi. Nhưng không ngờ vợ lại kể cho con trai biết! Ấy sự đời lắm khi quẩn-quanh như thế, không thể nào dự-liệu trước được. Lưới Trời không lọt gian-phi!

    Vậy thiếu-niên bây giờ phải làm thế nào biết được chỗ trọ của thằng em Tarmonde, rồi lại làm thế nào bắt nó phải trao cho mấy cái thơ-từ kia. Chắc nó còn ở Paris, dọa anh cho được thật nhiều tiền mới chịu đi. Trong khi ấy anh em tất có vãng-lai với nhau. Thiếu-niên bèn thuê mật-thám theo Tarmonde những khi ở nhà đi ra. Quả-nhiên một hôm thấy đi vào nhà Đại-khách-sạn hỏi một người khách ngoại quốc trọ ở phòng số 353. Thiếu-niên chắc rằng người ngoại quốc ấy là em Tarmonde không sai. Bèn tự mình suy-nghĩ như sau này: Đã biết người biết chỗ, ra báo tòa cảnh-sát đến khám tên ấy, nếu quả là tên ác-phạm khi xưa thì bắt nó lại mà tịch-ký lấy giấy-má của nó, nếu không phải thì lính cảnh sát xin lỗi là lầm cũng không hề gì. Cảnh-sát xưa nay lầm thế là thường. Làm như vậy thì dễ lắm. Vả cái án cũ lại chưa tiêu-diệt thời-hiệu, nếu bây giờ bắt được tên phạm thì tòa-án còn có phép xử và bắt tội được. Nhưng thiếu-niên là người cao-thượng, tuy muốn báo-thù cho cha mà không muốn làm đau-đớn lòng mẹ. Nếu nhất-đán việc vỡ-lở ra, phu-nhân biết rằng người chồng mình yêu-quý ngày nay, mình ăn-ở trong mười mấy năm nay, chính là đứa ác-phạm giết chồng cũ khi xưa, thì bụng đàn-bà chịu sao được, tất đến phiền-não mà chết mất. Bất-nhược hãy hết sức giữ kín cho phu-nhân không biết, tự mình báo lấy cái thù của mình, không cần phải mượn đến thế-lực quan, có lẽ như vậy lại ổn-thỏa hơn.

    Thiếu-niên bèn lập mưu như sau này: Định chiều hôm ấy thân đến nhà Khách-sạn, đường-đột vào hỏi tên ngoại-quốc kia. Nguyên thiếu-niên hình dung diện-mạo giống cha khi xưa như hệt. Đã nghiệm phàm đứa giết người hễ trông thấy ai giống mặt người mình hại thì chột dạ mà thảng-thốt lên. Vậy nếu tên kia chính là tên Rostand ngày trước thì đột-nhiên trông thấy thiếu-niên tất phải biến sắc. Thiếu-niên lại định khi giáp mặt không chào hắn bằng tên bây giờ mà chào bằng tên Rostand. Nếu trúng thì tất nó phải rụng-rời người ra mà kinh-hoảng vô-cùng, tưởng như cái ma ông Justin hiện hình ra mà làm tội nó. Nếu không phải nữa thì cũng cho như là mình vô-ý hỏi lầm phòng người nọ vào phòng người kia mà thôi, chẳng hề gì. Nhưng giáp mặt rồi mà quả phải hắn thì định làm thế nào? Nếu mình giết nó thì việc lại tiết-lộ ra mất. Vả nó chẳng qua là cái chân-tay của anh nó sai khiến mà thôi, vì tham tiền mà làm ác, chứ không phải lập tâm hại người. Giết nó, không bằng giết tên thủ-phạm kia. Vậy chỉ cốt làm sao cho nó chịu trao cho mình mấy cái thơ của anh nó, để làm tang-chứng mà hành-hình kẻ đại-thù của mình, Đã không chủ-ý giết nó thì chỉ có một cách mua lại mấy cái thơ ấy, mà phải mua thật đắt mới được, vì chắc anh nó cũng đã mưu cho tiền để lấy lại mà nó chưa chịu đưa. Ấy trong bụng rắp định như thế, thiếu-niên bèn để đầy một ví giấy bạc, cầm một khẩu súng lục nhỏ mà thân-hành đến nhà khách-sạn.

    Đoạn này là đoạn nhà tiểu-thuyết tả rất khéo, hiển-nhiên như thực, lược-dịch ra đây cho độc-giả thưởng-thức lối văn tiểu-thuyết của Âu-tây.

    Đây là lời thiếu-niên kể. Vì cả bộ tiểu-thuyết là lời tự-thuật cả:

    «Tôi đến tầng gác thứ nhì, có con đường dài, ở góc treo cái biển đề mấy chữ «Từ số 300 đến số 360». (Buồng hắn ở là số 353). Tôi gặp một tên bồi vừa đi vừa huýt gió. Hai con ở gái đương khúc-khích cười ở cái buồng ngay đầu thang xuống. Cửa chớp mở rộng, dưới sân những tiếng người rộn-rịp. Tôi nghĩ lúc này thật là một thời-khắc tốt để thi-hành cái mưu của tôi. Nhà khách-sạn đông người như thế, thằng kia dù muốn trốn cũng không chạy đàng nào được. Tôi đi lượt qua các cửa buồng, nhìn từng số ... 345 ... 350 ... 351 ... 353. Đây chính là phòng tên Edouard Tarmonde ở đấy. Thìa-khóa để ngay ngoài cửa. Thế ra tình-cờ mà thực là lợi cho cái mưu mình quá. Cứ nhận một sự để thìa-khóa ở ngoài cửa đó cũng đủ biết người ở trong buồng ấy đã chắc mình yên thân lắm rồi mà không cần phòng-bị gì. Vả hắn thường ở ngoại-quốc, có lẽ cũng không biết rằng còn có tôi ở đời, mà tưởng cái án kia đã vắng hẳn trong tai mắt thế-gian từ lâu năm rồi. Tôi đứng một phút đồng hồ trước cái cửa đóng ấy. Hôm ấy tôi mặc áo chẽn cho túi áo vừa ngang tay, thò vào lấy ngay súng lục ra được. Tôi để tay phải vào báng súng rồi mở cửa, không gõ.

    «Trong phòng có một người nằm ngửa trên cái ghế dài, chân gác lên bàn, lưng ngoảnh vào cửa vừa hút thuốc vừa đọc nhật-trình. Nghe có người vào cất tiếng hỏi: «Ai đấy?...» Cũng không thèm đứng đậy xem ai vào nữa, chắc là tên hầu-sáng nhà khách-sạn vào có việc, chứ không phải khách đến hỏi thăm. Hắn chưa kịp ngoảnh hẳn mặt lại, tôi đã lên tiếng hỏi:

    «Tôi hỏi thăm ông Rostand?…»

    «Tôi vừa nói xong, thì anh chàng đứng phắt ngay dậy, đẩy cái ghế dài ra, chạy sang bên kia bàn, rồi nhìn tôi, mặt trông biến-sắc hẳn… Dương hai con mắt sáng quắc, mặt sầm như người chết, râu chắc ngày xưa đỏ, nay trông đã hoa râm. Miệng há hốc, chân run cầm-cập. Người sức-lực mạnh-khỏe mà hốt-nhiên như thảng-thốt điên-cuồng, tưởng như sức sinh-hoạt trong người bấy giờ tê-mê cả đi. Đương lúc kinh-hoảng ấy, tôi chỉ nghe hắn kêu một tiếng: Cornélis!...


    [1] Andre Cornélis par Paul Bourget.