02. Chương 2 (done)

19/7/15
02. Chương 2 (done)
  • Chương 2 Những tư tưởng và chính sách đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên của thế kỷ 21


    “Ai không nhớ những gì xảy ra trong quá khứ sẽ lặp lại chính quá khứ đó”.


    ■ George Santyana


    MẶC DÙ NGAY TỪ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã có khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp, nhưng cho đến trước khi xảy ra Đại Khủng hoảng từ năm 1929, các nhà kinh tế học và chính trị gia vẫn tin rằng bùng nổ và sụp đổ chỉ là những chu kỳ kinh doanh tự nhiên thông thường. Triết lý của các nhà kinh tế học là những hiện tượng tự nhiên đó sẽ tự phục hồi. Do đó, trước khi xảy ra Đại Khủng hoảng, phần lớn các nhà kinh tế học đều dự đoán rằng mọi đợt suy thoái kinh tế sẽ qua đi nhờ cơ chế giá linh hoạt trên thị trường tự do cạnh tranh.


    Khi suy thoái vẫn tiếp tục diễn ra, phần lớn các nhà kinh tế học thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 cho rằng nguyên nhân là hiện tượng tiền lương và giá cứng nhắc do các công ty độc quyền cố định giá, còn công đoàn lao động thì cố định tiền lương, và/hoặc do chính sách của nhà nước đã can thiệp vào thị trường, làm hạn chế tính linh hoạt của giá cả và tiền lương - vấn đề này sẽ không xảy ra nếu thị trường cạnh tranh, không có sự can thiệp của chính phủ.


    Ở Mỹ, sau Thế chiến thứ nhất có một đợt suy thoái ngắn, nhưng tiếp theo đó, thập niên 1920 bùng nổ như một giai đoạn vô cùng thịnh vượng của nước Mỹ. Vào năm 1929, chỉ 3,2% công nhân Mỹ bị thất nghiệp. Chỉ số chứng khoán Dow Jones năm 1920 duy trì ở mức 63,9 điểm. Trong suốt những năm sau đó, thị trường chứng khoán New York tăng cao chưa từng thấy. Đến năm 1929, mức trung bình của chỉ số Dow Jones là 381,2, tăng hơn 500% chỉ trong vòng hơn tám năm một chút.


    Trong thời kỳ bùng nổ thị trường chứng khoán thập niên 1920, ai cũng có thể mua cổ phiếu bảo chứng với số tiền bằng chỉ 5% giá trị và vay phần còn lại, do đó đòn bẩy tài chính[4] của họ có tỷ lệ là 19 trên 1. Nói cách khác, cứ đầu tư 20 USD vào thị trường chứng khoán thì trong đó 19 USD là có thể vay được[5].


    Đến năm 1929, các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, trong đó có công nhân cổ xanh, thậm chí cả người đánh giày... - những người chưa bao giờ đầu tư, chỉ biết rất ít hoặc không biết gì về công ty mà họ đang đầu tư - đều mua cổ phiếu theo cách bảo chứng. Thường những người này tin tưởng vào lời khuyên từ nhà môi giới hoặc ngân hàng của họ rằng nên làm gì để có lợi nhuận. Tuy nhiên, tất cả người dân Mỹ có vẻ đều trở nên giàu có[6].


    Chỉ vài ngày trước khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào ngày 24 tháng 10 năm 1929, một trong những nhà kinh tế học cổ điển xuất sắc nhất thời kỳ đó là giáo sư Irving Fisher của trường Đại học Yale đã nói với một nhóm thính giả rằng thị trường chứng khoán đã đạt tới trạng thái bình ổn cao, và từ đó nó chỉ có thể tăng lên mà thôi. Thế rồi sau đó, đột nhiên nó tụt xuống đáy. Đến tháng 6 năm 1932, chỉ số Dow Jones giảm 89% so với năm 1929. Người ta nói rằng giáo sư Fisher, vì đầu tư vào những gì ông tin tưởng nên đã mất khoảng 8 đến 10 triệu USD - một số tiền khổng lồ vào năm 1929 - khi thị trường chứng khoán sụp đổ. Cuộc Đại Khủng hoảng đã lan đến nước Mỹ.


    Từ năm 1929 đến năm 1933, nền kinh tế Mỹ chỉ xuống dốc mà thôi. Dường như cả hệ thống kinh tế đang vướng vào một thảm họa không thể thoát ra được. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 3,2% năm 1929 lên khoảng 25% vào năm 1933. Tháng 3 năm 1933, khi Frankin D. Roosevelt tuyên thệ nhậm chức tổng thống Mỹ thì cứ bốn công nhân lại có một người thất nghiệp. Mức sống của người Mỹ, đo bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) thực tế bình quân trên đầu người, đã giảm đi 52% trong giai đoạn 1929-1933. Có nghĩa là vào năm 1933, thu nhập của một gia đình trung bình ở Mỹ chỉ còn bằng nửa so với số tiền họ kiếm được vào năm 1929. Giấc mơ tư bản Mỹ có vẻ đã tan vỡ.


    Rất nhiều chuyên gia kinh tế thời đó vẫn căn cứ vào lý thuyết kinh tế cổ điển để nhận định rằng tỷ lệ thất nghiệp cao ở Mỹ là do tiền lương và/hoặc giá cả cứng nhắc; và khủng hoảng sẽ buộc người lao động và các doanh nghiệp phải chấp nhận mức giá thấp. Do đó, khủng hoảng không thể kéo dài. Nền kinh tế sẽ sớm tự sửa sai nếu chính phủ không can thiệp vào hoạt động của hệ thống thị trường tự do cạnh tranh và công nhân cũng như các doanh nghiệp chấp nhận mức lương và giá thấp để sản xuất.


    Một ví dụ tuyệt vời về phương thuốc cổ điển này được kể lại trong hồi ký của Herbert Hoover, tổng thống Mỹ từ tháng 3 năm 1929 đến tháng 3 năm 1933. Hoover được ca ngợi là một người ân cần, chu đáo vì ông đã nỗ lực giúp đỡ người dân châu Âu khi châu lục này bị Thế chiến thứ nhất tàn phá. Rõ ràng Hoover là kiểu người sẽ cố gắng làm giảm nhẹ tình trạng túng quẫn của con người không phải do lỗi của họ. Trong hồi ký, Tổng thống Hoover lưu ý rằng mỗi khi ông muốn làm điều gì đó tích cực để chấm dứt cơn Khủng hoảng và tạo việc làm thì bộ trưởng tài chính của ông là Andrew Mellon luôn luôn phản đối chính phủ hành động và lần nào cũng đưa ra một lời khuyên như nhau, “ông Mellon chỉ có một công thức. Thanh lý lao động, thanh lý cổ phiếu, thanh lý nông dân, thanh lý bất động sản. Thế là sẽ loại bỏ được những thứ hư hỏng ra khỏi hệ thống... Mọi người sẽ làm việc chăm chỉ hơn, sống có đạo đức hơn”[7].


    Còn ở Anh, thập niên 1920 là thời kỳ có tỷ lệ thất nghiệp cao, hầu như năm nào cũng vượt quá 10%. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà kinh tế học Anh chứ không phải Mỹ mới là những người lo ngại nhiều hơn về tình trạng thất nghiệp kéo dài kinh niên khi Mỹ rơi vào Đại Khủng hoảng những năm 1930.


    Tại Anh, tỷ lệ thất nghiệp cao trong thập niên 1920 đã thúc đẩy một nhà kinh tế học kiệt xuất người Anh là John Maynard Keynes tìm cách giải thích tại sao một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như Anh lại phải chịu đựng tỷ lệ thất nghiệp cao đến như vậy. Mặc dù Keynes được đào tạo để trở thành một nhà kinh tế học cổ điển, và thậm chí ông còn giảng dạy môn này ở Đại học Cambridge trước Thế chiến thứ nhất, nhưng các sự kiện kinh tế xảy ra sau cuộc chiến đã khiến ông nghi ngờ lý thuyết cổ điển. Không như Mỹ, Anh đã phải gánh chịu một đợt đại suy thoái với tỷ lệ thất nghiệp hai con số trong suốt thập niên 1920, trừ năm 1924 khi tỷ lệ thất nghiệp ước tính khoảng 9,4%. Thực tế này buộc Keynes phải suy nghĩ lại về tư tưởng của lý thuyết cổ điển và triết lý của nó cho rằng nguyên nhân của thất nghiệp là công nhân từ chối chấp nhận mức lương thấp. Trong mười lăm năm, Keynes đã xây dựng được một khung lý thuyết khác thay thế cho lý thuyết cổ điển, được trình bày trong cuốn sách xuất bản năm 1936 của ông, Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ.


    Đến năm 1936, Keynes hoàn thành lý thuyết của mình, trong đó ông chỉ rõ đâu là sai lầm chính trong hệ thống kinh tế tư bản định hướng thị trường sử dụng tiền cũng như cần thực hiện chính sách gì để tránh sai lầm đó, đồng thời vẫn tận dụng được những ưu điểm của hệ thống kinh tế tư bản. Keynes tin rằng phân tích của ông sẽ thay thế lý thuyết kinh tế cổ điển chính thống cho rằng thị trường tự do tự giải quyết được mọi vấn đề. Quan điểm cổ điển này đã chiếm lĩnh tư tưởng của các nhà kinh tế học ở Anh và Mỹ trong suốt hai thế kỷ trước khi Keynes xuất bản tác phẩm của ông.


    Vào dịp năm mới 1935, Keynes có gửi thư cho kịch tác gia George Bernard Shaw. Trong thư ông viết:


    Tuy nhiên, để hiểu được tâm trạng mới của tôi, ngài phải biết rằng tôi tin tưởng mình đang viết một cuốn sách sẽ đem lại một cuộc cách mạng lớn trong tư duy kinh tế của toàn thế giới. Tôi nghĩ rằng điều đó có thể chưa xảy ra ngay lập tức, nhưng sẽ xảy ra trong vài chục năm tới. Khi lý thuyết mới của tôi được đồng nhất và kết hợp trọn vẹn với chính trị, cảm xúc và niềm đam mê thì tôi không thể đoán chắc ảnh hưởng cuối cùng mà nó mang lại đối với mọi hành vi và sự kiện sẽ như thế nào, nhưng sẽ có thay đổi rất lớn, cụ thể là khả năng cạnh tranh với nền tảng kinh tế học Ricardo [8] của chủ nghĩa Marx.


    Tôi không kỳ vọng ngài hay bất cứ ai khác sẽ tin ngay những gì tôi nói, nhưng bản thân tôi không chỉ hy vọng vào nó. Mà trong tâm trí tôi, điều đó là chắc chắn[9].


    Mười ba tháng sau, vào tháng 2 năm 1936, cuốn sách Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes ra mắt. Xuất hiện vào đúng giữa thời kỳ Đại Khủng hoảng và sau đó là Thế chiến thứ hai, cuốn sách đã góp phần khiến cho một vài ý tưởng chính sách mới của Keynes có ảnh hưởng lên quyết định chi tiêu công của chính phủ.


    Chính sách Kinh tế xã hội mới của Roosevelt và kinh tế học Keynes


    Khi Roosevelt trúng cử tổng thống vào tháng 11 năm 1932, rất nhiều người nhận thấy rằng những gì họ đang trải qua không phải chu kỳ kinh doanh thông thường, và nền kinh tế sẽ không phục hồi nếu cứ để thị trường tự do hoạt động. Tuy nhiên, khi Roosevelt nhậm chức vào tháng 3 năm 1933, tư tưởng của Keynes vẫn chưa hoàn chỉnh và do đó chưa có một cơ sở lý thuyết có hệ thống để có thể xây dựng những chính sách chủ động cho chính phủ nhằm thay thế tư tưởng kinh tế học cổ điển - vốn cho rằng về dài hạn, cuối cùng thị trường tự do sẽ lại đem lại đầy đủ việc làm cho người lao động và sự thịnh vượng cho mọi công dân trong xã hội. Vào lúc đó, phản ứng khôn ngoan nhất của Keynes để đáp lại quan điểm cổ điển là câu nói: “Trong dài hạn, tất cả chúng ta đều sẽ chết”[10].


    Khi ngồi vào chiếc ghế tổng thống, Roosevelt vẫn chưa có một kế hoạch đầy đủ và thống nhất để cứu nền kinh tế Mỹ thoát khỏi Đại Khủng hoảng. Trong bài phát biểu nhậm chức vào tháng 3 năm 1933, Roosevelt chỉ có thể cam đoan với người dân Mỹ rằng: “Thứ duy nhất chúng ta phải sợ chính là bản thân nỗi sợ”. Trong những ngày đầu tiên làm việc, chính phủ Roosevelt đã thử nghiệm đủ mọi chính sách, một số nhằm thông qua chi tiêu kích thích nền kinh tế, một số khác nhằm thay đổi các quy định, quy tắc về môi trường sản xuất kinh doanh.


    Trong bức thư ngỏ gửi tổng thống Mỹ được đăng trên báo New York Times ngày 31 tháng 12 năm 1933, Keynes viết:


    Thưa ngài tổng thống.


    Ngài đã trở thành niềm tin của người dân ở những quốc gia đang tìm cách khắc phục nhược điểm tồi tệ của thể chế hiện tại thông qua những thử nghiệm hợp lý trong khuôn khổ hệ thống xã hội đang tồn tại.


    Nếu ngài thất bại thì cả thế giới sẽ có thành kiến nặng nề với sự thay đổi, và sẽ chỉ còn quan điểm chính thống [lý thuyết cổ điển] và quan điểm cách mạng [chủ nghĩa Marx] để giải quyết vấn đề.


    Nhưng nếu ngài thành công thì những phương pháp mới mẻ, táo bạo sẽ được thử nghiệm ở mọi nơi, và chúng ta có thể sẽ thành công. Khi ngài bước chân vào văn phòng tổng thống thì chúng ta cũng mở ra chương đầu tiên của thời đại kinh tế mới”.


    Keynes viết tiếp rằng Roosevelt đang phải làm "một nhiệm vụ kép, đó là phục hồi và cải tổ - phục hồi khỏi khủng hoảng, và tiến hành một loạt cải tổ hoạt động kinh doanh và cải cách xã hội vốn đã quá tụt hậu”. Nhưng Keynes cũng cảnh báo rằng “ngay cả một cuộc cải tổ khôn ngoan và cần thiết cũng có thể... cản trở khả năng phục hồi hoàn toàn... [nếu nó] gây mất lòng tin của giới kinh doanh... Và nó cũng sẽ làm rối suy nghĩ và mục tiêu của chính ngài cũng như của chính phủ ngài vì các ngài phải suy nghĩ về quá nhiều vấn đề cùng một lúc”.


    Tương tự, trong cuốn Lý thuyết tổng quát (trang 162), Keynes đã cảnh báo: “Nếu chính phủ Công đảng hoặc chính phủ Chính sách Kinh tế xã hội[11] mới có thái độ sợ hãi khiến cho giới kinh doanh nản lòng, thì quá trình phục hồi từ khủng hoảng sẽ bị ảnh hưởng. Nói cách khác, phục hồi nền kinh tế phải luôn là ưu tiên hàng đầu, và bất cứ cuộc cải tổ nào cần thiết cũng đều phải được tiến hành sao cho nó đem lại tinh thần lạc quan cho giới doanh nghiệp và cả xã hội nói chung. Đưa ra những cải tổ đúng đắn và cần thiết vẫn chưa đủ. Còn cần phải khôn ngoan, biết nên thực hiện các cải tổ đó theo cách nào và đưa ra trước công chúng ra sao để được họ ủng hộ.


    Ngay từ đầu, chính phủ của Roosevelt đã đi theo rất nhiều hướng khác nhau. Họ đã thực hiện một số những cải tổ đúng đắn và khôn ngoan như: bảo hiểm tiền gửi ngân hàng, tái hỗ trợ nhiều khoản vay tiêu dùng và vay sản xuất nông nghiệp có thế chấp, xây dựng hệ thống An sinh xã hội, thành lập ủy ban Chứng khoán và ngoại hối để kiểm soát thị trường tài chính, tăng sức mạnh đàm phán cho người lao động, buộc giảm giờ làm và cải thiện điều kiện làm việc.


    Tuy nhiên, phục hồi nền kinh tế vẫn là ưu tiên hàng đầu so với bất cứ chính sách cải tổ nào. Chính phủ Roosevelt đã thực hiện chính sách chi tiêu công rất lớn để tạo ra hàng triệu việc làm, không chỉ trong những lĩnh vực mà ngày nay chúng ta gọi là chi đầu tư cơ sở hạ tầng (xây cầu, trường học, công viên, đường sá, v.v.) mà còn đầu tư vào môi trường như Công ty Thung lũng Tennessee (TVA) và Tập đoàn Bảo tồn dân sự (CCC)[12], đồng thời chi cả cho lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa, kết quả là chính phủ đã trả lương cho 3.000 diễn viên (trong đó có Orson Welles), nhạc công, nhà văn (trong đó có Clifford Odets), và nghệ sỹ (trong đó có Jackson Pollock và Willem deKooning).


    Roosevelt đã đặt tên cho một loạt các chương trình kích thích kinh tế mà chính phủ của ông thực hiện từ năm 1933 đến năm 1939 là “Chính sách Kinh tế xã hội mới”. Trong bài báo nhan đề “Đã đến lúc có ‘chính sách kinh tế xã hội mới' mới” được Dự án về Bất bình đẳng của Đại học Texas xuất bản vào tháng 2 năm 2009, Marshall Auerback đã chỉ ra rằng Chính sách Kinh tế xã hội mới đã giúp xây dựng, cải tạo 2.500 bệnh viện, 45.000 trường học, 13.000 công viên và sân chơi, 7.800 cây cầu, hơn 1,1 triệu km đường, rất nhiều sân bay, trồng hàng tỷ cây xanh. Chính sách này cũng đem lại các công trình như đường hầm Lincoln và cầu Triborough ở New York, phần lớn con đường ven hồ Michigan ở Chicago, thủ phủ bang Montana, tòa nhà Cathedral of Learning của Đại học Pittsburg và nhiều công trình giá trị khác hiện vẫn đang được sử dụng. Chính sách Kinh tế xã hội mới còn xây dựng lại hệ thống trường học vùng nông thôn.


    Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Roosevelt, chính sách chi tiêu kích thích nền kinh tế khiến cho mỗi năm ngân sách bị thâm hụt từ 2 đến 6 tỷ USD - một con số lớn, tương đương 2-5% GDP. Nếu so với lịch sử thì quy mô nền kinh tế đã tăng rất mạnh trong giai đoạn 1933- 1936. Năm 1936, GDP thực tế, tức là sau khi điều chỉnh biến động giá, đã đạt được xấp xỉ bằng GDP năm 1929 trước khi xảy ra Đại Khủng hoảng. Quá trình phục hồi có vẻ diễn ra tốt đẹp đúng như kế hoạch mặc dù dân số năm 1936 lớn hơn trước, tức là thu nhập tính trên đầu người vẫn thấp hơn so với năm 1929. Nhưng năng suất lao động được cải thiện cộng với lực lượng lao động đông hơn cũng có nghĩa là thất nghiệp vẫn nhiều. Tỷ lệ thất nghiệp chính thức đã giảm từ khoảng 25% năm 1932 xuống 16% năm 1936, trong khi đó kết quả ước tính không chính thức cho biết tỷ lệ thất nghiệp năm 1936 đã giảm xuống còn 9%.


    Chương trình chi tiêu công của Roosevelt thường bị các chính trị gia cản trở, họ cho rằng hành động chi dẫn tới thâm hụt ngân sách quá lớn là “vô trách nhiệm [13] về mặt tài khóa”. Khi Roosevelt nhậm chức tổng thống, nợ quốc gia tương đương với khoảng 20% GDP. Đến năm 1936, tổng nợ của chính phủ lên tới tương đương 40% GDP. Vào năm đó, một số chuyên gia kinh tế đã công khai tuyên bố nếu tiếp tục chi tiêu theo kiểu liều lĩnh như vậy thì đất nước sẽ phá sản. Hơn thế nữa, một vài người còn cho rằng chính phủ đã “mồi nước" đủ để bơm lượng cầu các sản phẩm công nghiệp lên.


    Roosevelt hiểu được suy nghĩ của người dân về lý thuyết kích thích kinh tế này có sức mạnh như thế nào cũng như nỗi lo ngại rằng khoản nợ quá lớn sẽ làm cả quốc gia phá sản. Để chứng tỏ quyết tâm chấm dứt tình trạng thâm hụt khủng khiếp và tránh để cả đất nước bị phá sản, Tổng thống Roosevelt đã cơ bản chấp nhận quan điểm cho rằng chính phủ liên bang không cần phải “mồi nước” thêm nữa. Trước kỳ bầu cử vào tháng 11 năm 1936, Roosevelt trình Quốc hội kế hoạch ngân sách cho năm tài khóa 1937, trong đó dự kiến giảm mức thâm hụt chỉ còn một nửa thông qua cắt giảm chi tiêu chính phủ.


    Roosevelt đã tái đắc cử với chênh lệch phiếu bầu rất lớn, nhưng kết quả của kế hoạch ngân sách thắt lưng buộc bụng năm 1937 của ông là GDP thực tế giảm đi đáng kể, gần 10% cho đến tận quý 1 năm 1938. Chính sách “có trách nhiệm tài khóa” của chính phủ trong suốt 12 tháng của năm 1937 đã xóa bỏ thành tựu mà bốn năm thâm hụt trước đó đã đạt được là tạo ra nhiều việc làm và cải thiện đáng kể nền kinh tế. Rõ ràng bằng chứng lịch sử này cho thấy nếu chỉ kích thích rồi sau đó chấm dứt chương trình phục hồi nền kinh tế trước khi nó đạt được tình trạng đầy đủ việc làm thì chưa đủ.


    So sánh với hiện tại, tổng thống mới đắc cử Barack Obama cũng nói về gói kích thích kinh tế để khởi động lại nền kinh tế. Rõ ràng là vào thế kỷ 21, vẫn có nhiều người biết tại sao ô tô lại nổ máy khi đẩy rồi vào số, hơn là số người hiểu tại sao máy bơm lại bơm được khi mồi nước. Tuy nhiên, cả động tác mồi nước và đẩy xe đều cho thấy tương tự, khi nền kinh tế được kích thích theo cách nào đó thì hình như nó có thể tự phục hồi mà không cần chính phủ hỗ trợ gì thêm. Liệu mọi chuyện có diễn ra tương tự nếu chính phủ của Obama chỉ kích thích nền kinh tế chứ không theo đuổi các chương trình phục hồi nó trước khi đạt được tình trạng đầy đủ việc làm?


    Đến giữa năm 1938, Roosevelt khởi động lại chính sách chi tiêu thâm hụt lớn vào các công trình công cộng và bắt đầu tái vũ trang phục vụ cho cuộc chiến tranh có nguy cơ xảy ra. So với năm Roosevelt nhậm chức tổng thống là 1933 thì năm 1940, quy mô GDP đã lớn hơn 63%, còn GDP trên đầu người cũng tăng lên 55% và tỷ lệ thất nghiệp chính thức giảm xuống còn dưới 10%. Người ta ước tính rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong suốt những năm Roosevelt thực hiện chính sách Kinh tế xã hội mới từ 1933 đến 1940 đạt cao hơn mức 5%/năm, dù cho đợt suy thoái năm 1937 đã kéo con số này xuống bớt.


    Roosevelt tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba vào tháng 11 năm 1940, và đến năm 1941 thì Mỹ tham gia chiến tranh. Nỗi lo ngại nợ quốc gia tăng cao bỗng tan biến. Điều quan trọng giờ đây là phải chiến thắng và đánh bại kẻ thù, không hạn chế quy mô nợ quốc gia. Thâm hụt ngân sách hàng năm trong thời kỳ chiến tranh nằm trong khoảng từ 20 đến 55 tỷ USD (tương đương 14 - 31% GDP), còn GDP tăng từ 114 lên 221 tỷ USD. Đến cuối Thế chiến thứ hai, nợ quốc gia đã lên tới 119% GDP, còn tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn dưới 2%.


    Nước Mỹ đã phải chấp nhận mức thâm hụt khổng lồ của cuộc chiến, không chỉ để đánh bại kẻ thù mà còn để tìm lại được sự thịnh vượng thực thụ và đạt được tình trạng đầy đủ việc làm. Thực tế này đã chứng minh tư tưởng của Keynes cho rằng khi nền kinh tế rơi vào suy thoái trầm trọng hoặc khủng hoảng do người mua ở khu vực tư nhân từ chối chi tiền mua các sản phẩm và dịch vụ mà các ngành công nghiệp sản xuất ra, thì chính phủ không chỉ có nghĩa vụ phải chi tiêu mà còn phải chi tất cả những gì cần thiết để tăng cầu đối với hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp tư nhân, sao cho nền kinh tế đạt được trạng thái đầy đủ việc làm và thịnh vượng - bất kể thâm hụt quốc gia lên đến mức nào. Cơ sở lý thuyết của ý tưởng cho rằng chính phủ đóng vai trò là người chi tiêu cuối cùng sẽ được trình bày trong chương 4.


    Sự xuyên tạc kinh tế học Keynes thời kỳ đầu hậu Thế chiến thứ hai


    Không may là những nhà kinh tế học thời kỳ đầu hậu Thế chiến thứ hai, những người thường tự cho mình là theo trường phái Keynes lại không hiểu được triết lý và cách phân tích lý thuyết sáng tạo mang tính logic nhất quán của Keynes. Do đó, như tôi sẽ giải thích trong chương 9, cái được gọi là kinh tế học trường phái Keynes trong những bài viết chuyên môn cũng như giáo trình kinh tế học thời kỳ đầu hậu Thế chiến thứ hai chỉ là hình thức hiện đại hơn của những lý luận cổ điển về thị trường tự do từ thế kỷ 19. Những phân tích sai lầm được gọi là kinh tế học Keynes thời hậu chiến này, cũng giống như lý thuyết cổ điển của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đều cho rằng tiền lương cao cứng nhắc và giá độc quyền là nguyên nhân gây ra thất nghiệp. Sự khác biệt duy nhất là phân tích được gọi là kinh tế học Keynes có thêm một vài thuật ngữ và mô tả chính sách kiểu Keynes.


    Trong lý luận sai lầm này, thất nghiệp được cho là do:


    1. Công đoàn và công nhân từ chối chấp nhận mức lương thấp trong khi mức lương này sẽ đem lại việc làm cho tất cả những ai muốn làm việc - các nhà kinh tế học gọi đó là mức lương cân bằng hiệu quả trên thị trường.


    2. Chính phủ đặt ra mức lương tối thiểu cao hơn mức lương giả thuyết cân bằng thị trường.


    3. Các công ty độc quyền đặt ra mức giá cố định cho sản phẩm của họ và mức giá này cao hơn giá thông thường trên thị trường cạnh tranh.


    Dĩ nhiên, các nhà kinh tế học trường phái cổ điển luôn cho rằng nếu công nhân từ chối chấp nhận mức lương do thị trường xác lập, bất kể mức lương này thấp đến đâu, và/hoặc nếu các công ty độc quyền đặt ra mức giá sản phẩm quá cao, thì thị trường tự do cạnh tranh sẽ bị ảnh hưởng. Theo họ, việc công nhân không chấp nhận lương thấp và các công ty độc quyền không chịu thay đổi giá sẽ khiến thị trường “tự do” không tận dụng được khả năng tự hoạt động kỳ diệu của mình. Khi tìm nguyên nhân của các vấn đề kinh tế, cách lập luận điển hình của lý thuyết cổ điển luôn là thất nghiệp kéo dài do giới công nhân quá quyết liệt, không chịu chấp nhận mức lương đem lại đầy đủ việc làm do thị trường quy định.


    Nếu quan điểm sai lầm này là đúng thì có vẻ giải pháp đối với nạn thất nghiệp là chấm dứt độc quyền, loại bỏ công đoàn và chính phủ không được quy định mức lương tối thiểu nữa. Nhưng các nhà kinh tế học tự gọi mình là tín đồ của Keynes không hề đưa ra bất cứ giải pháp nào trong số đó. Mà họ lại ủng hộ tăng chi tiêu sao cho có thể đẩy mạnh cầu trong hoàn cảnh giá và lương cứng nhắc, cho đến khi ngay cả với mức giá và lương cứng nhắc này, thị trường vẫn mua hết tất cả mọi thứ được bày bán.


    Ngược lại, Keynes nhận thấy trong thời kỳ khủng hoảng, thất nghiệp tăng mạnh hơn nhiều so với thời kỳ bùng nổ kinh tế, do đó thái độ quyết liệt của công nhân không phải nguyên nhân gây ra thất nghiệp. Keynes lưu ý rằng “Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng thì thái độ của người lao động cũng không hề quyết liệt hơn so với khi kinh tế phát triển mạnh - hoàn toàn không... Nhìn qua thực tế cũng có thể thấy có cơ sở để nghi ngờ tính đúng đắn của lý thuyết cổ điển”[14] cho rằng công nhân tuy phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao, nhưng vẫn kiên quyết thách thức sức mạnh của thị trường trong việc tạo ra mức lương đảm bảo toàn bộ lực lượng lao động đều có việc làm.


    Keynes cho rằng nguyên nhân cơ bản của thất nghiệp không phải là mức lương và giá cứng nhắc khiến thị trường không thể đạt được tình trạng đầy đủ việc làm. Thay vì đổ lỗi cho tính cứng nhắc của lương và giá, Keynes đưa ra ý tưởng mới như sau: Nguyên nhân của thất nghiệp có liên quan đến việc những người dân có để tiết kiệm đòi hỏi tài sản tài chính mà họ đang nắm giữ phải có tính thanh khoản cao hơn. Vấn đề thất nghiệp đã được gắn kết với hoạt động của thị trường tài chính và động cơ tiết kiệm của người dân.


    Khi Keynes cho rằng thất nghiệp không phải do giá và lương cứng nhắc mà có nguyên nhân từ thị trường tài chính và động cơ tiết kiệm thì rõ ràng những phân tích được gọi là “theo trường phái Keynes” thời kỳ đầu hậu chiến là không phù hợp với lý luận của ông, mặc dù các tác giả của chúng đã sử dụng cái vỏ "kinh tế học Keynes” để tăng tính thuyết phục.


    Sự cần thiết của các quy định đối với thị trường ngân hàng và tài chính


    Sau khi thị trường chứng khoán Mỹ sụp đổ vào tháng 10 năm 1929 thì cứ năm ngân hàng Mỹ lại có một ngân hàng bị phá sản. Rất nhiều người tin rằng hiện tượng đầu cơ trên thị trường tài chính mà các ngân hàng vừa tham gia vào cũng như vừa khuyến khích chính là nguyên nhân sâu xa của Đại Khủng hoảng. Từ năm 1932, ủy ban Ngân hàng và tiền tệ thuộc Thượng viện Mỹ đã tổ chức các phiên điều trần về nguyên nhân của nó. Các phiên điều trần này cho thấy vào đầu thế kỷ, các ngân hàng đã gây thiệt hại nặng nề cho nhà đầu tư cá nhân, vì các ngân hàng này kiếm được lợi nhuận từ việc bảo lãnh và thúc đẩy mua bán những loại chứng khoán có lợi cho họ chứ không mang lại lợi ích cho người mua. Các phiên điều trần cũng đi đến kết luận rằng trong thập niên 1920, thông qua tăng cường hoạt động bảo lãnh và khuyến khích nhà đầu tư cá nhân mua chứng khoán, các ngân hàng chỉ làm cho tình thế ngày càng tồi tệ hơn, và đó chính là nguyên nhân làm thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1929. Do đó, năm 1933, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Glass-Steagall. Đây là một cải cách trong luật pháp nhằm điều chỉnh hoạt động của hệ thống ngân hàng và các thị trường chứng khoán chính thức.


    Đạo luật Glass-Steagall cấm các ngân hàng được bảo lãnh và khuyến khích mua bán chứng khoán. Các tổ chức tài chính phải lựa chọn, hoặc là ngân hàng cho vay thuần túy, hoặc chỉ thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh (ngân hàng đầu tư, công ty môi giới chứng khoán). Đạo luật Glass-Steagall đã đặt ra ranh giới pháp lý, chia tách hai nghiệp vụ này. Đạo luật cũng trao cho Cục Dự trữ liên bang quyền kiểm soát lớn hơn trong lĩnh vực ngân hàng. (Phần tiếp theo sẽ giải thích việc Đạo luật này bị bãi bỏ vào năm 1999 đã dẫn tới hoạt động bảo lãnh và bán chứng khoán có thế chấp bằng tài sản và các loại chứng khoán khác diễn ra trên quy mô lớn, góp phần đẩy thị trường chứng khoán xuống dốc và xảy ra khủng hoảng tài chính vào năm 2008).


    Nhờ Đạo luật Glass-Steagall mà trong hàng chục năm, các khoản cho vay cầm cố của ngân hàng không được phép mua đi bán lại. Giấy tờ nợ ngân hàng là loại tài sản không có tính thanh khoản. Ngân hàng cho vay biết rằng chứng khoán từ các khoản nợ có thế chấp bằng tài sản này sẽ tồn tại trên sổ sách ngân hàng suốt vòng đời của nó. Nếu người đi vay bị vỡ nợ thì ngân hàng cho vay phải chịu chi phí tịch biên tài sản và mọi tổn thất phát sinh. Vì vậy, ngân hàng cho vay phải điều tra kỹ lưỡng người vay về ba yếu tố - đó là tài sản thế chấp, lý lịch tín dụng và uy tín cá nhân (được gọi là 3C) - trước khi cho vay. Ngoài ra, ngân hàng cho vay còn thường yêu cầu người vay trả trước một số tiền đáng kể để phòng ngừa rủi ro người vay rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính và bị vỡ nợ cho dù người đó có kết quả cao khi điều tra 3C nói trên.


    Bãi bỏ các quy định quản lý hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính - sự trở lại của tư tưởng thị trường tự do


    Như đã trình bày ở trên, vào thập niên 1970, tư tưởng “kinh tế học Keynes” (mà thực ra chỉ là sự xuyên tạc lý luận Keynes của các nhà kinh tế học tự cho mình là theo “trường phái Keynes”) bắt đầu đánh mất dần hào quang. Sự suy yếu này dẫn tới hình thành một khoảng trống trong cuộc tranh luận của xã hội về kinh tế học. Nhà kinh tế học Milton Friedman nhanh chóng lấp đầy khoảng trống đó khi ông chủ động phổ biến rộng rãi triết lý kinh tế học cổ điển trên các diễn đàn công khai. Friedman cho rằng nếu chúng ta giảm quy mô chính phủ và bãi bỏ các quy định mà chính phủ Roosevelt đã đặt ra - vốn đang cản trở vai trò của thị trường tự do - thì nền kinh tế sẽ đạt được sự thịnh vượng mà nếu tồn tại chính phủ quy mô lớn can thiệp vào thị trường thì không thể có được.


    Những tư tưởng và chính sách


    Trong thập niên 1970, tại Mỹ, quá trình bãi bỏ các quy định đối với ngành ngân hàng bắt đầu khi các công ty môi giới chứng khoán cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng truyền thống với loại tài khoản tiền gửi giao dịch có thể sử dụng séc có lãi suất cao. Điều này cho thấy những người làm môi giới đã hơi lấn sân lĩnh vực ngân hàng, và họ được xã hội nói chung ủng hộ vì khoản tiền gửi giao dịch (không được bảo hiểm) này đem lại cho người gửi lợi nhuận cao hơn chút ít so với những khoản tiền gửi ở ngân hàng thông thường được nhà nước bảo hiểm.


    Đến thập niên 1980, Cục Dự trữ liên bang đã diễn giải lại Đạo luật Glass-Steagall để cho phép các ngân hàng tham gia bảo lãnh chứng khoán ở mức độ thấp, qua đó có thể cạnh tranh được với các công ty môi giới trên thị trường chứng khoán khi các công ty môi giới này đã lấn sang dịch vụ tài khoản sử dụng séc của ngân hàng. Năm 1987, mặc dù chủ tịch Cục Dự trữ liên bang là Paul Volker phản đối, nhưng Cục Dự trữ vẫn cho phép các ngân hàng mở rộng đáng kể (tuy vẫn còn hạn chế) hoạt động bảo lãnh, bao gồm cả chứng khoán được thế chấp bằng tài sản. Khi Alan Greenspan lên làm chủ tịch Ban Giám đốc Cục Dự trữ vào cuối năm 1987, ông đã ủng hộ bãi bỏ thêm các quy định để giúp các ngân hàng Mỹ cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài - thường là ngân hàng đa chức năng được phép vừa thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, vừa mua bán cổ phiếu.


    Năm 1996, Cục Dự trữ cho phép các công ty có sở hữu ngân hàng được thành lập ngân hàng đầu tư con, ngân hàng này được đóng góp tối đa 25% tổng doanh thu của công ty mẹ. Cuối cùng, đến năm 1999, sau 12 lần nỗ lực [đưa ra bỏ phiếu] trong 25 năm, với sự ủng hộ của Tổng thống Clinton, Quốc hội đã bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall. Một bài báo đăng trên tạp chí Wall Street ngày 25 tháng 10 năm 1999 (chỉ vài ngày trước khi Quốc hội ra quyết định bãi bỏ) đã dẫn lời nhắn của thượng nghị sỹ đảng Cộng hòa Phil Gramm với một chuyên gia vận động hành lang của tập đoàn ngân hàng Citigroup: “Bảo [chủ tịch Citigroup] Sandy Weill gọi điện đi. Nói với ông ta là hãy gọi đến Nhà Trắng và thúc giục [họ] đi”, nếu không thì Quốc hội sẽ không bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall. Chẳng bao lâu sau cảnh báo của Gramm, Tổng thống Clinton đã ủng hộ việc bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall. Ngay sau khi quyết định bãi bỏ được thông qua, Robert Rubin (một vị cựu chủ tịch ngân hàng đầu tư), người từng là bộ trưởng tài chính trong chính phủ Clinton đã nhận một vị trí quản lý cao cấp ở Citigroup.


    Đạo luật Glass-Steagall bị bãi bỏ tức là không còn quy định nào phân biệt hoạt động cho vay và hoạt động bảo lãnh. Vì vậy, những người cho vay đầu tiên có động lực dường như vô hạn để tìm kiếm lợi nhuận, bằng cách tìm kiếm khách hàng là những người mua nhà tiềm năng (bao gồm cả những người đi vay dưới chuẩn) để cho họ vay có thế chấp. Khi đó ngân hàng cho vay ban đầu có thể bán khoản nợ đó cho các tổ chức bảo lãnh, thường là trong vòng 30 ngày, hoặc tự đóng vai trò bảo lãnh để bán khoản nợ ra công chúng. Tổ chức bảo lãnh sẽ kết hợp nhiều khoản nợ lại với nhau thành chứng khoán có thế chấp bằng tài sản (MBS) và bán từng gói MBS này cho nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội.




    Ngân hàng cho vay đầu tiên không còn phải sợ người đi vay bị phá sản nữa miễn là người đi vay có thể trả được khoản nợ tháng đầu tiên.


    Khi người cho vay đầu tiên không tìm thấy đủ người đi vay đủ tiêu chuẩn vay thế chấp, động cơ lợi nhuận đã khiến họ tìm thêm những người đi vay không đủ tiêu chuẩn (tức là dưới chuẩn) để tiếp tục bán lại các khoản nợ có thế chấp cho các tổ chức khác và kiếm lời. Hẳn là có rất nhiều trường hợp trong đó chính ngân hàng cho vay đầu tiên đã cung cấp thông tin dối trá về người vay để họ đạt đủ tiêu chuẩn vay thế chấp. Do đó, sớm hay muộn, người đi vay, đặc biệt là những người đi vay dưới chuẩn và những người sử dụng thông tin sai lệch để đi vay thế chấp, sẽ rơi vào tình trạng không thanh toán được nghĩa vụ nợ. Phần lớn những người đi vay bị vỡ nợ này hẳn sẽ không thể qua được quy trình xét duyệt 3C như thời các ngân hàng cho vay thế chấp trước kia.


    Khi những khoản nợ này được hình thành và bán cho nhà bảo lãnh là một ngân hàng đầu tư, nhà bảo lãnh sẽ kết hợp và gói các khoản nợ dưới chuẩn lại cùng với các khoản nợ khác để tạo ra loại tài sản gọi là nghĩa vụ nợ có thế chấp (CDO), công cụ đầu tư kết cấu (SIV) hoặc các công cụ tài chính bí hiểm khác, rồi bán các gói nợ dưới dạng tài sản tài chính phái sinh đó cho các quỹ hưu trí thiếu thận trọng, ngân sách có nguồn thu từ phí, lệ phí, tiền phạt... ở cấp trung ương và địa phương, các nhà đầu tư cá nhân và các ngân hàng trong và ngoài nước khác. Những người đầu tư vào loại tài sản tài chính này không hề biết thành phần khoản nợ sẽ sinh ra dòng tiền cho loại công cụ phái sinh mà họ mua. Thực tế là vì các tổ chức đánh giá tư nhân xếp loại chứng khoán phức tạp này là tốt nên nhà đầu tư tin rằng chúng là những công cụ đầu tư an toàn.


    Các nhà đầu tư đã bỏ ra một số tiền lớn để mua các loại chứng khoán có thế chấp bằng tài sản, nhưng không ai biết tài sản thực tế (ví dụ: nhà) được dùng để thế chấp cho loại chứng khoán lạ lùng này cụ thể là cái gì. Quá trình trộn lẫn một loạt các loại tài sản có tính thanh khoản khác nhau (ví dụ: nhà và đất ở không thể mua bán được), kết hợp chúng với nhau thành một loại chứng khoán phức tạp, sau đó “thái nhỏ và cắt lát” để bán cho nhà đầu tư được gọi là “chứng khoán hóa”. Chương 6 sẽ giải thích tại sao quá trình chứng khoán hóa lại dẫn tới khủng hoảng tín dụng dây chuyền trong nền kinh tế toàn cầu.


    Ngay từ đầu thế kỷ 21, quá trình chứng khoán hóa các khoản nợ có thế chấp đã tạo ra bong bóng nhà ở, đẩy giá nhà lên mức cao kỷ lục vào đầu năm 2006. Trong số báo New York Times ra ngày 14 tháng 12 năm 2007, tác giả Paul Krugman đã định nghĩa bong bóng nhà ở là tình huống trong đó giá nhà vượt quá “tỷ lệ thông thường” so với giá thuê nhà hoặc thu nhập. Đến tháng 12 năm 2007, số vụ tịch biên tài sản để thế nợ tăng cao và số nhà không có người ở cũng ngày càng nhiều. Tình trạng này gây ra sức ép lên những ngôi nhà đã có người ở và giá nhà bắt đầu giảm rất nhanh. Trong bài báo, Krugman không đưa ra bất cứ một giải pháp nào cho chính phủ trước tình huống khó khăn do bong bóng nhà xì hơi gây ra. Krugman cho rằng thị trường nhà ở sẽ tự giải quyết được vấn đề giá nhà tuột dốc, và giá nhà sẽ giảm đi 30%, trở lại trạng thái “tỷ lệ thông thường” so với thu nhập của người dân. Con số ước tính 30% của Krugman hàm ý rằng tổng giá trị tài sản dưới dạng nhà ở của người dân phải giảm đi khoảng 6 nghìn tỷ USD so với giá trị các tài sản này ở thời điểm tháng 12 năm 2007. Theo chỉ số giá nhà ở Case/Shiller, vào tháng 10 năm 2008, giá nhà đã giảm đi khoảng 23% so với mức đỉnh cao nhất hồi năm 2006.


    Khi giá nhà giảm, rất nhiều người mua nhà bằng tiền đi vay nhận thấy họ đang sở hữu tài sản âm vì số nợ chưa trả của họ lại cao hơn số tiền thu được nếu họ bán ngôi nhà đang thế chấp trên thị trường - đây là vấn đề mất khả năng thanh toán. Krugman cho rằng không có cách nào khả thi để giải quyết được nhanh chóng tình trạng sở hữu tài sản âm. Theo ông, sẽ phải “mất hàng năm” thị trường mới tháo gỡ hết được vụ lộn xộn nhà ở này.


    Ở rất nhiều bang của Mỹ, các khoản nợ đều là không thể truy đòi (tức là sau khi người vay bị vỡ nợ và tài sản thế chấp bị tịch biên thì người đó không phải chịu trách nhiệm gì thêm nếu số nợ chưa thanh toán lớn hơn giá tài sản khi bán thanh lý trên thị trường). Nếu tỷ lệ ước tính 30% của Krugman là tương đối chính xác thì sẽ có khoảng 10 triệu hộ gia đình rơi vào tình trạng sở hữu tài sản âm, và họ sẽ có động cơ mạnh mẽ để tuyên bố vỡ nợ. Hàng triệu người đang sở hữu nhà sẽ mất nơi ở nếu nhà của họ bị tịch biên, và những người đầu tư vào chứng khoán có thế chấp bằng tài sản sẽ bị lỗ nặng.




    Quỹ Cho vay sở hữu nhà


    Nghiên cứu về lịch sử có thể đem lại chút manh mối về cách thức giải quyết bong bóng nhà ở hiện nay. Những gì chính phủ của Roosevelt đã làm với cuộc khủng hoảng mất khả năng thanh toán nợ mua nhà hồi thập niên 1930 chính là một tiền lệ về giải pháp cho tình trạng vỡ bong bóng nhà ở bắt đầu từ năm 2007. Vào năm 1933, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Tái hỗ trợ tài chính cho chủ sở hữu nhà, theo đó Quỹ Cho vay sở hữu nhà (HOLC) được thành lập. Chức năng cơ bản của HOLC là tái hỗ trợ tài chánh cho chủ sở hữu nhà để họ không bị tịch biên nhà ở, đồng thời hỗ trợ cho các ngân hàng chủ nợ.


    HOLC đạt được thành công rất lớn. Chương trình này đã cung cấp một triệu khoản vay lãi suất thấp và thường có thời hạn trả nợ dài hơn so với nợ gốc, nhờ đó số tiền mỗi hộ gia đình phải trả nợ hàng tháng giảm xuống mức mà họ có thể chi trả được. Trong trường hợp chủ sở hữu nhà vẫn không thể trả được nợ dù với bất cứ điều kiện hợp lý nào thì HOLC sẽ được quyền sở hữu ngôi nhà và cho chủ cũ thuê lại với giá tiền hàng tháng nằm trong khả năng thanh toán của họ. Theo cách này, HOLC đảm bảo rằng ngôi nhà không bị bỏ không và có nguy cơ bị hư hỏng hoặc phá hoại. Khi HOLC bán được ngôi nhà đó cho một gia đình khác thì họ sẽ yêu cầu người thuê cũ phải chuyển đi. Trong suốt thời gian tồn tại từ năm 1933 đến 1951, HOLC không những tự chi trả được mọi chi phí mà còn kiếm được chút ít lợi nhuận.




    Chính phủ có thể sử dụng một biện pháp khác, đó là thiết lập một cơ quan nhà nước chuyên giúp các tổ chức tư nhân dỡ bỏ được các khoản nợ thế chấp không có khả năng thanh toán và các loại tài sản bị coi là “độc hại” khác ra khỏi bảng cân đối tài sản của họ, qua đó những người đang giữ chứng khoán có thế chấp bằng tài sản cũng không gặp phải nguy cơ vỡ nợ sau khi bị các tổ chức đánh giá chứng khoán lừa dối. Kết quả là ngăn cản được quá trình bán tháo chứng khoán thường dẫn tới tình trạng hỗn loạn trên tất cả các thị trường tài chính.


    Một lần nữa lịch sử lại cung cấp cho chúng ta minh chứng cho thấy những cách làm nói trên có thể ngăn chặn khủng hoảng kinh tế. Ví dụ, Quỹ Giải quyết nợ (RTC) do chính phủ thành lập cũng đã giúp Các tổ chức Tín dụng nhà ở loại bỏ được các khoản nợ không được thanh toán khỏi bảng cân đối tài sản sau cuộc khủng hoảng các quỹ tiết kiệm và tín dụng hồi thập niên 1980, nhờ đó thiệt hại không lan rộng sang các tổ chức tài chính khác.


    Không may là Quốc hội đã không kịp thời thành lập những cơ quan cần thiết để góp phần giải quyết vụ bê bối bong bóng nhà ở khi nó đã trở nên quá rõ ràng vào năm 2007. Thay vào đó, lúc đầu Washington chẳng làm gì, và điều đó cho thấy họ chấp nhận rằng chúng ta sẽ phải đợi “hàng năm” nếu để thị trường tự giải quyết như Krugman nói. Hơn nữa, giải pháp “để thị trường tự giải quyết” đã và sẽ tiếp tục gây thêm tổn thất cho nhiều đối tượng vô tội khác trong nền kinh tế (ví dụ, những người sống ở nơi xảy ra nhiều vụ tịch biên nhà đất, công nhân và các công ty xây dựng và các ngành có liên quan).




    Ý nghĩa lịch sử của cuộc Đại Khủng hoảng


    Vì cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại được coi là thảm họa kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ Đại Khủng hoảng nên cần phải làm rõ bài học lịch sử rút ra từ thời kỳ đó. Thứ nhất, chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nền kinh tế phục hồi càng nhanh càng tốt thông qua tăng cầu đối với sản phẩm của các doanh nghiệp, nhờ đó các doanh nghiệp có cơ hội kiếm lợi nhuận, và họ sẽ có động lực tạo thêm cơ hội việc làm. Vai trò này đòi hỏi chính phủ phải chấm dứt suy nghĩ rằng chỉ cần “mồi nước" hoặc “đẩy xe” chút ít là nền kinh tế sẽ tự phục hồi, và lúc đó có thể kết thúc chính sách chi tiêu gây thâm hụt ngân sách ngay cả khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao. Quan trọng là phải có chính sách chi tiêu tài khóa đảm bảo đem lại quá trình phục hồi mạnh và liên tục chứ không nên lo quá nhiều đến quy mô thâm hụt và nợ chính phủ.


    Khi quá trình phục hồi diễn ra mạnh mẽ thì chính phủ phải quyết định cần cải tổ như thế nào để những quy tắc, quy định mới sẽ hạn chế hoạt động của thị trường ở mức đủ để tạo ra một xã hội văn minh.