02. Trang 022 - [email protected] (đã soát xong )

16/9/15
02. Trang 022 - [email protected] (đã soát xong )
  • :rose:

    Trình độ ta tuy chưa được bằng các nước Âu Tây ngày nay biết ưu đãi đàn bà, nâng niu như bông hoa hòn ngọc, nhưng cũng không đến nỗi như lắm dân bán khai ngược đãi kẻ nhu thuận, coi như cái máy đẻ con hay con vật mang nặng. Đàn bà nước ta từ xưa đến nay vẫn được cái địa vị xứng đáng trong xã hội, mà cũng không bao giờ phụ tiếng gái lành, vợ hiền, mẹ từ, là gương tốt nghìn năm của bạn nữ lưu. Nhưng các cụ ta ngày xưa quá tin cái thuyết cổ về lẽ âm dương, cương nhu, cho đàn bà là kém hẳn đàn ông, không thể dạy cho bằng đàn ông được. Không những thế, mà lại cũng không cần phải dạy nữa, vì âm vốn phải tùy dương, nhu vốn phải thuận cương, đàn bà đã không thể tự chủ, được ỷ lại vào đàn ông, thủa con gái theo cha, thủa làm vợ theo chồng, thủa làm mẹ theo con, nhất sinh gồm trong ba chữ tòng, thì cha hay, chồng hay, con hay là mình được hay; dạy cho lắm, cũng thuộc về vô ích. Bởi thế nên các cụ chăm chút cho con trai bao nhiêu, lãng bỏ con gái bấy nhiêu. Nói sự giáo dục đàn bà con gái, thì nước ta hầu như tuyệt nhiên không có. Không phải rằng ngày xưa không có lắm bà hay chữ, lắm bậc tài tình, nhưng đó là những người lỗi lạc xuất chúng, không thể kể được. Cũng không phải là các cụ ta không hề dạy đến con gái chút nào, phó mặc cả cho công gây dựng của tạo hóa. Nhưng cách dạy ấy là bằng ở tập tục cả, chỉ cốt cho biết phép cư xử khi ở nhà, khi xuất giá, để trọng phận sự làm con làm vợ mà thôi. Không bao giờ chủ mở mang trí thức cho đàn bà con gái cũng được hiểu nghĩa lý như đàn ông.

    Nói rút lại thì người đàn bà ở nước ta ngày xưa tuy không đến nỗi bị bạc đãi, nhưng cũng vẫn coi như trong luật gọi là người “vị thành niên”, chung thân là “vị thành niên”, đã không có tư cách tự chủ tự trị, cũng không cần phải học tập giáo dục cho lắm.

    Ấy tư tưởng của các cụ ta về thân phận đàn bà như thế; tư tưởng ấy ngày nay có thích hợp nữa không ?

    Quyết rằng không. Đàn bà quyết không phải là trời bẩm sinh ra kém đàn ông, tính tình trí tuệ có khác, nhưng không phải là kém. Đàn ông là mây thì đàn bà cũng là khói, nếu cùng thả cũng có thể cùng nhau bay bổng trên tầng xanh. Nhất là đàn bà nước Nam lại có lắm tư cách hay: linh lợi mà can đảm, nhẫn nại mà khôn ngoan, xưa nay đã có tiếng đảm đang về đường kinh tế. Thương nghiệp trong nước phần nhiều là ở trong tay các bà. Dễ cả thế giới không đâu có cái cảnh rất đáng kính đáng phục, là cảnh nhà nho vợ nuôi chồng đi học, học suốt đời vì sự học ở nước ta không có thời hạn, một mình tần tảo mà cung cấp được cả nhà, trên cha mẹ, dưới lũ con. Tôi thường ước ao trong làng văn ta xuất hiện được một tay tiểu thuyết có tài mà mô tả cái cảnh đáng kính phục ấy, để lưu truyền mãi mãi về sau.

    Một nước có những đàn bà giỏi như thế, sao nỡ lãng bỏ mà không chăm chút việc giáo dục, khiến cho thành nhân cách hoàn toàn, xứng đáng với cái tư chất tốt, với địa vị cao trong xã hội?

    Ngày xưa nho học giới nghiêm về đường đạo đức, người đàn bà dẫu không có học cũng chịu cảm hóa trong gia đìn mà đủ giữ được phẩm hạnh. Sức cảm hóa ấy vừa mạnh vừa sâu, người con gái mới sinh ra đã hình như hô hấp ngay trong không khí quanh mình. Rồi sau lớn lên, ai nấy đều như ngầm hiểu mà tự biết cái đường chính nên đi, không mấy người đến nỗi sai lạc. Nhưng đó chẳng qua là sự hun đúc tự nhiên của xã hội. Trình độ đạo đức trong xã hội còn cao bao nhiêu thì sự hun đúc ấy còn có hiệu nghiệm bấy nhiêu. Trình độ càng thấp xuống thì sự hun đúc cũng ngày càng phai lạt dần đi. Lò than có hồng mới đủ sức nóng mà hun được vật ngoài; lò than đã vạc thì ngoài da còn lạnh, mong chi ấm áp được đến ai?

    Lòng đạo đức trong quốc dân ta ngày nay, tức là cái cảnh lò than đã vạc, mỗi ngày một nguội dần đi. Phàm người biết trông biết nghĩ, ai cũng phải công nhận như thế. Sự nguội lạnh ấy hại cho đàn ông một, mà hại cho đàn bà mười. Đàn bà là cái cây cảnh quý của trời đất, bẩm sinh ra thân yếu ớt mà lá mong manh, phải trồng trong nhà “ôn thất” mới sống được; nếu đem hạ nhiệt độ xuống, nếu lại để cho xông pha sương tuyết nắng mưa thì được mấy nả mà cây tàn lá rụng?

    Than ôi ! Phẩm hạnh người đàn ông kém, cái hại cho xã hội thực là to; hại ấy cũng chưa bằng là phẩm hạnh người đàn bà hư; vì đàn bà hư là hại đến nguồn gốc xã hội vậy.


    Xét như thế thì một đàng tư tưởng mới của thế giới văn minh ngày nay chủ trương cái thuyết nam nữ bình quyền, giục giã ta phải lưu tâm về sự giáo dục đàn bà con gái, khiến cho đàn bà ở đời bây giờ cũng được địa vị, quyền lợi tương đương với đàn ông; một đàng thì khởi nền đạo đức cũ suy đồi, cái tình thế riêng trong xã hội khiến cho người đàn bà khó biết nương tựa vào đâu mà giữ được phẩm hạnh, dễ mắc những phong thói bại hoại ngày nay, cần phải giáo dục cho đến nơi mới có đủ tư cách mà tự chủ tự thủ được.

    Hai phương diện ấy tuy khác nhau, nhưng kết luận đều là cần phải cho đàn bà con gái được học, học cho đến nơi đến chốn, ngõ hầu được biết nghĩa lý mà suy xét điều nọ lẽ kia, không thể để mang nhiên như xưa được nữa.

    Hiện nay còn có nhiều người theo đuổi cái não đời Trung cổ, mà chủ trương cái thuyết bó buộc người đàn bà, không muốn cho thông hiểu điều gì, nói rằng đàn bà càng biết chữ lắm càng dễ nhiễm thói xấu nhiều; bất nhược để cho ngu dốt như xưa lại dễ dạy hơn. Không những cái tư tưởng ấy không có lượng, chỉ tỏ lòng vị kỷ của đàn ông, mà lại thực trái với tình thế hiện thời. Phong hội ngày một mở mang, văn minh ngày một tiến bộ, cuộc đời như bài kịch hay, lắm vẻ ly kỳ, lắm màu thú vị, đàn ông có thể giữ lấy một mình mà coi, không cho đàn bà được dự sao ? E ngăn cầm bao nhiêu lại càng thúc giục lòng hiếu kỳ bấy nhiêu. Mà lòng hiếu kỳ không được thỏa mãn, dễ sinh ra lắm nỗi hiểm nghèo, di hại cho xã hội không phải là ít vậy.

    Ai không nhớ chuyện Phật tổ ngày xưa, vua cha từ khi sơ sinh cố giữ không cho ra ngoài cung để khỏi trông thấy những cảnh phiều não ở đời. Tử nhỏ đến ngót ba mươi tuổi, Như Lai mang nhiên không biết nông nổi người đời sống thác ra sao, thường khao khát muốn được xem xét tận nơi. Bèn mưu với tên thị vệ, trốn đấng Hoàng khảo, ra dạo chơi nơi phố phường. Bốn lần ra bốn cửa thành thì lần thứ nhất gặp người hành khất, lần thứ nhì gặp kẻ bệnh nhân, lần thứ ba gặp đám tang ma, lần thứ tư gặp người đạo sĩ; bốn lần trở về đều phát phiền, nghĩ cõi trần là nơi khổ ải, nên mới đi tu cho thoát nợ đời. Bấy giờ vua Cha mới tự hối muốn tránh cho con khỏi trông những cảnh phiền não mà thực là gây cái mối phiền não ở trong lòng.

    Nay muốn khỏi sự nguy hiểm ấy, phải kíp mưu việc giáo dục đàn bà con gái, xét xem như trình độ nước ta ngày nay thì cách giáo dục phải thi hành thế nào cho thích hợp.

    Vấn đề khó giải thay ! Vì sự giáo dục ấy trước chưa có cơ sở, nay nhất thiết phải gây dựng cả, phải định mục đích sự học, nghĩ phương pháp nên theo, lượng kết quả về sau, đo ảnh hưởng bây giờ; nói rút lại là phải xem xét nước ta hiện nay cần người đàn bà phải có những tư cách thế nào, và phải dạy học ra làm sao để có thể gây được những tư cách đó.

    Chúng tôi không dám tự phụ giải quyết được một vấn đề lớn lao quan trọng nhưu vậy. Chỉ xin bày tỏ đại khái để cảnh báo quốc dân, và bàn góp thêm mấy ý kiến thô thiển.

    Ở nước ta ngày nay, đàn bà con gái có thể dạy học được, còn thuộc về hạng thượng lưu cùng trung lưu trong xã hội. Thượng lưu là gồm những nhà thế gia cự tộc, cùng đại để những bậc nền nếp giàu sang, không bị bách về đường doanh sinh mà có thể lưu tâm về sự học vấn. Tuy những nhà thế phiệt tất mỗi ngày một ít đi, nhưng lại có một hạng người khác xuất thân hàn vi mà gặp thời vận dựng nên cơ đồ lớn, có công mở mang nền kinh tế trong nước. Những nhà ấy như bên Âu Châu thì gọi là bậc “cao cấp trung lưu”, bên ta cũng có thể liệt vào hàng thượng lưu được. Thường là những tay phú hào, tự mình đã quá tuổi không học được, tất hết sức chăm chút cho sự giáo dục các con về sau này.

    Đến như trung lưu thì là gồm cả những nhà Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung, không giàu không nghèo, vừa đủ sức cho con đi học, nhưng thường coi sự học như là một cái vốn về sau mà cốt vụ đường thực lợi. Hạng trung lưu đó là phần đông hơn cả, lại là phần chăm chỉ cần mẫn, ham bề tiến thủ; một nước phải lấy đấy làm gốc, nước giàu dân mạnh cũng là nhờ công phu tài trí của hạng này nhiều.

    Trong việc giáo dục đàn ông con trai không thể phân biệt thượng lưu trung lưu, vì sự giáo dục ấy là để đào tạo nhân tài, mà nhân tài không có thể lấy giai cấp mà hạn chế được. Đến như sự giáo dục đàn bà con gái thì là cốt nhất gây lấy nhân cách hợp với tình thế cùng hoàn cảnh trong xã hội; xã hội có đẳng cấp, sự học cũng phải tùy mà thay đổi. Cậu ấm con quan lớn hay là anh cả con bà hai, nếu có tư cách tốt cũng có thể tiến đạt bằng nhau mà cùng làm nên sự nghiệp lớn. Nhưng cô chiêu sinh nơi phú quý với chị mổ đẻ chỗ bán buôn, thì cái cảnh ngộ đã khác, sự học hành cũng không thể giống nhau được.

    Bởi thế nên trong việc giáo dục đàn bà con gái, phải tùy địa vị trong xã hội mà xếp đặt phương pháp vậy.

    Cứ như trên đã nói về địa vị người đàn bà ở các nước văn minh, thì đàn bà tuyệt phẩm ví như cái hoa thơm hòn ngọc quí để tô điểm cho đời người được thêm vui thêm thú. Người đàn bà con gái đứng vào bậc thượng lưu trong nước cũng có thể mang một cái hy vọng tuyệt phẩm ấy ở trong lòng. Sinh trưởng nơi phú quý, phải có cái học thức tương đương với địa vị mình. Không phải lao động về đường doanh nghiệp, phải có cách tiêu dùng thì giờ cho xứng đáng. Cổ nhân dạy đàn bà con gái những nhà quý tộc các nghề phong nhã như: cầm, kỳ, thi, họa. Tuy ở đời thực học này, những nghề ấy đã mất giá đi nhiều, nhưng không phải là đáng bỏ hẳn. Nghề đàn nghề thơ bao giờ cũng vẫn là hai món tất yếu của người con gái “hay chữ”. Nhưng trước hết hãy hỏi người con gái ở nước ta phải “hay chữ gì ? ”. Theo ý tôi thì quyết phải là “hay” chữ quốc ngữ. Đàn bà con gái học quốc ngữ không những đọc để biết đọc biết viết mà thôi, phải học cho đến làm thơ được văn bằng quốc âm. Biết đâu ? Đương buổi quốc văn còn nghèo ngặt này, đàn ông vì thời thế không thể chuyên chủ cả tinh lực mà luyện tập lấy tiếng nước nhà, người đàn bà nếu biết đem cái tài tình riêng của mình mà uốn-nắn cho lời nôm được mềm-mại, cũng thanh-tao mà cũng yểu-điệu như mình, khá lấy diễn được hết những cảnh sầu-vui trong mộng-thế, mối cảm-động trong tính-tình, thì thơ văn nôm sau này há lại chẳng được nhờ cái công đào-tạo ấy mà phấn-khởi bồng-bột lên dư ? Cái não khô-khan của đàn ông vun trồng mãi chưa thành, có lẽ mối tình đườm-nhuận của đàn-bà tẩm-tưới mà nên chăng ? Chúng ta rất mong-mỏi ở các tân-nữ-sĩ sau này.

    Nhưng đó là cái mộng-tưởng, sự hi-vọng về tương-lai. Hiện nay còn có một điều khó-khăn, là đã đành rằng dạy văn quốc-ngữ cho con gái mới là phải, nhưng văn chưa thành, sách chưa có, dạy thế nào bây giờ ? Kể câu hỏi đó cũng khó trả lời thật. Nhưng đợi đến ngày có nhiều sách hay bằng quốc-văn xuất-hiện ra đời, - mà mong rằng ngày ấy không xa, - hiện sách quốc-ngữ đã có ít nhiều có thể cung cho sự cần-dùng của các bà các cô lúc mới đầu. Nhất là những thơ truyện cũ (như truyện Kiều, Cung-oán, Nhị-độ-mai, Chinh-phụ, Lục-vân-tiên, v. v.), lại là hợp tính-chất người đàn-bà lắm. Một nền thơ kiệt-tác như truyện Kiều mà khéo diễn-giải, bình-luận, thuyết-minh cho đàn-bà con gái nghe, thì tưởng không kinh thánh truyện hiền nào hay bằng, thiết-tha mà thâm-trầm bằng ! Các cụ ngày xưa vẫn giới-nghiêm về truyện Kiều, không cho con gái đọc, sợ dâm-loạn mất tính-tình. Thiết-tưởng các cụ quá nghiêm như vậy là lầm. Người ta thường nói đàn-ông thuần-lý, đàn-bà thuần-tình ; thuần-lý thì để lấy lý mà phục, thuần-tình thì phải lấy tình mới cảm được. Truyện Kiều thực là một kho tình vô-hạn, mỗi câu như mang nặng một gánh tương-tư với đời. Lại là một cái gương tầy liếp, phản-chiếu cho ta trông thấy hết các hạng người trong xã-hội, người nào tật nấy in như thực, như trên màn chớp bóng vậy. Vậy thì những sách như truyện Kiều chẳng là những sách << giáo khoa >> tuyệt-phẩm cho nữ-lưu dư ?

    Ta bàn khí dài về sự học quốc-văn mà chưa kịp nói đến các môn học khác cần cho đàn-bà con gái. Tuy người thượng-lưu có thể chuyên-trọng về nghệ-thuật văn-chương, nhưng không phải là lãng bỏ được các môn thực-học. Toán-pháp, cách-trí, vệ-sinh, địa-dư, lịch-sử, đều là những môn học thiết-yếu cả. Nên dùng quốc-ngữ mà dạy những điều phổ-thông cần phải biết. Lại các món nữ công khác, như thêu-thùa, làm bánh, kết hoa, v. v. cũng nên thông-thạo cả. Còn nghề đàn, nghề vẽ, là những nghề tài-hoa, học được rất nên dụng-công. Người con gái nào có tư-chất thông-minh; muốn học lên bậc cao-đẳng hơn nữa, thì phải nghiên-cứu một ít Hán-học. Đã thông văn nôm thì học chữ Hán cũng dễ, không bao lâu tất đọc sách ngâm thơ được. Đến khi ngâm câu Đường-thi, bình bài cổ-văn mà hiểu được nghĩa, thì bấy giờ cái cổ-học là đủ, không cần phải miên-man vào kinh-truyện cho lắm. Nếu còn có sức học được nữa thì học thêm Pháp-văn lại là hay lắm. Nhưng muốn học chữ Pháp cho thông phải lâu năm, mà cái thời-kỳ học của con gái, dẫu là người thượng-lưu nữa, cũng có hạn nhất-định, không thể quá được. Thiết-tưởng đến khi kiêm-thông được ba thứ chữ thì nhà nữ sĩ đã đến tuổi hôn-nhân, mà sắp bước vào một cuộc đời mới vậy.

    Nhưng cứ cái học-thức như trên, cũng tạm đủ làm người đàn-bà thượng-lưu trong xã-hội ta. Các khoa phổ-thông đã thiệp-liệp, tuy chưa được rộng được sâu nhưng cũng biết được ngành-khái, lại thêm được thơ đọc văn đề hàm-dưỡng tính-tình, dù lấy chồng là người có vị-vọng hay kẻ có học-vấn, cũng là có cái trí-thức tương-đương với địa-vị mình. Trong cuộc giao-tế, biết lấy tài hoạt-bát ứng-đối mà trang - điểm cho câu chuyện, ai nghị-luận gì cũng am-hiểu mà biết bày tỏ ý-kiến riêng ; không tất-nhiên là phải có tư-tưởng sâu-sắc hơn người, cối là lời nói xuất ư tự-nhiên mà đạt được ý-tứ của mình vậy. Đã nghiệm phàm đàn-bà ăn-nói tự-nhiên, dù lời nói rất tầm-thường cũng có cái thú-vị riêng. Đã có cái biệt-tài hơn đàn-ông như vậy, không nên lạm-dụng. Vì thói quen đàn-bà ở nước ta là hễ hơi biết chữ tất lên mặt cao-kỳ. Công giáo-dục là phải sửa cái thói ấy lại, khiến cho nhớ rằng bao giờ sự ôn-nhu khiêm-nhượng vẫn là đầu các nữ-hạnh.

    Ấy đại-khái phép giáo-dục đàn-bà con gái bậc thượng-lưu như thế. Sự giáo dục ấy xưa nay hầu như không có, nhà nào có cũng là còn khuyết-điểm nhiều. Đại-để các quan thường cho con gái học, song sự học ấy không có định-kiến, kết-quả cũng là thuộc về hư-không vậy.

    Ngày nay nếu con gái bậc thượng-lưu nước ta, vào khoảng mười-tám, hai-mươi tuổi, mà đều có cái học – thức như vừa phác-họa ở trên, thì tưởng trong xã-hội ta cũng nảy được một cái tia sáng mới, một cái hương thơm lạ ở nơi khuê-các, chốn gia-đình vậy. Dân ta có lẽ nhờ đó mà bước được một bước to trên con đường văn-minh tiến-hóa.

    Nhưng bậc thượng-lưu còn là số ít ; hạng trung-lưu mới thực là phần đông trong xã hội. Sự giáo-dục đàn-bà con gái bậc thượng-lưu là không chủ một cái mục-đích cận-lợi gì, chỉ cốt gây-dựng nhân-cách, đào-luyện tính-tình ; giáo-dục đàn-bà con gái bậc trung-lưu, ngoài việc gây-dựng nhân-cách, còn phải phục vụ sự thực-ích thực-lợi nữa.

    Đại-để xưa nay các nhà phường-phố không từng cho con gái học chữ. Mới lớn lên đã phải tập theo nghề nhà, chăm việc bán-buôn, còn lúc nào mà lưu-tâm đến sự học. Từ ngày có trường nữ-học, đã có nhiều nhà đua nhau cho con vào trường, nhưng thường-thường chỉ cho học mấy năm còn nhỏ mà thôi, đến 14, 15 tuổi thì đem về coi-sóc việc nhà ngay. Nên cái học ấy cũng chưa thành kết-quả được mấy. Vả chương-trình các trường nữ-học còn chưa được thích-hợp với trình-độ nước ta. Phàm phổ-thông giáo-dục mà dạy bằng tiếng ngoại-quốc nhiều là thất-sách cả. Đối với con trai còn hại huống-chi là con gái.

    Đại-khái phép giáo-dục con gái bậc trung-lưu cũng sâm-si với bậc thượng-lưu mà nên lấy quốc-văn làm chốt. Nhưng có điều khác, là văn-chương nghệ-thuật không trọng bằng thực-học thực-nghiệp. Nên dạy cho biết các khoa phổ thông bằng quốc-ngữ, lại chú-trọng về các nữ-công, như vá-may, thêu-thùa, đan-dệt, v. v. Có một khoa cũng cần lắm, là khoa kế-toán, học giữ sổ-sách buôn-bán, tính-toán tiền-nong đồ-hàng, vì phần nhiều con gái bậc trung-lưu là con nhà buôn-bán cả, nếu biết những điều cần-thiết ấy có thể giúp cho cha mẹ và có ích cho nghề-nghiệp mình về sau. Đến khi đã thuộc các món phổ-thông rồi, thì không cần phải học chữ Hán là món trang-điểm cho bậc thượng-lưu mà thôi. Bấy giờ có thể bắt đầu học chữ Pháp được. Nhưng học cốt cho giản-dị, thiết-thực, nghĩa là để về sau trong khi buôn-bán giao-thiệp có thể trực-tiếp với người Tây được.

    Đó là cái chương-trình phác-họa trong tưởng-tượng về giáo-dục đàn-bà con gái ở nước ta ngày nay. Nay muốn thi-hành chương-trình ấy, phải làm thế nào?

    Thuộc về sự giáo-dục con gái bậc trung-lưu thì thiết-tưởng chỉ nên cải-cách các trường nữ học hiện nay, theo như ý-nghĩa vừa nói, nghĩa là nên dạy nhiều chữ quốc-ngữ mà chữ Pháp thì dùng cách trực-tiếp giản-dị mà dạy, cốt cho mau hiểu mau biết là đủ, lại chú-trọng về các món thiết-thực có ích-lợi cho chức-nghiệp người đàn-bà. Về đường ấy thì cơ-sở đã tiệm có, chỉ nên khoáng-trương mà phát-đạt lên vậy.

    Nhưng đến việc giáo-dục con gái bậc thượng-lưu, thì mục-đích vừa khác mà vừa cao hơn, thể-lệ chương-trình trường Nhà-nước quyết là không thích-hợp. Ngày xưa, các nhà thế-phiệt thường dạy con gái ở nhà, nhưng bất-quá là dạy cho biết ít chữ Hán mà thôi. Ngày nay phạm-vi sự học rộng hơn, cái giáo-dục gia-đình ấy không đủ nữa. Vậy phải làm thế nào cho điều-hòa được phép dạy học ngày nay với cái nền-nếp ngày nữa ? Cố-nhiên là trường Nhà nước có chương-trình nhất-định, không thể chiều riêng một bọn thượng-lưu mà dạy những khoa-học đặc-biệt. Thiết-tưởng chỉ có một cách là lập ra một nhà << Nữ-học-viện >> riêng để chuyên dạy những con gái thượng-lưu. Gọi là << học-viện >>, không gọi là << học-đường >>, là có ý tỏ cái tính-cách đặc-biệt, không giống các trường học thường. Học-viện là một hội học, hơn là một trường học. Cái tổ-chức có ý uyển-chuyển cho hợp với cái khuynh-hướng, lòng sở-thích của người học. Một người có danh-vọng trong xã-hội, hoặc ông quan hay bà quan nào, đứng lên lập ra, làm giám-đốc. Giáo-viên thì lựa chọn những người hay chữ, đứng-đắn, có phẩm-giá, có địa-vị, một tuần-lễ mấy ngày đến giảng-diễn về các món trong chương-trình. Vì lối dạy ở Nữ-học-viện này phải là lối diễn-thuyết bình-dị, không nên đặt thành học-khóa như các trường. Đại-khái, trong học viện chia ra làm hai ban : một ban gọi là << dự-bị >> để dạy các khoa phổ-thông cho những người còn ít tuổi, chưa thể nghe giảng nghĩa được. Cách dạy ở ban ấy cũng sâm-si như ở các trường nữ-học nhà nước ; nếu không có giáo-viên riêng, có thể mượn các cô giáo trường nhà-nước dạy cũng được. Một ban nữa là ban << diễn-giảng >> như vừa nói ở trên. Ban này mới thực là phần cốt-yếu trong học-viện, để cho những người lớn đã có học phổ-thông rồi, đủ tư-cách nghe được các bài giảng-diễn. Không những các cô học-trò, các bà cũng có thể buổi buổi đến nghe được, vì ban này vừa là một lớp dạy học, lại vừa là một nơi diễn-đàn, cách tổ-chức tham-bác cả hai đàng. Nếu thuần là một lớp dạy học thì chương-trình nhất-định, e đàn bà con gái không hứng theo ; nếu thuần là một nơi diễn-đàn thì những bài diễn-giảng hoặc thất ư quá cao, hoặc thất ư quá phiếm, có lẽ không được thiết-thực và bổ-ích cho sự giáo-dục. Ngoài các bài diễn-thuyết, lại đặt nhiều món nữ-công do các bà giáo dạy. Thêm một kkhoa dạy đàn, một khoa dạy hát nữa, cũng lại là hay lắm. Nói rút lại thì phải khéo điều-hòa nghệ-thuật với thực học, cho cô con gái sau khi ở học-viện ra có đủ tư-cách người tài-hoa kiến-thức đáng làm chủ-nhân trong cuộc xã-giao.

    Trong học-viện sẽ đặt một lớp riêng dạy chữ Hán, chữ Pháp cho những người có thể học cao được đến bậc ấy. Cách dạy học thì như đã bàn qua trên kia, cốt thông – hiểu, không vụ nghiên cứu.

    Nhưng phần cốt-yếu vẫn là phần giảng-thuyết, vì chỉ có cái lối dạy ấy là hợp với tính-chất người đàn bà. Dùng cách nói chuyện mà dạy, thì người học cũng vui mà người dạy cũng vui. Người học lại được cái lợi nữa, là học không khó nhọc gì, chỉ nghe mà biết. Nếu được ông giáo bà giáo giỏi thì cái hiệu-lực của cách dạy ấy có lẽ bằng bội phần cách dạy thường. Đó là một điều nên chú-ý trong khi kén-chọn các giáo-viên. Nên lựa chọn người vừa tân-học, vừa cựu-học, không nệ bên nào.


    Ấy là ý riêng của tác-giả về cách tổ-chức một nhà học-viện cho nữ-lưu nước nhà. Cũng biết đó đẳng qua là một sự mộng tưởng mà thôi, chưa có thể một mai mà thực-hành ngay được. Hiện nay nước ta còn chưa có nữ-giới như các nước ; đàn bà con gái chưa có một cuộc << xã giao >> chung, xưa nay thường ai ở nhà nấy, không hay có dịp đi lại giao-thiệp với nhau mà bàn xét đến những điều ích lợi chung. Lại thêm phong tục có điều chặt-chẽ, bó-buộc người đàn bà, không được tự do cử-chỉ. Bấy nhiêu sự ngăn-trở không thể nhất đán mà vượt qua được, nên cũng chưa mong cái công – cuộc lớn – lao về sự giáo dục đàn bà con gái đã sắp đến ngày khởi hành mà thành-công ngay được. Nhưng tây-nho có câu : << Mộng-tưởng là mẹ sự thực >>. Phàm sự kiến-thiết lớn, lúc khởi-thủy cũng là do một cái tư-tưởng xuất-hiện ra trong tâm-trí một người. Như thế thì cái mộng-tưởng trên kia không phải là vô-ích ; nếu lại khiến được các nhà trí-thức trong nước để ý vào vấn-đề giáo dục này thì có lẽ cũng là sự mơ mộng hay vậy.

    (1917):rose: