02. Superlazy (done)

30/7/15
02. Superlazy (done)
  • CHỦ NGHĨA SIÊU NGHIỆM CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN

    Ở Pháp sự kiện Khôi phục những giá trị đang diễn ra. Ở Mỹ không có một Napoléon nào có thể xuất hiện. Tuy vậy người ta chứng kiến ít nhiều hiện tượng về sự chùn xuống của sự hồ hởi cách mạng. Emerson đã viết rằng “từ 1790 đến 1820, không có một cuốn sách nào, một bài diễn văn nào, một cuộc đàm đạo nào, một ý tưởng nào đáng nêu lên”. Chính trong khung cảnh đó đã nảy sinh một phong trào sau này mang tên chủ nghĩa siêu nghiệm đạt tới điểm đỉnh vào năm 1840. Người ta cũng gọi đó là chủ nghĩa lãng mạn Mỹ. Nó cũng được gọi là nước Mỹ trẻ để so sánh với nước Đức trẻ. Nhà tư tưởng tiêu biểu nhất là Ralph Waldo Emerson (1803 - 1883), tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là cuốn Tự nhiên (1836). Chung quanh ông là những người đứng ra lo việc tổ chức viết bài, tranh luận như Amos Bronson Alcolt (1799 - 1850), Theodore Parker (1810 - 1860), Henry David Thoreau (1817 - 1862).

    Những nhà siêu nghiệm xuất thân phần lớn từ những “người thống nhất” (Unitariste) “những người bạn của tư tưởng tôn giáo tự do”, của một Cơ đốc giáo chống giáo điều, nhất là chống Calvin. Chúa và cá nhân gần gũi nhau và gắn bó với nhau bằng tình bạn bè. Chủ nghĩa nhị nguyên thần học cứng rắn nhất và chủ nghĩa hữu thần của Aufklarung được thay thế bằng chủ nghĩa hữu thần tâm tình. Thầy cả thân thương nhất của những người thông nhất mà những người siêu nghiệm tôn sùng là giám mục William Ellerey Channing (1780 - 1842), Emerson gọi ông là “giám mục của chúng ta".

    Những nhà lãng mạn Mỹ đã tìm được những người gần gũi ở Châu Âu như: Wordsworth, Coleridge, Shelley và Carlyle, Cousin, bà de Staẽl và Fourier, Goethe, Kant và Fichte. Những người Mỹ trẻ hơn những người tiền lãng mạn Đức chừng mươi hay hai mươi tuổi, đã dùng thơ ca, lý luận và chính trị Anh, Pháp và Đức khi những cái đó biểu hiện những cảm xúc của họ. Họ không sao chép, không đưa vào những bài thơ, những hệ thống hay những kinh nghiệm xã hội vốn có của Châu Âu thường được coi như là cái gì độc đáo.

    Những nhà lãng mạn Đức hướng vào sự trùng hưng chính trị và tôn giáo. Còn các nhà lãng mạn Mỹ lại gắn bó với phong trào tự do (giải phóng phụ nữ, trẻ em, người da màu, những dân tộc bị áp bức như người Italia).

    Những động cơ hư vô chủ nghĩa của những nhà tiền lãng mạn Đức (ở Schlegel), của những mẩu triết học của Nevalis) không có ở Mỹ. Tuy vậy chủ nghĩa lãng mạn của Mỹ là một bản hòa tấu khá hài hòa. Họ theo chủ nghĩa chống duy , đối lập với Aufklarung, từ chối chủ nghĩa duy lý thần học và hữu thần và cả chủ nghĩa duy lý chống thần học và hữu thần. Họ chống lại chủ nghĩa duy cảm, chống lại chủ nghĩa cơ giới và chủ nghĩa quyết định, họ thù địch với kỹ thuật mới. Họ say mê chủ nghĩa lãng mạn, thấy nó như một mùa thu mênh mang những mộng , những miên hành (ngủ rong), những ảo mộng, những lời tiên tri, những lời thánh truyền, sự xuất thần, phù thủy, quỷ thuật, phép lạ, sự xuất hiện của ma quỷ. Họ rất có lòng tin (Emerson viết: “Lịch sử là tiểu sử của sự cao thượng”). Những từ “đời sống” , “tâm tình” có một vai trò quan trọng. Lòng tin đó ở Mỹ có màu sắc chống Calvin. Họ đi theo chủ nghĩa hỗn loạn pha trộn với sự làm vừa lòng đối với Chúa Trời (“thần học của nhà trường đã chết, thần học mới xuất hiện với ngôn ngữ của thiên thần", "tôn giáo chân chính là ở trong trái tim và không gắn bó bất cứ hình thức và ngôn ngữ nào cả”).

    Người ta thấy những nhà lãng mạn siêu nghiệm Mỹ quan tâm nhiều tới chủ nghĩa phương Đông bởi vì họ đưa vào tiềm thức văn hóa của mình vào thế giới văn hóa phương Đông không chỉ về quan niệm giữa cá nhân và vũ trụ - thường ở trung tâm của những học thuyết ở phương Đông - mà còn xuất phát từ truyền thống thần bí Châu Âu gần gũi với trường phái Ấn Độ Veda. Sự việc những nhà lãng mạn Mỹ quan tâm tới phương Đông đã đi tới niềm tin trong sức sống của nền văn hóa trẻ Mỹ mà họ coi đó không chỉ là sự gần gũi với lý tưởng nhân văn phổ quát, tự do mà còn nằm trong truyền thống ngàn năm và do vậy nền văn hóa đó là mở với ảnh hưởng phương Đông hơn là văn hóa Châu Âu tự thu mình lại trong bản thân mình.

    Tóm lại, chủ nghĩa siêu nghiệm không phải là một triết học của một trường phái, không gắn bó với nhau bằng một hệ thống khái niệm. Như những nhà tiền lãng mạn Đức, họ là một câu lạc bộ gồm những đàn ông và đàn bà gần gũi nhau bởi tình bạn bè và bởi những ý kiến chung. Trung tâm văn chương của họ là tờ Dial (mặt đồng hồ) (thành lập năm 1840) và tờ The Harbinger (Báo trước) thay cho tờ báo trên.

    Có thể bổ sung thêm cho bức tranh trên bằng những đặc điểm của những cá nhân. Ví như sự nhiệt tình chung đối với Goethe và Kant được giảm nhẹ đi bởi một sự phê phán gắt gao. Theodore Parker nói chuyện với Santayana rằng: Goethe là một tên ngoại đạo. Mục đích của ông ta là trở thành M. Von Goethe. Ông ta tìm kiếm những cố gắng lớn nhưng không phải cao nhất. Quan niệm của ông ta là ích kỷ, Chúa Kytô không ở trong ông ta. Schleiermacher, nhà thần học đã được nhiều người Mỹ biết đến đương thời cũng bị “bới lông tìm vết”. George Ripey viết: “Ông ta sẽ thành công nếu ông ta đưa “cái vô cùng” vào trong tâm hồn con người”.

    Và về Kant, Parker viết rằng nhà tư tưởng đó là Chúa trời của ông ta, “ở ngay nước Đức ông ta là một nhà văn xoàng”.

    Hơn người Đức, người Mỹ là những người hoạt động tích cực, những nhà tổ chức, nhưng nhiều khi ở trong con người của họ có sự pha trộn một hoạt động có ý thức về mục đích với một sự ủy mị tràn trề. Margaret Fuller là chủ bút có uy tín của tờ báo của những người siêu nghiệm, người dẫn đầu kiên quyết về quyền của phụ nữ đã nói về Beethoven nhân một cuộc hòa nhạc như sau: “Đối với tôi, ông là người không so sánh được, ông là tất cả gì thỏa mãn tôi. Sự êm ả tuyệt vời của các thánh và của các vị tử vì đạo, sự phong phú của Raphael, sự thông thái của Platon chả là gì dưới mắt tôi, nếu tôi so sánh họ với ông. Shakespeare vô cùng, Angelo, Dante nghiêm trang - dịu dàng và gay gắt như ông - sẽ tàn phai ngay khi có mặt ông. Ngoài những tên tuổi đó, không có người nào có thể sáng lên trong vương quốc pha lê đó. Ông có tất cả ở trong người và sự viên mãn của cuộc đời, cái đà lớn nhất đó của bản thể mà họ chỉ có thể mơ tưởng”.

    Có thể nói sự đối lập giữa thực tiễn và tổ chức với một tình cảnh hỗn độn đôi khi ở trong một con người - đã biểu hiện tính chất đặc thù của chủ nghĩa lãng mạn. Alcott, người được gọi là Pestalozzi Mỹ, đã vứt bỏ những chiếc roi trường của ông, đã thay thế những ghế dài bằng những bàn có ngăn cá nhân và đã khuyến khích học trò nên có một cuốn nhật ký để tự sửa mình. Ông đã nói với Emerson những lời lẽ như sau: “Anh viết về thiên tài của Platon, của Pythagore và của Jesus, tại sao anh không viết về tôi? Mỗi linh hồn cá nhân là một thiên tài, là thần thánh muốn rằng nhân loại thần thánh được tôn thờ ở chính con người của họ”.

    Như vậy là người ta bắt gặp ở đây một đà cao cả vươn lên chủ nghĩa siêu nghiệm, chủ nghĩa lãng mạn Mỹ và hành vi thực hành và có ích ở mỗi “linh hồn cá nhân”. Điều đó làm cho trào lưu văn hóa đó, chủ nghĩa siêu nghiệm dưới con mắt của người Mỹ là “một thế kỷ hoàng kim” của Mỹ (ý của Mumford).

    NHỮNG CỘNG ĐỒNG KHÔNG TƯỞNG

    Chủ nghĩa siêu nghiệm, chủ nghĩa lãng mạn, không chỉ xuất hiện trên diễn đàn triết học mà còn đi thẳng vào đời sống của người Mỹ cùng với việc xây dựng một Nhà nước của mình ở Thế giới mới được coi như một “miền đất hứa”.

    Trước hết phải kể tới sự mơ tưởng của người Mỹ về một cộng đồng theo mô hình Pháp mang tên Brook Farm được thành lập gần Boston. Brook Farm lúc đầu có hai chục người, lúc phát triển cao nhất có hơn 50 thành viên.

    Trong thời kỳ bành trướng về miền Tây vào khoảng 1860, Robert Owen, nhà bác ái, nhà xã hội chủ nghĩa, chủ nhà máy ở xứ Wales đã xây dựng một cộng đồng mang tên Hài hòa mới tại Indiana như nguyên mẫu của loài người trong tương lai, một mô hình cần được áp dựng trên khắp thế giới. Người thợ máy Đức Willheim Weitling cũng như những môn đệ người Pháp và người Mỹ của Charles Fourier và Etienne Ca bet cũng theo đuổi những ý đồ lạc quan như thế.

    Đáng chú ý là khoảng 1950, đợt thứ hai của cộng đồng không tưởng này lại xuất hiện, tuy nguyện vọng được nêu lên khiêm tốn hơn. Người ta tìm cách thoát khỏi những trói buộc của đời sống đô thị, nền kỹ trị và guồng máy nhà nước, và đấu tranh chống lại sự bất an về tâm lý, về kinh tế và chính trị.

    Những khát vọng của họ thường dựa vào sự phát hiện thế giới nội tâm, mối quan hệ cá nhân và xã hội, sinh thái. Đây cũng là nơi ươm trồng những hành động đấu tranh chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, chống lại xã hội tiêu thụ, nạn ô nhiễm môi trường và việc gạt bỏ phụ nữ và những người luyến ái đồng tính ra ngoài lề xã hội.

    Giai đoạn nằm giữa hai thời kỳ bùng nổ sức sống lớn này là thời kỳ những “hợp tác xã xã hội” và những cộng đồng tị nạn bao gồm những người di trú và hỗn loạn chạy trốn sự ngược đãi mà những nước khác tạo ra. Trong những vùng tự do luôn luôn có mặt một truyền thống cấp tiến, cự tuyệt mọi hình thức chuyên quyền.

    Những cộng đồng trên bao gồm những tập thể ở đô thị, hợp tác xã và công xã mang nhiều hình thức, quy mô và phong cách khác nhau và nhiều khi tan biến đến nỗi không kịp phân tích và phân loại chúng.

    Một trong những thử nghiệm đặc sắc nhất của phong trào hỗn loạn tự do và cộng đồng mang tên Modern Times (Thời hiện đại). Người sáng lập là Josiah Warren, người cha đẻ của chủ nghĩa cá nhân hỗn loạn Mỹ. Modern Times là một cộng đồng là lạ làm ồn ào thời bấy giờ. Năm 1850, Josial Warren và một môn đệ của chủ nghĩa Fourier là Stephen Paul Andrews mua một khu đất trên đảo Long Island ở phía đông thành phố New York tại địa điểm ngày nay là thị trấn Brentwood.

    Hai năm sau, trên miếng đất cằn cỗi này mọc lên một cộng đồng gồm những túp lều xinh xắn với những phố phường chạy ngang dọc. Mặc dù gặp phải nhiều thất bại, họ vẫn ra sức làm việc. Họ chỉ ăn rau, tuyệt đối không ăn thịt. Táo và dâu được trồng dọc các đường lớn để khách qua đường có thể hái quả để ăn thoải mái khỏi phải xin ai.

    Cộng đồng có giấy bạc riêng, giấy bạc này yêu cầu người có tờ bạc trả người khác bằng giờ lao động. Tờ bạc “thời gian lao động” được cả làng lân cận chấp nhận, đã không bị ảnh hưởng bởi đợt phá giá đồng tiền năm 1857, thậm chí còn dùng để đóng thuế.

    Quyền được sống là giá trị cao nhất ở cộng đồng này. Chủ nghĩa cá nhân được tuyệt đối thừa nhận. Người ta cũng quan tâm tới những giải pháp tập thể để giảm bớt chi phí, giảm nhẹ công việc nội trợ với điều kiện tôn trọng lợi ích và sở thích của cá nhân. Các thành viên của cộng đồng được hoàn toàn tự do tư tưởng. Phụ nữ được tự do lựa chọn người bố cho những đứa con tương lai của mình: một dải ruy băng ở ngón tay cô gái là dấu hiệu nói rằng trái tim cô đã có chủ rồi. Việc cưới xin do đó ít khi cần hợp thức hóa. Hành vi đó dựa trên học thuyết của Fourier về sự tương hợp dẫn tới tình yêu không khỏi gây nên một tiếng đồn không hay cho cộng đồng này.

    Đã tự do tất không chấp nhận giáo điều. Quyền được sống theo sở thích của mỗi người và phát triển ở mỗi người sự sáng tạo, sự tìm tòi trí tuệ và tinh thần. Người ta coi sự thử nghiệm ở đây là một lý thuyết không tưởng chứa đựng những hình ảnh thanh bình và niềm vui của cuộc sống. Nó càng thúc đẩy có kết quả cuộc mưu cầu tự do mới.

    Chỉ kể mấy phát minh của cộng đồng trong điều kiện đương thời cũng đủ thấy sự khích lệ óc sáng tạo: hai người đã đưa môn tốc ký vào Mỹ, một người đã sáng chế ra chiếc thắt lưng an toàn cho trẻ em khi đi xe, Clark Orvis đã hoàn thiện chiếc xe đạp, đã đề xướng hình thức đầu tiên của quán ăn tự phục vụ.

    Tiếng tăm của cộng đồng nhỏ bé đó lan sang đến tận Nga. Những người lãnh đạo Hội lao động quốc tế hoạt động tại London, trong đó có Karl Marx, từng quan tâm đến những hoạt động của cộng đồng này. Những nhà cải cách xã hội nổi tiếng như Cabet, Owen, Weitling, Auguste Comte cũng như những người lãnh đạo phong trào lao động ở Mỹ đã không quên nghiên cứu học thuyết của Warren.

    Có một truvện kể rằng thời nội chiến ở Mỹ, có một “chiếc tàu nhỏ cánh buồm trắng” chở sang Nam Mỹ dân cư của Modern Times.

    Câu chuyện lãng mạn đó chỉ có ý nghĩa như một biểu tượng của tự do truyền đi bốn phương, số dân ở chung quanh khu vục Modern Times ngày một tăng nhanh đã dồn thử nghiệm này vào sự bất lực và kết thúc sự tồn tại của nó. Josiah Warren từ giã nó đi Boston tiếp tục suy tư về học thuyết của mình.

    Người Mỹ nhìn những thử nghiệm nói trên là một chủ nghĩa lãng mạn, là một không tưởng, nhưng họ cho rằng những không tưởng ấy là những sương mù bao phủ sự tiến lên về phía chúng ta những tư tưởng mới mẻ và khả thi. Những không tưởng đó nằm sâu trong truyền thống của nước Mỹ.

    TRIẾT HỌC HEGEL

    Chúng ta tiếp tục trở lại với những người siêu nghiệm. Họ mang tên đó vì họ là những người theo Kant (Kantien). Thực ra chủ nghĩa siêu nghiệm ở Mỹ của Emerson là học thuyết triết học - tôn giáo. Chủ nghĩa siêu nghiệm này muốn tìm ở Kant luận đề cho rằng mọi kinh nghiệm dù lớn nhỏ thế nào đều dẫn chúng ta tới một cái bên kia cho chúng ta thấy được vũ trụ (Univers). Niềm tin đó khiến những nhà siêu nghiệm Mỹ quan tâm tới Hegel. Nhà triết học Đức này cũng đưa ra một vũ trụ (Univers), dù sau này James cho là một vũ trụ - khối (Univers - bloc).

    Bochenski cho rằng Kant cũng là người ủng hộ sự biến chuyển trong vũ trụ của Hegel và những đặc điểm sinh động và tiến hóa trong vũ trụ của Hegel cũng rất lãng mạn. Nhà Hegel học nổi tiếng nhất của Mỹ là Josiah Royce (1755 - 1916). Ông dạy học ở Harvard trong 30 năm. Việc nghiên cứu Hegel và nêu cao danh vọng của ông ở Mỹ là một văn liệu to lớn. Có lẽ ông là một trong những nhà triết học nước ngoài có ảnh hưởng lớn ở Mỹ, vì chủ nghĩa lãng mạn của ông.

    Ở nhiều nước, những tư tưởng của Hegel có nhiều mối liên hệ với nhiều xu hướng chính trị (có thể kể tới những hệ tư tưởng bảo thủ, kể cả mác xít). Đặc biệt ở Mỹ, đó là sự kết hợp triết học của Hegel và một lý tưởng dân chủ, ví như sự nhiệt tình đối với Hegel của Walt Whitman - ông đã làm một bài thơ mang đầu đề “Sau khi đọc Hegel”. Dưới con mắt của Whitman, Hegel là “nhà triết học tôn giáo trung thực nhất và sâu sắc nhất đã nói cái hay nhất và cái cuối cùng trong những quan hệ giữa thế giới và cá nhân tức yếu tố cuối cùng của dân chủ”.

    Trong những năm 60 của thời kỳ Civil War (nội chiến) (1861 - 1865), bản thân những nhà cá nhân chủ nghĩa cấp tiến nhất cũng cảm thấy cần củng cố Nhà nước - không hại gì cho cá nhân. Dường như Hegel thỏa mãn ham muốn đó của họ. Trong số đầu tiên của Journal of Speculative Philosophy (Báo triết học tư biện), lần đầu tiên ở Mỹ, triết học duy tâm Đức được nhiều người biết tới thông qua những trích đoạn của các tác phẩm Hegel, người ta nói rằng: Ý niệm là cơ sở của hình thức chính phủ của chúng ta đến nay đã phát triển với một nét cơ bản: một chủ nghĩa cá nhân khô cằn ở đó sự thống nhất chủng tộc như một cơ chế bên ngoài mà người ta có thể vượt qua và có thể thay bằng kinh doanh tư nhân hoặc bằng nghiệp đoàn. Bây giờ, trái lại chúng ta có ý thức thấy một nét rất cơ bản đã phát triển và mỗi cá nhân thấy được trong Nhà nước sự thực hiện ý chí của mình. Tự do của cá nhân không phải chỉ là một việc làm tùy tiện mà là việc thực hiện một niềm tin duy lý được thể hiện trong một hệ thống luật pháp mà người ta thừa nhận. Rõ ràng, nét mới đó phải được hiểu và được thấm nhuần là cơ hội để vun trồng tư duy tư biện”. Như vậy là tinh thần khách quan của Hegel phục vụ cho sự thống nhất giữa những Nhà nước ở miền Bắc và miền Nam. Do vậy những nhà triết học theo chủ nghĩa tự do sử dụng Hegel để củng cố trong những năm đó tình cảm về Nhà nước, nhờ đó hai nhóm người ở hai miền tìm lại được sự thống nhất tuy có phần chậm chạp.

    Từ khi Hegel có vai trò quan trọng về mặt chính trị, lịch sử triết học của ông tồn tại ở Mỹ đã được 30 năm. Nhà Hegel học đầu tiên của Thế giới mới phải được kể là F. A. Rauch (1806 - 1841). Một năm trước khi qua đời (1831), ông sang Mỹ với ý định là “kết nối triết học của tinh thần Mỹ và Đức”. Việc nhân danh Hegel đó được thực hiện ở Sait Louis, thủ đô của dân di cư Đức sau 1848. Đây là cửa lớn mở về miền Tây, một nơi di dân ở nơi biên giới khá sầm uất, đông đúc những người đi tìm vàng và những người khai phá mạo hiểm.

    Trong những ngôn ngữ đang được sử dụng ở đây, người ta có thể học tiếng Đức trường Saint Louis. Henry Conrad Brochmeyer (1826 - 1906), một outsider (người khó bề thắng) đã dịch cuốn Logique. Bạn ông ta là Tony Harris sáng lập tờ Journal of speculative Philosophy (báo triết học tư biện) đã đưa đến cho người đọc nhiều bài viết của Hegel. Người ta thấy rõ những kết quả của họ trong sách báo triết học Mỹ nhất là trong nhiều nhà lịch sử, những người đã dùng những khái niệm của Hegel để giải thích không chỉ lịch sử thế giới mà cả lịch sử Mỹ.

    Ảnh hưởng của Hegel đạt tới điểm đỉnh ở giữa thế kỷ XIX, trong khi ở Đức, chủ nghĩa Hegel đã phải nhường bước cho khoa học, cho chủ nghĩa duy vật siêu hình, cho những nhà chống Hegel như Schopenhauer, Kierkegaard và Nietzsche. Ở Mỹ cũng vậy, cũng như ở Đức, Hegel bị công kích trước hết bởi chủ nghĩa thực dụng: người ta thấy ở Hegel là một trở ngại lớn trên con đường tìm tòi chính xác. Giáo sư triết học Mỹ Hans Reichenbach trong cuốn The rise of scientific philosophy (Nguồn gốc triết học khoa học) đã chỉ ra rằng Hegel bị công kích ở chỗ ông là người tạo nên một vũ trụ - khối mà cá nhân sống cần phải chống lại.

    Từ đây lịch sử triết học Mỹ mở ra một trang mới mang tính chất hậu - Calvin, hậu lãng mạn, hậu Hegel.

    3. THỜI KỲ NƯỚC MỸ TRỞ THÀNH SIÊU CƯỜNG

    Bước vào thế kỷ XX, nước Mỹ đã có những biến đổi to lớn. Năm 1904 Henry Adam đã miêu tả nước Mỹ như sau: “Một sự phồn vinh mà trong quá khứ không ai có thể hình dung được, một sức mạnh ngoài tầm vóc con người, một tốc độ của sao băng đã tạo ra một thế giới kích thích, dễ cáu gắt, dễ gây chuyện, vô lý và đầy lo âu”.

    Toàn bộ lãnh thổ đã được chinh phục, chinh phục tự nhiên và nhất là chinh phục thổ dân Indien. Đi đôi với sự chinh phục không gian đó là sự phát triển mạnh mẽ phi thường về kinh tế: nước Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số một của thế giới. Sự chạy đua đi tìm những cái “khổng lồ” lan rộng trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, dịch vụ: các ông vua lần lượt tranh ngôi bá chủ. Chủ nghĩa tư bản Mỹ bước nhanh tới thời kỳ hiện đại.

    Các nhà cải cách, các nhân vật có khuynh hướng tiến bộ đã lần lượt thay nhau giải quyết những thách thức về kinh tế, chính trị và xã hội do hiện đại hóa đặt ra bằng cách dựa vào niềm tin vững chắc, vào lợi ích của việc Nhà nước can thiệp vào xã hội. Xã hội hài hòa mà họ mong ước dẫu chưa trở thành hiện thực, nhưng ít nhất họ cũng trao cho thế hệ sau một nước Mỹ của thế hệ XX, một thế giới mới.

    CON NGƯỜI THÂN LẬP THÂN

    Sự lớn lên một cách thần kỳ của nước Mỹ có ngọn nguồn từ lòng tin lạc quan vào sự thành công của cá nhân vốn đã được hun đúc bởi những biến động và khủng hoảng trong nhiều thế kỷ. Việc ra đời của quốc gia Mỹ có nguồn gốc và là kết quả của tinh thần lạc quan đối với những thành công của những cá nhân đó.

    Ngay từ thuở bình minh của sự ra đời của nước Mỹ, những nhóm nhỏ di dân đã ấp ủ một niềm tin mạnh mẽ vào một sứ mạng là xây dựng một vương quốc của Chúa trời trên “miền đất hứa” này. Sự thông giao của Chúa, với tín hữu Thanh giáo coi sự thành công vật chất là sự làm chứng về ơn huệ của Chúa. Lòng khao khát của cải, lòng hăng say lao động và vui sống đạm bạc, tất cả như biện minh cho việc kinh doanh buôn bán chính là một phương thức dành thắng lợi. Max Weber (1864 - 1928) nhà xã hội học lớn người Đức đã viết rằng đó là sự thể hiện của đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.

    Những tín hữu Thanh giáo là những người tin vào sự liên hệ giữa cá nhân và Chúa cho rằng sự thành đạt của cá nhân bao giờ cũng liên quan với sự thành đạt của các thành viên khác. Chủ nghĩa cá nhân ấy lại được tăng cường bởi hệ tư tưởng dân chủ và bình đẳng của thời kỳ cách mạng.

    Trong chuyến viễn du tới mảnh đất phi thực dân này, Alexis Tocqueville (1805 - 1859) đã ghi lại rằng: “Chế độ quý tộc đã biến các công dân thành cái xích dài bắt đầu từ người nông dân đến nhà vua. Chế độ dân chủ phá tung chiếc xích đó và vứt mỗi mắt xích ra một nơi. Còn chủ nghĩa bình quân chỉ sản sinh ra một số cá nhân đủ giàu mạnh để khống chế chính đồng bào mình, nhưng nhiều cá nhân ấy lại có khả năng tự lực cánh sinh. Những người đó không nhờ vả ai, không chờ ai ban cho thứ gì, họ tách mình ra, sẵn sàng coi vận mạng của mình nằm chính trong tay mình”.

    Những chủ trại, những nhà kinh doanh của thế kỷ XIX là những cá nhân tự lực đó, những người một mình với tính lạc quan xông pha đi mở bờ cõi và lập ra các ngành công nghiệp mới. Với họ, dường như mọi hoàn cảnh đều là những thách thức đối với công việc khai phá của họ. Với các nhà Thanh giáo, những đòi hỏi tinh thần của họ là yếu tố dẫn tới sự thành đạt, lòng hăng say lao động, lòng từ tâm, còn sự thất bại là một tội lỗi tồi tệ nhất, chứ chẳng phải do một bất công xã hội nào gây nên.

    Làm thế nào để niềm tin đặt vào sự thành đạt của cá nhân có thể đương đầu với chế độ tập trung độc quyền xuất hiện ở cuối thế kỷ XIX. Khi D. Rockefeller tuyên bố: Giờ của các liên minh đã điểm, chủ nghĩa cá nhân đã vĩnh viễn chết”. Phải chăng ông ta muốn quét sạch một trong những giá trị cơ bản đã từng nâng đỡ tinh thần của những người đi tiên phong mở đường và dập tắt những hy vọng của những người nhập cư?

    Người Mỹ đã thấy được ngay rằng, vấn đề gắn bó xã hội Mỹ chặt chẽ là ở sự dung hợp ý niệm thành đạt cá nhân với thực tế của các tổ chức độc quyền và cạnh tranh quá mức. Hệ tư tưởng và “chủ nghĩa Dawin xã hội” do Hebert Spencer (1820 - 1903) đề xướng cần phải nghiêm túc điều chỉnh sao cho những người ít khả năng nhất trong cuộc cạnh tranh cùng được bảo vệ một cách tự nhiên. Thế là sự thành đạt cá nhân trong khuôn khổ của một cuộc đấu tranh sống còn để tồn tại và một trật tự tự nhiên của sự vật đã gặp gỡ nhau ở bình diện thần thánh của tín đồ Thanh giáo.

    Ở Mỹ đã có một huyền thoại hấp dẫn lâu đời về “con người thân lập thân” (self made man). Từ trong những sách viết về lịch sử đến những tiểu thuyết của Hocatio Alger, nhân vật ấy làm giàu bằng hai bàn tay trắng của mình. Thế là cả một kho tàng ý thức hệ và văn chương đã được huy động để tôn vinh chủ nghĩa lạc quan của người anh hùng thảo khấu ấy. Sau này Pháp J.-P. Sartre khi nói về con người hiện sinh, tự do, tự làm nên mình cũng không quên nhắc tới self made man của Mỹ.

    CHỦ NGHĨA CHUYÊN BIỆT

    Về mặt tâm lý, chủ nghĩa cá nhân ở Thế giới mới và Thế giới cũ không thể không có những đặc điểm khác nhau. Cũng như về xã hội, vì nhiều lý do chính trị, bên này đại dương và bên kia đại dương cũng không giống nhau. Vì vậy nhiều nhà chính trị, nhà xã hội học Mỹ cho rằng nước Mỹ có một chủ nghĩa chuyên biệt (exclusivism).

    Chủ nghĩa chuyên biệt có một hàm nghĩa là “không tưởng” (cũng như các “cộng đồng không tưởng” đã nói): đó là một xã hội thoát khỏi những tiền lệ Âu Châu và đó cũng là một tấm gương, một ngọn hải đăng, một bó đuốc mà những người có tâm huyết cách mạng ở nước khác cũng nên đi theo. Tượng nữ thần tự do mà người Pháp tặng nước Mỹ phải chăng đã muốn gửi cho cách mạng Mỹ ngọn đuốc khai sáng được ghi lại trong câu thơ của Emma Larus:

    Đến với ta, những kiếp người cùng khổ

    Những mảnh đời tan tác, quắp co

    Thân đã tàn hồn vẫn tự do.

    Người ta nói vận hội là một trong những truyền thống của nước Mỹ. Muốn bắt được vận hội thì cá nhân phải vượt qua muôn trùng trở ngại không chỉ về tâm lý và cả về địa lý. Người Mỹ mơ tưởng mở mang biên giới, thích thú lăn lộn, xông pha dù chưa mang lại của cải gì, sẵn sàng vứt lại những hành trang của những tín điều vô dụng và sẵn sàng chấp nhận kiếp người sinh ra là phải “hiện đại” và coi nguồn gốc chính đáng đầu tiên ở nơi con người là tính tất yếu của tiến bộ và thành đạt.

    Ở Mỹ có một câu tục ngữ rằng: “Anh ta tự coi mình làm nên tất cả”, ý muốn nói mọi việc bắt đầu từ “anh ta”.

    Tất cả các lý tưởng trên dựa trên một quan điểm tích cực của con người mang trong mình một chủ nghĩa chuyên nhất dựa chủ yếu vào nhu cầu tự thực hiện.

    Trong gần toàn bộ thế kỷ XIX, những làn sóng di dân ùa vào nước Mỹ.

    Thế nào là một người Mỹ? Crevecoeur đặt ra câu hỏi đó từ 1780. Và năm 1850, nhà thơ Walt Whiteman đã trả lời câu hỏi đó được John P. Kennedy nhắc lại sau hơn một thế kỷ rằng: “Chúng ta là một dân tộc gồm nhiều dân tộc”.

    Sự bình đẳng trước các thiết chế mà nước Mỹ trẻ trung đã dành cho mình, ở đây hệ tư tưởng về melting pot (lò đúc) đã đúc kết lại thành một khối. Mọi người “trai tứ chiếng, gái giang hồ” nhanh chóng quên nền văn hóa gốc của mình. Họ chấp nhận bắt đầu từ nấc thang cuối cùng của xã hội. Muốn thành đạt, họ phải chấp nhận tự mình tẩy sạch những vết tích của quá khứ. Càng trở thành người Mỹ thì càng có điều kiện bước lên nấc thang cao hơn.

    Chủ nghĩa chuyên biệt của Mỹ có một thuận lợi là ở nước Mỹ không có chủ nghĩa phong kiến. Những người cư dân Anh đầu tiên đã rất nhạy bén loại bỏ cơ cấu đó ngay khi nền cộng hòa được thành lập. Còn các nhà doanh nghiệp không bao giờ được tự do nâng lợi nhuận một cách vô tội vạ do các luật chống độc quyền phát huy sức mạnh. Các đảng chính trị hay các công đoàn dù thiên tả cũng không thể tự do hoành hành. Như vậy chủ nghĩa chuyên biệt đưa lại cho công dân khả năng tránh được sự phân cực giai cấp xã hội. Việc loại bỏ các hình thức cực đoan đã hạn chế những quan hệ lệ thuộc quá đáng của cá nhân. Như vậy là tính tự thỏa mãn là một trong những khái niệm then chốt của chủ nghĩa chuyên nhất.

    Tính đa dạng của bàn dân thiên hạ kéo về nước Mỹ không bao giờ chia cắt với tinh thần quốc gia mạnh mẽ. Tùy theo từng thời kỳ và hoàn cảnh lịch sử, tinh thần quốc gia của người Mỹ hoặc làm cho bản sắc cũ của những nhóm phải biến mất, hoặc ngược lại, lại khơi dậy những khát vọng đó. Sự vận động có tính biện chứng, có tính đa nguyên đó đã làm cho “lò đúc” kiểu Mỹ - melting pot nổi tiếng được vận hành một cách uyển chuyển có hiệu quả.

    Ai đó quan sát nền văn hóa và xã hội Mỹ có thể đồng tình với sự nhấn mạnh bản sắc quốc gia là lòng yêu nước như đã xảy ra trong những năm 50, nhưng cũng có thể tán đồng bản sắc tộc người như những năm 60. Hai bản sắc đó không tách rời nhau. Có lẽ đây là một trong những kết quả quan trọng nhất của lịch sử cư dân Mỹ làm cho nước nhiều tộc người nhất thế giới này luôn ổn định.

    Những người nhập cư từ bốn phương trời đã đem lại cho nước Mỹ sự đông đảo của nhân khẩu, sự lớn mạnh của kinh tế.

    Nhìn lại toàn bộ lịch sử nước Mỹ từ khi những người nhập cư đặt chân lên Thế giới mới này cho đến những năm nước Mỹ trở thành một cường quốc trên một lộ trình trên dưới hai trăm năm, người quan sát đã thấy lịch sử cư dân của Mỹ không phải là bản anh hùng ca đầy chiến công vang dội, cùng chẳng phải là một chuyện trong những khái niệm then chốt của chủ nghĩa chuyên nhất.

    Nhìn lại toàn bộ lịch sử nước Mỹ từ khi những người nhập cư đặt chân lên Thế giới mới này cho đến những năm nước Mỹ trở thành một cường quốc trên một lộ trình trên dưới hai trăm năm, người quan sát đã thấy lịch sử cư dân của Mỹ không phải là bản anh hùng ca đầy chiến công vang dội, cũng chẳng phải là một chuyện cổ tích dân gian êm ả, mà bắt gặp một cách ngạc nhiên đâu đó trong lối sống của những người sinh sống trên một đất nước mênh mông này đều lấp lánh trong tâm tưởng của mình một chủ nghĩa mang tính thực tế để những nhà triết học nổi danh nhất của Mỹ sau này: Charles Sanders Peirce (1839 - 1914), Wiliam James (1842-1910), John Dewey (1859-1952) tạo lập một hệ thống triết học đích thực của Mỹ: chủ nghĩa thực dụng.