03. chương 3 (done)

19/7/15
03. chương 3 (done)
  • Chương 3 "Đọc" tương lai qua lá trà: tư tưởng cổ điển về hệ thống tư bản chủ nghĩa

    Từ thời kỳ được mô tả trong Kinh thánh đến nay, loài người luôn nỗ lực để thấu hiểu thế giới xung quanh và tìm ra nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng. Nhìn chung, con người tin rằng mọi thứ chúng ta quan sát thấy đều phải có căn nguyên.

    Hầu như trong suốt lịch sử loài người, ai cũng tin rằng bàn tay của Chúa hay các vị thần là nguyên nhân của mọi sự kiện xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, bắt đầu từ thế kỷ 17, một vài triết gia cho rằng có thể giải thích nguyên nhân các sự kiện mà con người nhìn thấy bằng tư duy thay vì niềm tin tín ngưỡng. Đây là điểm khởi đầu của phong trào tri thức mà các nhà sử học gọi là Thời kỳ Khai sáng hay Thời đại Lý tính, khi con người nhận thức trật tự và chuẩn mực thông qua phân tích những hiện tượng họ quan sát được. Sức mạnh của lý trí không phải ở sự chiếm hữu mà là ở quá trình đạt đến chân lý.

    Xét ở mức độ nào đó thì mọi nhận thức của con người về thế giới đều là do trí tuệ sáng tạo ra. Quá trình suy luận dẫn tới trí óc phải nghĩ ra một lý thuyết để giải thích những gì con người chứng kiến ở xung quanh.



    Ví dụ, Isaac Newton nhìn thấy một quả táo rơi từ cành cây xuống đất, và ông đã giải thích lý do khiến quả táo luôn luôn rơi xuống đất bằng thuyết vạn vật hấp dẫn. Charles Darwin xây dựng thuyết tiến hóa để giải thích sự tồn tại của những loài sinh vật khác nhau trên trái đất. Còn Albert Einstein đưa ra thuyết tương đối rộng để giải thích dải thời gian-không gian. Mặc dù trong xã hội hiện nay, nhiều người có tín ngưỡng vẫn cho rằng một vài sự kiện xảy ra là do ý Chúa, nhưng phần lớn mọi người đều tin rằng sự phát triển của các lý thuyết khoa học dẫn đến hiểu biết.

    Lý thuyết là cách thức con người mô tả thế giới thực trên cơ sở một mô hình xuất phát từ một vài tiên đề cơ bản. Tiên đề là một giả định được chấp nhận là chân lý chung, không cần chứng minh. Từ cơ sở tiên đề đó, các lý thuyết gia sử dụng các quy tắc logic để đi đến những kết luận, giải thích những gì chúng ta sẽ chứng kiến trong thực tế. Tất cả mọi lý thuyết nhìn chung đều được chấp nhận theo kiểu thử nghiệm. Lý thuyết chưa bao giờ được xây dựng một cách chắc chắn, thuyết phục.

    Lý thuyết kinh tế là một khung phân tích, trong đó các nhà kinh tế học xây dựng một mô hình bằng cách sử dụng một số tiên đề ban đầu mà họ chấp nhận là chân lý hiển nhiên. Sau đó họ sử dụng các công cụ suy luận logic để đi đến một hoặc nhiều kết luận. Các kết luận này sẽ được công bố cho mọi người với tư cách là lời giải thích cho các sự kiện kinh tế diễn ra trong thế giới thực. Tiếp theo, có thể sử dụng lý thuyết đó để đề xuất phương thức giải quyết các vấn đề kinh tế mà thế giới đang gặp phải.

    Có hai lý thuyết kinh tế khác nhau về cơ bản nhằm giải thích hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đó là: lý thuyết kinh tế cổ điển và lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes về nền kinh tế kinh doanh. Lý thuyết thứ nhất là kinh tế học cổ điển, đôi khi còn được gọi là lý thuyết thị trường hiệu quả, hay kinh tế học tân cổ điển, hoặc kinh tế học chính thống. Câu thần chú của mô hình phân tích này là: thị trường tự do có thể tự giải quyết mọi vấn đề kinh tế phát sinh, còn sự can thiệp của chính phủ vào thị trường tự do luôn gây ra các vấn đề kinh tế. Nói cách khác, chính sách can thiệp vào nền kinh tế của chính phủ chính là vấn đề, còn thị trường tự do mới là giải pháp.

    Lập luận logic của kinh tế học cổ điển dẫn tới triết lý tự do kinh doanh (laissez-faire), tức là chính phủ không bao giờ nên can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế thị trường tự do.

    Thứ hai là lý thuyết thanh khoản của Keynes về nền kinh tế kinh doanh, nó cho rằng chính phủ có khả năng giải quyết các nhược điểm cố hữu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa theo định hướng thị trường có sử dụng tiền, với sự hợp tác của khu vực sản xuất tư nhân và các hộ gia đình.

    Trong chương này, chúng ta sẽ giải thích tiên đề cơ sở của kinh tế học cổ điển và đánh giá sự hữu ích của quan điểm cổ điển đối với việc chính sách nào (nếu có) có thể giúp nền kinh tế phục hồi thật nhanh từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính hiện tại và đảm bảo một nền kinh tế thịnh vượng, văn minh cho chúng ta và các thế hệ con cháu tương lai.

    Trong chương 4, chúng ta sẽ đánh giá tương tự về lý thuyết của Keynes và các tư tưởng liên quan đến hoạt động của hệ thống tư bản chủ nghĩa. So sánh hai lý thuyết này sẽ giúp người đọc đánh giá được các chính sách kinh tế khác nhau của giới lãnh đạo nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế quan trọng của thời đại.

    Cách tốt nhất để đánh giá mọi lý thuyết kinh tế là nhìn nhận các lý thuyết gia như những nhà ảo thuật. Các lý thuyết gia kinh tế học rất ít khi mắc sai lầm về mặt logic khi đi từ tiên đề đến kết luận, giống như các ảo thuật gia chuyên nghiệp rất ít khi đánh rơi bộ bài khi đang biểu diễn. Các lý thuyết gia kinh tế học chính thống ngày nay rất thành công khi xây dựng ra các mô hình toán phức tạp để đi đến kết luận rằng sự can thiệp của chính phủ chỉ ngăn cản thị trường tự do giải quyết mọi vấn đề kinh tế.

    Khi không có sai sót gì trong logic thì các tiên đề sẽ quyết định sự chính xác của kết luận. Do đó, để đánh giá mức độ phù hợp của mọi chính sách mà một mô hình kinh tế đưa ra thì cần kiểm tra kỹ lưỡng các tiên đề mà lý thuyết gia kinh tế học đã sử dụng làm cơ sở mô hình. Không thể phê phán chính sách của bất kỳ mô hình kinh tế nào nếu các tiên đề cơ sở của mô hình đó đã được thừa nhận ngấm ngầm hoặc công khai. Dĩ nhiên, trong thực tế, phần lớn những người không chuyên về kinh tế và thậm chí nhiều nhà kinh tế học hoàn toàn không nhận thấy tính bất hợp lý trong các tiên đề - cơ sở cho các mô hình toán kinh tế cổ điển rất phức tạp hiện đang được sử dụng để quản lý rủi ro cũng như dự báo nền kinh tế trong tương lai.

    Trước khi thừa nhận kết luận của một mô hình kinh tế nào đó là mô tả đúng thực tế, và do đó ứng dụng được trong hệ thống kinh doanh theo định hướng thị trường có sử dụng tiền tệ mà chúng ta đang áp dụng, thì một người có tính cẩn thận như chủ ngân hàng đầu tư, giám đốc doanh nghiệp hoặc quan chức chính phủ luôn phải kiểm tra và sẵn sàng phê phán các tiên đề cơ bản của mô hình. Liệu những tiên đề cơ bản, cơ sở của khung phân tích kinh tế có phù hợp với thế giới hiện tại mà chúng ta đang sống hay không? Nếu các tiên đề không thể coi là mô tả đúng thực tế thì người nghe sẽ phải bác bỏ kết luận chính sách của lý thuyết đó.

    Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc kiểm định “chân lý phổ quát” cơ bản - cơ sở cho các tuyên bố chính sách của các lý thuyết gia cổ điển chính thống về khả năng giải quyết mọi vấn đề kinh tế của thị trường tự do.

    Cách thức giải quyết vấn đề tương lai không chắc chắn của lý thuyết cổ điển

    Thời gian chính là yếu tố cản trở các mọi sự kiện diễn ra đồng thời. Các quyết định kinh tế của ngày hôm nay sẽ dẫn đến những kết quả mà chỉ có thể đánh giá được sau nhiều ngày, nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm sau. Sự khác nhau cơ bản, nhưng không phải duy nhất giữa lý thuyết cổ điển và lý thuyết của Keynes là cách thức đánh giá khả năng biết trước kết quả sẽ nhận được trong tương lai của các quyết định ngày hôm nay. Về bản chất, lý thuyết cổ điển giả định rằng bằng một phương pháp nào đó, người ra quyết định ngày hôm nay có thể và thực sự biết được những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó vấn đề kinh tế duy nhất mà thị trường phải giải quyết chỉ là cách thức phân bố nguồn lực sao cho lợi ích thu được ngày hôm nay và trong tương lai là lớn nhất.

    Trong khi đó, lý thuyết thanh khoản của Keynes lại giả định rằng người ra quyết định “biết” rằng họ không biết, và cũng không thể biết được kết quả trong tương lai của một quyết định nào đó ở thời hiện tại. Do đó, lý thuyết của Keynes cho biết hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa cần thiết lập ra các thể chế như thế nào để cho phép người ra quyết định giải quyết được vấn đề tương lai không chắc chắn khi quyết định phân bổ nguồn lực mà vẫn cảm thấy yên tâm.

    Tín đồ của kinh tế học cổ điển tin rằng thị trường tự do luôn hiệu quả. Trong mô hình thị trường hiệu quả cổ điển, người ta giả định rằng có rất nhiều người ra quyết định hợp lý - trước khi họ quyết định mua hoặc bán, họ luôn thu thập và phân tích các thông tin đáng tin cậy về cả xác suất xảy ra những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ lẫn xác suất xảy ra các sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai. Trong thị trường hiệu quả, người ta giả định rằng người ra quyết định luôn có loại thông tin quan trọng về quá khứ và tương lai này, và trên cơ sở đó, họ đưa ra được quyết định tối ưu.

    Cựu bộ trưởng tài chính và hiện là cố vấn kinh tế của Tổng thống Obama là Lawrence Summers đã từng nói “chức năng xã hội cơ bản [của thị trường hiệu quả] là dàn trải rủi ro, định hướng đầu tư cho nguồn vốn khan hiếm, xử lý và công bố thông tin mà nhiều người bán khác nhau đang sở hữu... và giá trên thị trường sẽ luôn phản ánh đúng giá trị... Logic của thị trường hiệu quả là rất thuyết phục”[15].



    Quyết định của ngày hôm nay sẽ đem lại lợi ích ở một thời điểm nào đó trong tương lai. Vì hầu hết mọi hàng hóa, dịch vụ đều cần thời gian mới làm ra được, nên ngày hôm nay các doanh nghiệp phải quyết định thuê nhân công và sản xuất để có được những sản phẩm đầu ra mà chỉ có thể bán đi, giao hàng và có doanh thu ở một thời điểm nào đó trong tương lai. Hơn nữa, doanh nghiệp nào có kế hoạch đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua thiết bị mới còn phải đánh giá được lợi nhuận tiềm năng mà khoản đầu tư này mang lại từ số sản phẩm mà nhà xưởng, thiết bị đó sản xuất ra trong suốt vòng đời của chúng. Vòng đời này lại thường kéo dài hàng năm, thậm chí hàng chục năm trong tương lai.

    Ngay cả hành vi mua hàng tiêu dùng và dịch vụ giao ngay trong ngày hôm nay hay ở một (hay nhiều) thời điểm trong tương lai cũng đòi hỏi người mua - là những người có tính tư lợi - phải đánh giá được độ thỏa dụng của mình khi nhận được hàng hóa, dịch vụ đó. Nếu thị trường là hiệu quả và thực sự thực hiện được chức năng xã hội như Lawrence Summers nói, thì cả người mua và người bán đều phải biết giá trị cuối cùng của tất cả những lợi ích trong tương lai.

    Để các thị trường tài chính như thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu đạt được hiệu quả, mọi người phải “biết” được tài sản, trang thiết bị các doanh nghiệp đang sở hữu sẽ đem lại bao nhiêu doanh thu và lợi nhuận trong tương lai. Nếu bạn tin vào hiệu quả của thị trường tài chính thì chính doanh thu và lợi nhuận này là những “yếu tố cơ bản" mà Summers nhắc đến - chúng quyết định giá hiện tại của các loại chứng khoán đang được mua bán trên thị trường tài chính.



    Các nhà kinh tế học của các thế kỷ trước như Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mill và Alfred Marshall... chỉ đơn thuần giả định rằng những người tham gia thị trường hiện tại có được đầy đủ thông tin về tương lai, do đó trong thị trường tự do, tất cả những người tham gia đều luôn có quyết định đúng đắn, phản ánh lợi ích cao nhất của họ. Rõ ràng giả định ai cũng biết trước tương lai này là phi lý. Tuy nhiên, đây chính là tư tưởng nền tảng cho niềm tin của Alan Greenspan (như đã trình bày trong chương 1) rằng các tổ chức cho vay khi hành động vì lợi ích của mình sẽ chỉ thực hiện những giao dịch giúp bảo vệ tài sản của các cổ đông. Nó cũng nằm trong câu hỏi hoa mỹ mang tư tưởng chống thuế của Ronald Reagan: “Tại sao một vài quan chức nào đó ở Washington lại biết rõ hơn bạn rằng nên sử dụng thu nhập của bạn như thế nào?”. Nói cho cùng, nếu bạn “biết” được tương lai, bạn sẽ tự bảo vệ được bản thân và gia đình bạn trước mọi sự kiện rủi ro sau này, và với quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán, loại chứng khoán bạn lựa chọn sẽ đảm bảo bạn có đủ thu nhập hưu trí để sống thoải mái suốt phần đời còn lại. Rõ ràng là nếu bạn biết được tương lai và hành động vì lợi ích bản thân thì cho dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, bạn vẫn không cần các quan chức ở Washington bắt bạn nộp thuế để cung cấp cho bạn và những người hưu trí khác một dịch vụ an sinh xã hội cơ bản là lương hưu. Trong thế giới mà lý thuyết cổ điển dựng nên, tất cả mọi người đều biết trước tương lai, nên mỗi người - với tính tư lợi - đều có thể lập ra kế hoạch thu nhập sau khi nghỉ hưu cho mình tốt hơn nhiều so với một vị giám đốc nào đó của quỹ An sinh xã hội thuộc chính phủ.



    Các biến thể khác nhau của giả định mọi người biết trước tương lai trong lý thuyết cổ điển đã được đưa vào trong tất cả các mô hình thị trường hiệu quả hiện nay. Theo giả định, lý thuyết cổ điển đã giải quyết được vấn đề dự báo giá trị của thu nhập trong tương lai, và nó khẳng định rằng vấn đề quan trọng duy nhất cần quan tâm là phải đảm bảo các quyết định phân phối nguồn lực ngày hôm nay sẽ đem lại lợi ích cao nhất trong tương lai khi lợi ích đó phát sinh. Nói cách khác, đối với các lý thuyết gia kinh tế học cổ điển, câu hỏi duy nhất là cách thức phân bổ nguồn lực. Nếu chúng ta chấp nhận giả định rằng những người ra quyết định vì lợi ích cá nhân “biết” rõ tương lai thì trong thị trường tự do cạnh tranh, quyết định của họ sẽ dẫn tới nguồn lực được phân bổ theo cách tốt nhất.

    Các nhà kinh tế học đã mất nhiều năm để xây dựng các mô hình lý thuyết về hoạt động của thị trường hiệu quả. Mỗi mô hình đều khác nhau chút ít về cách thức mô tả hiểu biết tương lai của những người ra quyết định trong hiện tại. Ví dụ, mô hình cân bằng tổng thể Arrow-Debreu rất phức tạp về mặt toán học (Kenneth Arrow và Gerard Debreu đều đã được trao giải Nobel) được phát triển từ một mô hình thị trường hiệu quả có từ thế kỷ 19 tên là mô hình cân bằng tổng thể Walras. Các mô hình phân tích cân bằng tổng thể này là cơ sở của các mô hình toán kinh tế phức tạp được dựng trên máy tính của những tổ chức có uy tín nhất hiện nay như Hội đồng Cố vấn kinh tế hay Cục Dự trữ liên bang.

    Mô hình phân tích cân bằng tổng thể này cho rằng ngày nay tồn tại thị trường cho phép người tham gia mua và bán các sản phẩm và dịch vụ sẽ được giao ở mọi thời điểm trong tương lai. Do đó, vào thời điểm ban đầu, người ta giả định mọi thành viên tham gia thị trường có thể quyết định tiến hành giao dịch mua và bán mọi sản phẩm, dịch vụ và tài sản tài chính - không chỉ giao ngay hôm nay mà còn ở mọi thời điểm trong tương lai, cho đến tận vô cùng. Khi trừu tượng hóa tuyệt đối như vậy, hàm ý của mô hình toán phức tạp này là tất cả những người ra quyết định ở thời điểm hiện tại không chỉ biết loại hàng hóa và dịch vụ nào họ sẽ cần và/hoặc có thể cung cấp trên thị trường vào hôm nay, ngày mai và tất cả các ngày sau đó cho đến tận cuối đời. Họ còn “biết” cháu chắt chút chít của họ sẽ muốn mua gì, bán gì trong hàng chục, hàng trăm năm nữa, do đó ngày hôm nay họ cũng sẽ ký vào các hợp đồng mua bán cho mọi thời điểm trong tương lai vì lợi ích của con cháu họ.

    Chỉ có mức độ toán học và trừu tượng cao của mô hình lý thuyết cổ điển này mới có thể che giấu được cơ sở tiên đề không thể tồn tại của lý thuyết đó: người ra quyết định ngày hôm nay biết hết tương lai mãi mãi về sau.

    Ngày nay rất nhiều nhà kinh tế học cổ điển chính thống nhận thấy giả định của mô hình Arrow-Debreu - cho rằng tồn tại một hệ thống thị trường hoàn chỉnh cho tất cả các hàng hóa và dịch vụ sẽ giao cho khách hàng ở mọi thời điểm trong tương lai cho đến tận vô cùng - là phi lý. Tuy nhiên, họ vẫn tin vào tính hiệu quả của thị trường tự do dù biết rằng trong thế giới thực, không thể có một hệ thống thị trường hoàn chỉnh cho mọi thời điểm trong tương lai. Để cứu vãn kết luận về thị trường hiệu quả của mình, các nhà kinh tế học lại giả định rằng những người tham gia thị trường hiện tại có “kỳ vọng hợp lý” về mọi thu nhập trong tương lai mà quyết định ngày hôm nay đem lại. Lý thuyết kỳ vọng hợp lý (do nhà kinh tế học đoạt giải Nobel là Robert Lucas xây dựng) khẳng định rằng bằng cách nào đó, những người ra quyết định ngày hôm nay đều biết xác suất xảy ra của mỗi mức thu nhập trong tương lai - và các thông tin này là đáng tin cậy về mặt thống kê.

    Theo đó, các nhà thống kê đòi hỏi nhà phân tích phải lấy mẫu ngẫu nhiên từ tổng thể để tính được xác suất đáng tin cậy, từ đó mới suy ra đặc điểm của tổng thể. Vì vậy, để có thông tin đáng tin cậy về mọi khoản thu nhập trên thị trường trong tương lai, người ta phải lấy được mẫu của tương lai. Trên cơ sở đó, những người ra quyết định hợp lý hôm nay có thể phân tích mẫu này để tìm được phân phối xác suất của mọi mức thu nhập tương lai - và thông tin này cũng đáng tin cậy về mặt thống kê. Nếu từ mẫu tương lai này có thể thu được thông tin đáng tin cậy về mặt thống kê thì rủi ro thu nhập tương lai mà người ra quyết định ngày hôm nay gặp phải sẽ giảm xuống chỉ còn là rủi ro xác suất khách quan.

    Do không thể lấy mẫu từ tương lai nên các lý thuyết gia kinh tế học cổ điển lại giả định rằng xác suất tính được từ dữ liệu về thị trường trong quá khứ và hiện tại cũng bằng xác suất của mẫu lấy từ tương lai. Nói cách khác, kết quả rủi ro xác suất tính được từ số liệu thống kê trong quá khứ được giả định sẽ giống với kết quả tính được nếu lấy mẫu từ tương lai.

    Giả định rằng mẫu số liệu quá khứ sẽ tương đương với mẫu số liệu tương lai được gọi là tiên đề ergodic[16].

    Những người đặt ra tiên đề ergodic này cho rằng kinh tế học chỉ có thể là một môn “khoa học chặt chẽ” như vật lý hay thiên văn học nếu trong mô hình kinh tế có “con thỏ” tiên đề ergodic[17]. Ví dụ, hồi năm 1968, người được coi là sáng lập ra “trường phái Keynes” thời hậu Thế chiến thứ hai và được trao giải Nobel kinh tế năm 1970 là Paul Samuelson đã viết: nếu các nhà kinh tế học muốn đưa chuyên ngành của họ từ lĩnh vực lịch sử sang “lĩnh vực khoa học” thì phải áp dụng cái mà Samuelson gọi là "giả định ergodic".

    Giả định ergodic này là cơ sở cơ bản của lý thuyết thị trường hiệu quả, vì nếu không biết trước tương lai thì những người tham gia thị trường hiện tại không thể có những quyết định hiệu quả sẽ được tương lai sau này chứng minh. Như chúng ta sẽ giải thích trong chương 4, Keynes đã bác bỏ tiên đề ergodic khi xây dựng mô hình phân tích cách thức hoạt động của hệ thống tư bản chủ nghĩa trong thế giới thực khi cần đưa ra những quyết định quan trọng.

    Ergodic là một khái niệm thống kê khó hiểu, nhưng chúng ta có thể đơn giản hóa nó như sau: khi một nhà phân tích sử dụng tiên đề ergodic thì người đó đang nói rằng mẫu thống kê lấy từ số liệu thị trường hiện tại và quá khứ cũng tương đương như mẫu lấy từ số liệu thị trường tương lai. Nói cách khác, họ đang giả định rằng tương lai đơn thuần là cái bóng của thống kê trong quá khứ. Chỉ khi mọi người chấp nhận tiên đề này như một chân lý chung thì kết quả tính toán phân phối xác suất (rủi ro) dựa trên số liệu thị trường trong quá khứ mới tương đương với kết quả tính toán, phân tích mẫu lấy từ tương lai.

    Người đọc không nên ngạc nhiên khi biết rằng tất cả các mô hình vô cùng phức tạp trên máy tính mà các ngân hàng đầu tư dùng làm công cụ quản lý rủi ro để đánh giá rủi ro trong tương lai của mọi tài sản tài chính trong danh mục đầu tư của họ đều dựa trên phân tích thống kê các số liệu thị trường trong quá khứ. Các xác suất rủi ro tính trên số liệu quá khứ bằng các mô hình toán học phức tạp này cho kết quả có sai số rất lớn trong việc đánh giá các rủi ro trong tương lai. Chính vì thế mà các ngân hàng đầu tư Mỹ đã rơi vào suy thoái trong năm 2008.

    Alan Greenspan thừa nhận rằng sự sụp đổ của hệ thống các ngân hàng đầu tư đã làm ông bị sốc, nhưng ông “vẫn không hiểu tại sao tình trạng đó lại xảy ra”. Với thực tế là đến mùa thu năm 2008, khi bộ trưởng tài chính Henry Paulson và Quốc hội nhận thấy chính phủ cần cứu trợ ngay tất cả các ngân hàng đầu tư ở Wall Street, và các giám đốc ngân hàng Wall Street cũng phải thừa nhận họ cần giúp đỡ, thì rõ ràng rằng mọi mô hình quản lý rủi ro trên máy tính gần đây đã không thể dự đoán được thảm họa đang diễn ra trên bảng cân đối tài sản của các ngân hàng đầu tư trong năm đó. Hy vọng Greenspan giờ đã hiểu tại sao “công trình" trí tuệ dựa trên tiên đề ergodic của ông lại thất bại thảm hại như vậy vào năm 2008.

    Giả định rằng nền kinh tế bị chi phối bởi quá trình ergodic có nghĩa là tương lai của nền kinh tế đã được định trước và con người hiện tại không thể thay đổi được. Để thấy hiệu ứng của tiên đề ergodic trong các lĩnh vực khác, chúng ta hãy xem xét ngành thiên văn. Các nhà thiên văn học khẳng định rằng quỹ đạo của các hành tinh quanh mặt trời và quỹ đạo của mặt trăng quanh trái đất trong tương lai đã được quyết định ngay từ thời điểm xảy ra vụ nổ lớn Big Bang làm hình thành vũ trụ. Con người không thể làm gì để thay đổi được quỹ đạo đã xác định trước của những vật thể xa xôi đó. Thuyết Big Bang hàm ý rằng tính "khoa học chặt chẽ” của thiên văn học đã sử dụng tiên đề ergodic để dự báo quỹ đạo của các thiên thể. Do đó, với số liệu quá khứ về tốc độ và hướng đi của các thiên thể, các nhà khoa học thiên văn có thể dự báo chính xác thời điểm (thường đúng đến tận số giây) có thể quan sát được nhật thực từ trái đất.

    Dù có thể sử dụng tính khoa học chặt chẽ dựa trên tiên đề ergodic của ngành thiên văn học để dự báo quỹ đạo đã định trước của các thiên thể trong vũ trụ, nhưng rõ ràng là Quốc hội Mỹ vẫn không thể thông qua đạo luật không cho phép xảy ra nhật thực, ngay cả nếu mục tiêu của đạo luật đó là để trái đất nhận được nhiều ánh sáng mặt trời hơn nhằm tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp. Tương tự, như Samuelson nói, dù kinh tế học là một ngành “khoa học chặt chẽ” dựa trên tiên đề ergodic nhưng Quốc hội cũng không thể thông qua luật ngăn ngừa suy thoái kinh tế, giống như không thể ngăn cản được nhật thực. Kết quả logic của việc sử dụng mô hình dựa trên giả định ergodic là Quốc hội không thể làm gì để ngăn cản những sự kiện không hay đã được định trước trong lộ trình tương lai của nền kinh tế. Điều đó dẫn tới người ta tin rằng chính sách chính phủ không can thiệp vào thị trường tự do là chính sách duy nhất đúng.

    Các lý thuyết gia trường phái thị trường hiệu quả - những người luôn tự tin là mình đang đi theo một ngành khoa học chặt chẽ - biện luận rằng Quốc hội không thể thông qua đạo luật thay đổi vĩnh viễn tương lai đã được định trước của nền kinh tế. Mô hình phân tích thị trường hiệu quả có logic nhất quán cho rằng việc áp dụng những chính sách chủ động can thiệp vào thị trường tự do của chính phủ sẽ tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với hệ thống. Khi dùng từ “cú sốc bên ngoài”, ý các nhà kinh tế học cổ điển muốn nói chính sách can thiệp của chính phủ cũng giống như việc ném một vật gì đó vào ngay giữa quỹ đạo vận động đã xác định trước của nền kinh tế, nhất thời đẩy nó chệch theo hướng có thất nghiệp cao hơn, hoang phí nguồn lực hơn, v.v.

    Khái niệm cú sốc bên ngoài tương tự khi chúng ta ném một hòn sỏi vào con lắc đang dao động. Hòn sỏi sẽ tạo ra một cú sốc bên ngoài đối với con lắc làm quỹ đạo dao động của nó thay đổi thất thường trong chốc lát. Nếu chúng ta không tiếp tục ném thêm sỏi vào con lắc thì tác động của một cú sốc bên ngoài sẽ mất đi và con lắc sẽ nhanh chóng quay lại quỹ đạo dao động tự nhiên vì định luật hấp dẫn có tính ergodic đã tái kiểm soát sự di chuyển của con lắc.

    Nếu thị trường hiệu quả và không bị các quy định và can thiệp phiền hà, cứng nhắc của chính phủ chi phối thì phản ứng của những người tham gia thị trường trước cú sốc bên ngoài do các chính sách của chính phủ gây ra sẽ giúp nền kinh tế quay trở lại quỹ đạo hiệu quả của nó, cũng giống như định luật hấp dẫn đã làm cho con lắc tiếp tục dao động sau khi bị hòn sỏi gây ra cú sốc bên ngoài. Nói cách khác, mỗi khi chính sách của chính phủ gây sốc cho hệ thống kinh tế, hành vi hợp lý của những người tham gia thị trường tự do trong một khoảng thời gian không xác định (tức là trong dài hạn) sẽ đưa hệ thống quay trở lại quỹ đạo hiệu quả đã định trước, bằng cách thanh lọc “những thứ xấu xa ra khỏi hệ thống" (như cách nói tao nhã của Andrew Mellon).

    Do đó, người ta thường cho rằng khi thông qua luật quy định mọi công nhân đều được hưởng một mức lương tối thiểu ngay cả khi có những người thất nghiệp sẵn lòng nhận mức lương thấp hơn thế để được làm việc và khỏi bị đói khát, chính phủ đã gây ra thất nghiệp ở khu vực tư nhân. Tương tự, nếu chính phủ thông qua luật bảo vệ và khuyến khích thành lập công đoàn thì hậu quả là mức lương sẽ bị đẩy lên quá cao, đến mức cuối cùng doanh nghiệp không còn cơ hội thu lợi nhuận và công nhân chắc chắn sẽ thất nghiệp. Vì vậy, từ lý thuyết cổ điển có thể thấy thị trường chứ không phải chính phủ mới là chủ thể quyết định đâu là mức lương tối thiểu mà công nhân có thể nhận. Nhất quán với lý thuyết trên sẽ là kết luận: chính phủ không nên hạn chế mức lương của giới giám đốc cao cấp, mà nên để thị trường quyết định thu nhập của họ.

    Nhà toán học của trường Oxford là Jerome Ravitz đã viết trong bài báo có tên “Niềm tin và lý trí trong toán học về khủng hoảng tín dụng” đăng trên Tạp chí Oxford số mùa xuân năm 2008 như sau:

    "... thuật ngữ niềm tin được nhiều nhà quan sát chuyên nghiệp ngày nay cho rằng rất phù hợp với mô hình toán học tại trung tâm của trò chơi kim tự tháp đa cạnh đã dẫn tới thảm họa [khủng hoảng tín dụng] hiện tại. Cùng với chất lượng thấp kém và việc lạm dụng tính không chắc chắn trong các mô hình toán, niềm tin mù quáng vào kinh tế học [cổ điển] và toán học chính là nguyên tố thứ ba trong hỗn hợp chất độc làm cho tính tham lam và vô trách nhiệm phát huy khả năng phá hoại của chúng... Đầu tiên, toán học đem lại công nghệ ứng dụng trên máy tính. Tiếp đó, nhờ một định lý nghe có vẻ hợp lý, toán học biện minh cho hành vi đầu cơ quá mức. Cuối cùng, với mô hình đánh giá giá trị, rủi ro và chất lượng, toán học giúp lượng hóa các sản phẩm viển vông của nó. Khi đó, toán học trở thành một loại chất độc vô song, thứ mà Warren Buffet gọi là ‘vũ khí hủy diệt hàng loạt'".

    Khác biệt giữa các lý thuyết gia cổ điển và Keynes về tính thực tế của các giả định

    Nếu Keynes còn sống đến hiện tại, tôi nghĩ ông sẽ gọi lý thuyết thị trường hiệu quả là một thứ “vũ khí hủy diệt mang tính toán học”. Nhà kinh tế học Robert Lucas đã nhấn mạnh rằng các tiên đề cơ sở của kinh tế học cổ điển là “trái tự nhiên, trừu tượng, hiển nhiên là phi thực tế"[18]. Nhưng cũng như Samuelson, Lucas khẳng định những giả định phi thực tế đó chỉ là một phương pháp khoa học để nghiên cứu kinh tế. Lucas nói: “Tiến bộ trong kinh tế học có nghĩa là xây dựng được các mô hình trừu tượng, mô phỏng ngày càng tốt hơn, chứ không phải mô tả hiện thực bằng từ ngữ ngày càng hay hơn”. Cơ sở của lập luận này là những giả định phi thực tế giúp bài toán trở nên dễ xử lý hơn, và với sự trợ giúp của máy tính, nhà phân tích có thể dự báo được tương lai mà không thèm quan tâm đến chuyện dự báo có thể sai hoàn toàn.

    Các mô hình toán trên máy tính của lý thuyết thị trường hiệu quả cổ điển đều chứa hàng nghìn biến số và mỗi biến số đều có một phương trình, đó là cách mô tả khoa học chặt chẽ một hệ thống kinh tế mà tại mỗi thời điểm có thể đồng thời xác định được cả giá và số lượng mọi sản phẩm được mua bán trong nền kinh tế đó. Với nhiều người, ngay cả việc xác định các tiên đề cơ bản ẩn dưới mỗi mảnh ghép của mô hình toán cũng đã là một nhiệm vụ bất khả thi. Hơn nữa, việc máy tính có thể thực hiện được mọi bài toán đó còn đem lại bề ngoài chân lý khoa học cho các kết quả thu được. Những thứ in ra từ máy tính thì làm sao có thể sai?

    Trong một bài báo viết năm 2009 có tiêu đề: “Có lẽ sai lầm - ứng dụng sai môn Xác suất và Thống kê vào sự không chắc chắn của thế giới thực", Peter Taylor thuộc Đại học Oxford và David Shipley của công ty bảo lãnh MAP thuộc hiệp hội bảo hiểm Lloyd’s tại London đã đưa ra lý do tại sao mọi kết quả đi ra từ máy tính nói trên đều sai. Họ viết:

    "Có dối trá, dối trá nghiêm trọng, và có thống kê... Xác suất và Thống kê đơn giản là không áp dụng được cho nhiều trường hợp... Môn học này đem lại ấn tượng là nó quan tâm như nhau đến mọi khả năng có thể xảy ra... nhưng rồi sau đó lại thấy một kết quả ngoài dự liệu... Những người thực tế hơn sẽ muốn có công cụ đo lường mức độ đáng tin cậy, ví dụ khả năng áp dụng cho một lý thuyết hoặc một bài toán. Các biện pháp dự báo thường rất thành công trong phòng thí nghiệm là nơi được kiểm soát tốt hoặc trong khoa học kỹ thuật thì lại không hiệu quả trong những hệ thống phức tạp, và những lý thuyết có tính dự báo đang tiếp tục đánh lừa những người lập chính sách... Thậm chí có lẽ chúng ta còn phải thừa nhận rằng mình chẳng có một mô hình phù hợp nào cả. Đúng là một hiện tượng bất thường thời nay."

    Taylor và Shipley cho rằng chúng ta phải rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính hiện tại:

    “NẾU bạn là nhà đầu tư, đừng bao giờ tin tưởng vào một vị giám đốc dám tuyên bố rằng ông ta có một mô hình toán siêu việt... Là giám đốc [quỹ đầu tư], bạn hãy chấp nhận trong mô hình vẫn có những sự kiện ngoài dự liệu sẽ xảy ra... Là người quản lý, bạn hãy tập trung vào năng lực quản lý để biết khả năng xảy ra rủi ro thực tế, thay vì tìm một mô hình để yên tâm phó thác sinh mạng. Là người lập mô hình, hãy làm cho mọi người hiểu rằng mô hình chưa chắc đã tính toán được tất cả các cơ chế liên quan đến quá trình mà họ đang nghiên cứu".

    Trong lời giới thiệu cuốn sách bán chạy nhất có tên Chống lại các vị thần (Against the Gods) viết về vấn đề kỹ thuật quản lý rủi ro nào là thích hợp ở Wall Street, tác giả Peter L. Bernstein đã viết ở trang 6 như sau: Câu chuyện mà tôi sẽ phải kể ra đây từ đầu đến cuối luôn nổi lên sự căng thẳng không dứt giữa những người cho rằng những quyết định tốt nhất phải dựa trên sự lượng hóa và các con số được định đoạt bởi xu hướng [thống kê được] từ quá khứ, với những người ra quyết định dựa trên niềm tin chủ quan về tương lai không chắc chắn. Đây là một mâu thuẫn chưa giải quyết được.

    Có thể hy vọng rằng bằng chứng thực tế về sự sụp đổ của tất cả các mô hình - vốn đã thiết kế ra những yếu tố “chi phối toàn bộ hệ thống kinh tế” đang thống trị Wall Street trong suốt ba mươi năm qua - ít nhất cũng làm dấy lên mối nghi ngờ về khả năng áp dụng của lý thuyết cổ điển vào thế giới thực, cho dù chúng đều được lượng hóa và có lớp vỏ toán học. Ngay cả Alan Greenspan cũng có vẻ đã phải nghĩ lại tuy ông vẫn chưa hoàn toàn thay đổi thái độ.

    John Maynard Keynes đứng về phe thứ hai mà Bernstein nhắc đến. Cụ thể, Keynes cho rằng không thể giải quyết vấn đề tương lai không chắc chắn chỉ bằng cách xem xét xu hướng thống kê được từ quá khứ. Keynes tin rằng các quyết định chi tiêu hay tiết kiệm ngày hôm nay đều phụ thuộc vào mức độ chủ quan của mỗi cá nhân trong niềm tin về những sự kiện có khả năng xảy ra sau này. Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận ý tưởng của Keynes, từ đó có một lựa chọn khác ngoài lý thuyết thị trường hiệu quả cổ điển vốn cho rằng mọi người luôn biết được những sự kiện và kết quả trong tương lai với độ chính xác về mặt thống kê. Bằng cách đưa ra lựa chọn khác này, tôi hy vọng sẽ thuyết phục được độc giả rằng các ý tưởng của Keynes phù hợp hơn với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tiếp theo chúng ta có thể sẽ đề ra được giải pháp theo trường phái Keynes cho tình thế kinh tế khó khăn hiện nay - một giải pháp đòi hỏi sự đồng thuận mang tính hợp tác giữa chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân để tạo ra một xã hội kinh tế thực sự văn minh cho con cháu chúng ta và muôn đời sau.