03. Trang 041 - 054 - @hazin (tam dung) @mist (soát xong)

12/7/17
03. Trang 041 - 054 - @hazin (tam dung) @mist (soát xong)
  • THƠ TA THƠ TÂY

    Vơ-vẩn tơ vương hồn Đại-Việt,
    Thanh-tao thép lột giọng Hàn-Thuyên…


    Giọng Hàn-Thuyên ! Hồn Đại-Việt ! Hai câu ấy thực là gồm cả cái lòng hi-vọng tối-thiết của bọn ta. Than ôi ! vì sao mà ta khắc-khoải trong lòng, ta băn-khoăn trong dạ, vì sao mà ta mong-mỏi mà tủi-thương ? Chẳng phải từ xưa đến nay ta chưa từng được đem cái giọng Hàn-Thuyên này mà diễn cái hồn Đại-Việt kia dư ?

    Bởi thế nên ngày nay được đọc được ngâm những mảnh thơ nôm văn nôm của các bậc tiền-bối còn sót lại đến giờ, trong lòng có cái cảm vô-hạn. Tưởng như hồn xưa của đất Việt ta còn phảng-phất đâu ở trong mảnh thơ tàn văn vụn ấy, mà vẳng đưa đến tai ta những giọng vui sầu của người thủa trước.

    Cùng một tiếng khóc, cùng một giọng cười mà sao giọng cười tiếng khóc bằng cái lời họ Hàn kia, nó cảm ta như thế ? Là bởi trời sinh ta để nói cái tiếng ấy, trời sinh ra cái tiếng ấy để ta nói, ta có nói bằng tiếng ấy mới nói được lòng ta, nói bằng tiếng khác là nói những chuyện không đâu cả. Trong trời đất chỉ có tiếng nói ấy với ta, ta với tiếng nói ấy, là sẵn có duyên-nợ với nhau vậy.

    Ví chăng duyên nợ ba sinh,
    Làm chi đem thói khuynh-thành trêu ngươi?

    Ấy cái hồn văn nôm nó thường "trêu ngươi" bọn ta là vì thế.

    Không phải ngẫu-nhiên mà tôi phát-khởi ra cái tư-tưởng miên-man như thế. Chình là nhân đọc sách của một nhà nhiệt thành về quốc-văn, đã dụng công sưu-tập những thơ văn nôm của các bậc danh-sĩ để lại. Sách ấy là Cổ-xúy nguyên-âm, của ông Nguyễn Đông-châu, hiện mới xuất-bản được một tập thứ nhất ở nhà Đông-kinh ấn-quán. Ông Đông-châu muốn « đánh trống thổi sáo » để đón rước những bậc con cháu cụ Hàn-Thuyên đã biết nối nghiệp tổ tiên mà ngâm-vịnh bằng nguyên-âm của nước nhà. Ông làm một việc đáng khen thay !

    Ông chia sách làm bảy mục, gồm cả các lối văn thơ nôm cũ : 1. – Thi ; 2. – Phú ; 3. Kinh-nghĩa ; 4. – Văn-sách ; 5. – Ca-từ ; 6. – Văn-thư ; 7. – Đối liễn. Hiện nay mới in xong được một tập thứ nhất về mục thơ. Ta ước-ao các mục khác sẽ kế-tiếp mà xuất-bản, cho mau thành một kho tài-liệu về văn học nước nhà, và chứng tỏ cho thiên-hạ biết rằng tiền-nhân ta cũng có lưu-tâm đến quốc-âm, chứ không phải không.

    Trong tập thứ nhất này ông giảng tường về luật làm thơ. Xem đấy thì biết luật thơ cũng nghiêm như luật hình vậy : người nào thuộc luật thì bằng trắc tất không lẫn-lộn, vần tất áp, luật tất nghiêm, điệu tất xứng, đối tất chỉnh, sành những khóe thôi-xao, giỏi những cách xuất-sáo, mà gây nên những bức thanh-âm tuyệt-điệu ; người nào không thuộc luật thì phạm những tội ghê-gớm, đọc đến mà rùng mình : nào là tội thất-luật, tội thất-niêm, tội khổ-độc, tội cưỡng-áp, tội trùng ý, trùng-chữ, điệp-điệu, vân vân. Khuyên ai mới làm thơ phải học thi-luật cho kỹ, đừng có bằng ở tai, mà cũng chớ nên cậy ở tài, kẻo mà lắm khi mắc phải những tội trên !

    Ông đã diễn hết các điều luật nghiêm khắc ấy rồi, ông bèn lục ra đến ngót trăm bài thơ để làm minh-chứng cho những điều luật ấy. Thơ đủ các lối: thất-ngôn bát-cú, Đường-luật bát-cú, thủ-vĩ ngâm, bát-cú liên-hoàn, bát-cú họa-vần ; thất-ngôn tứ-tuyệt ba vần, tứ-tuyệt họa-vần, tứ-tuyệt liên-hoàn ; thơ yết-hậu (lối thơ này rất buồn cười) ; ngũ-ngôn bát-cú, ngũ-ngôn tứ-cú, ngũ-ngôn trắc. Trong tập này mới có các lối đó, còn lối khác như : trường-thiên cổ-thể, lục-bát, lục-bát giản-thất, ca-từ (thơ ả-đào, hát nói, v. v.) thì tập sau tất tiếp theo.

    Trong các lối thơ ấy có lối Đường-luật (8 câu 7 chữ) là thịnh-hành hơn cả. Vậy nên xét qua cái « tâm-lý » của lối thơ ấy. Nói « tâm-lý » tất có người lấy làm lạ mà hỏi : sao thể-cách thơ văn mà cũng có « tâm-lý » được ? Xin đáp rằng : Thực như thế. Bao nhiêu người làm thơ cùng theo một lối, lấy lối ấy làm hay làm tiện, đủ hình-dung diễn-đạt được sự cảm-giác, cái tình-tự của mình, thì lối thơ ấy với tính-tình người làm thơ tất có một mối quan-hệ gì, không phải là không ; nghiên-cứu sự quan-hệ ấy, tức là xét cái « tâm-lý » của lối thơ, vì nhân đấy mà có thể biết được tính-tình chung của các người làm thơ cùng dùng một lối ấy. Như lối Đường-luật 8 câu 7 chữ, chia ra làm bốn phần : hai câu 1-2 là câu đề (phá đề và thừa đề), hai câu 3-4 là câu thực, hai câu 5-6 là câu luận, hai câu 7-8 là câu kết. Trong cái phạm-vi 56 chữ ấy mà bộ-phận rất chỉnh-đốn, then máy rất cẩn-mật, phải làm thế nào vẽ được một bức tranh hoàn-toàn, hình-dung được cái ngoại-cảnh của tạo-vật cùng cái nội-cảnh trong lòng người, cái nọ hưởng-ứng với cái kia, không hề ngang trái nhau. Đó là vấn-đề rất khó mà các nhà thơ Tàu thơ ta phải giải quyết vậy.

    Muốn xét vấn-đề ấy giải-quyết ra làm sao thì phải biết cái quan-niệm riêng của người Tàu người ta về thi-học cùng họa-học. Ta coi thơ tức là vẽ, mà vẽ tức là thơ ; thơ là vẽ bằng lời, bằng thanh-âm, vẽ là thơ bằng hình, bằng màu sắc. Nên bức tranh sơn-thủy tức là bài thơ tả cảnh hiển-hiện ra cho mắt ta trông ; mà bài thơ tả cảnh tức là bức tranh sơn-thủy cất tiếng lên cho tai ta nghe vậy.

    Như muốn vẽ bức tranh thì con mắt phải nhìn trong cảnh-vật mà thu lấy cái hình-ảnh, rồi mới tìm cách truyền-thần cho ra giấy ra lụa. Muốn làm bài thơ cũng vậy, trong trí phải tưởng-tượng ra một cái cảnh, hoặc là cảnh thiên-nhiên, hoặc là cảnh trong tâm-giới, rồi dùng những âm hưởng thích-đáng mà gọi, mà kêu nó lên, khiến cho người nghe cũng phảng phất tưởng-tượng như thế. Hai đàng cùng là vẽ cả, một đàng là vẽ cách trực-tiếp, một đàng là vẽ cách gián-tiếp, nhưng đều là muốn khêu gợi ra một mối tư-tưởng cảm-tinh trong tâm-trí người ta vậy.

    Bởi thế nên phàm thơ Tàu, thơ ta, nhất là lối thơ Đường-luật, thực là những bức tranh cảnh con con. Đã là bức tranh để vẽ cái cảnh đẹp thiên-nhiên, hay là cái cảnh thú trong lòng, thì phải theo khuôn khổ của một bức tranh, phải phỏng nét bút người thợ vẽ, nghĩa là phải làm thế nào mà truyền-thần được cái cảnh trong mấy câu nhất định, không được hơn không được kém, không được tùy cái sóng ngổn-ngang ở trong lòng mà khi cao khi thấp, khi vắn khi dài vậy.

    Ấy « tâm-lý » của lối thơ luật là như thế. Người ta thường nói thơ là tiếng kêu tự-nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm túc cho nghề thơ, thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn, trúng vần trúng điệu hơn, nhưng vì đó có lẽ cũng làm mất cái giọng thiên-nhiên đi ít nhiều vậy.

    Thử đọc bài thơ « Qua đèo Ngang » của bà huyện Thanh-quan :

    Qua đỉnh đèo Ngang bóng xế tà,
    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
    Lom-khom dưới núi tiều vài chú,
    Lác-đác bên sông chợ mấy nhà.
    Luyến chúa đau lòng con cuốc-cuốc,
    Thương nhà mọi miệng cái gia-gia.
    Dừng chân đứng lại trời non nước,
    Một mảnh tình riêng ta với ta.


    Còn bức tranh nào vẽ khéo bằng ! Thực như một bức tranh sơn-thủy ở các lọ sứ tàu, đem phả vào khúc đàn hay vậy. Lời chuốt như ngọc, giọng êm như ru. Nào trời, nào nước, nào non, nào cây cỏ, nào đá hoa, nào chim kêu vượn hót, chẳng thiếu tí gì, lại thêm chút tình cảm-động của kẻ tha-hương, người lữ-thứ một mình đối với cảnh trời cao bể rộng. Mà bấy nhiêu thứ chỉ trong khoảng 8 câu, 56 chữ. Một bài thơ như thế là tuyệt-bút.

    Rằng hay thì thực là hay,
    nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân-công nhiều, mà vẻ tự-nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy.

    Cùng một đầu bài ấy, cùng một cái cảm-hứng ấy mà vào tay một nhà thơ tây, thì tất vẽ không được khéo bằng, bức tranh có lẽ kém bề phong-nhã, kém vẻ thanh-tao, nhưng nét bút đậm-đà biết dường nào, lời thâm-thiết mà giọng hùng-hồn, như đưa như cuốn cả tâm-hồn người lên mấy tầng mây !

    Thí-dụ như bài thơ bằng chữ Pháp sau này, cũng là tả cảnh buổi chiều đi chơi núi, mà cảnh tình man-mác gợi ra bao nhiêu ý-tứ cao-thượng, bao nhiêu tư-tưởng thâm-trầm. Xin lục ra cả nguyên-văn và dịch nôm-na ra quốc ngữ, cốt diễn lấy nghĩa đen cho người không thông Pháp-văn dễ hiểu, và để làm tài-liệu so sánh tinh-thần hai lối thơ.

    Bài thơ Pháp đề là : « Buổi chiều chơi núi » (Soir en montagne). (1) Lời rằng :

    J'ai gravi par ce beau crépuscule d'été
    Ta cime abrupte, ô mont noir de gorges secrètes,
    Qui te casques de rocs et de sapins te crètes,
    Et jusqu'au plus altier faîte je suis monté.

    La clarté déclinante enveloppe les choses.
    Un calme élyséen plane. A peine distincts,
    Quelque cloche, un torrent font vibrer des lointains
    Noyés dans un brouillard tissu de gazes roses.

    ________________

    (1) Bài thơ này của Lésonce Depont là một nhà làm thơ có tiếng ở nước Pháp thời nay. Ông mới mất được mấy năm nay. Thơ ông hay lắm, bình-sinh vẫn được suy-tôn là bậc « thi-bá » (le prince des’ poetes). Như bài này, không những ý-tứ cao, từ-điệu cũng rất là điều-hòa thanh-xướng. Lục ra đây để các nhà tây-học thưởng-giám. Ai không biết chữ Tây, xin xem qua lời dịch quốc-ngữ cho biết đại-khái lời-lẽ ý-tứ của thơ tây, còn âm-điệu thì không tài nào dịch ra được.


    Rougis d'obliques feux, des troupeaux mugissants
    Mêlent, semant les prés de tâches purpurines,
    Aux tintement épars l'angelus des clarines,
    Et du mont solitaire animent les versants.

    Une sereine extase, une paix infinie
    Me gagnent. Le soleil à peine disparus
    Couronne les sommets voisins où l'ombre a crû,
    Des pourpres de sa brève et royale agonie.

    Des trésors oubliés de tendresse et de foi
    S'offrent à ma pensée en qui tout s'exagère,
    J'imagine qu'avec plus de fraîcheur légère
    Mon âme de dix ans se renouvelle en moi.

    Déjà transfiguré d'ivresse intérieure,
    Je me refais petit, ingénu; je reviens
    Sans nul effort à des souvenirs très anciens,
    Comme va ce qui passe à ce qui seul demeure.

    Puis délivré d'un corps presque immatériel,
    Ma candeur reconquise en sa grâce enfantine,
    Sur les illusions sans nombre je butinem,
    Abeille heureuse éclose à la saison du miel.

    Et je crois, tellement l'atmosphère est subtile,
    Respirer un air vierge où des baumes divins
    S'épandent, exhalés d'invisibles ravins,
    Et vivre un de ces soirs que le Rêve distille.


    Des paysages d'or s'évoquent enchanteurs,
    Et des impressions ressuscitent naïves.
    Je suis le fil d'un fleuve aux lumineuse rives,
    Au caressant murmure, aux suaves senteurs.

    Et le courant m'entraine aux chères nostalgies
    De limpides séjours et d'horizons élus,
    Si tranquilles, si purs, que je ne les vois plus
    Qu'à travers la splendeur d'exaltante magies.

    Et quand je redescendes vers les hommes, longtemps
    Ebloui d'un reflet du passe qui persiste,
    Je médite d'un cœur moins amer et moins triste
    Sur ce mystérieux au déjà que j'attends.


    Diễn nghĩa ra quốc-ngữ:

    « Mùa hạ, bóng chiều đã xế, trời sáng tạnh, ta trèo lên trên ngọn tranh-vanh của nhà ngươi, hỡi núi cao ! Ngươi tối sầm những vực sâu hang thẳm, đầu ngươi đội mũ đá, mọc sừng thông (là cây thông). Ta trèo mà ta lên tận đỉnh thật cao.

    « Bấy giờ bóng tà-dương bao bọc cả cảnh-vật. Trời đất phẳng-lặng như tờ. Chốc chốc có tiếng chuống đánh, tiếng suối reo, xa đưa thoảng lại, như rung động cả bốn bề. Sương mù dủ che, như căng bằng thứ màn sa đỏ.

    « Trông lên cánh đồng lốm-đốm những đám đỏ, tức là ánh mặt trời chiếu xiên khoai vào mấy đàn bò, vừa đi vừa kêu, tiếng nhạc rung, xa đưa đồng-vọng với những tiếng động khác mà vang khắp sườn núi trơ-vơ.

    « Trong người tôi thấy bình-tĩnh, cao-hứng vô-cùng. Mặt trời mới bắt đầu lặn, các núi chung quanh đã tối dần, nhưng trên đỉnh còn chói-lọi sáng, tựa-hồ như ông Đông-quân trước khi từ-biệt thế-gian còn muốn ra oai rực-rỡ tỏng một giây phút sau cùng nữa.

    « Tư-tưởng tôi bấy giờ khoát-đạt vô-cùng, thấy trong lòng như có kho tình bể ái, lâu nay không từng tưởng nhớ đến. Tôi tưởng như cái hồn lúc mười tuổi nó lại tỉnh-thức lại trong người tôi mát-mẻ mà nhẹ-nhàng.

    « Trong lòng như say như mê, tưởng đã thay hình đổi dạng, nay lại bé nhỏ, lại ngây-thơ như xưa. Tự-dưng mà hồi lại những việc cũ, như cái gì qua đi muốn quay về với cái còn lại.

    « Rồi thấy như mình thoát ra ngoài cái thân-thể vô-hình, khôi-phục lại cái tâm-hồn tuyết trắng hoa thơm thủa đồng-ấu, khác nào như cái ong nở ra giữa mùa mật, tha hồ mà hút những bông hoa ảo-tưởng.

    « Khí trời rất là thanh-tịnh tưởng như cái không-khí mình thở là cái không-khí cực trong-sạch, lựng thơm những mùi hương thần ngào-ngạt tự nơi hang sâu vực thẳm nào đưa lên ; mà chiều hôm nay thì chỉ là một buổi chiều của thần mộng gây nên vậy.

    « Những cảnh hoàng-kim xuất hiện ra phấp-phới, những mối cảm-giác cũ khôi-phục lại tơi-bời. Tinh-thần như theo giải doành-ngân, nước chảy như ru, hương đưa ngào-ngạt.

    « Nước chảy đưa đến bờ tưởng-nhớ, tưởng-nhớ những nơi tiên-cảnh bồng-lai, rất bình-tĩnh, rất thanh-tịnh, chỉ lúc tuyệt-hứng mơ-màng mộng-tưởng mới trông thấy được

    « Đến khi ở trên núi xuống, trở về với người đời, trong trí vẫn còn phảng-phất những chuyện cũ. Bấy giờ tôi nghĩ đến cái cõi lai-sinh là nơi tôi sắp đến đây, thấy trong lòng đã bớt giận mà bớt buồn. »

    Chắc rằng bức « tranh » tây không được gọn-ghẽ, không được chải-chuốt, không được « thép-lột » bằng bức « tranh » ta, nhưng tình-từ dồi-dào biết dường nào, tư-tưởng siêu-việt biết bao nhiêu ! Cái cảm-hứng người ta lắm lúc đăng-lâm, thực là giãi bày ra hết lời hết ý. Lên cao trông rộng thì tâm-hồn nở-nang khoát-đạt ra. Bao nhiêu những tư-tưởng nhỏ-nhen là cái tâm-cảnh thường ở trong đám rừng người huyên-náo, tiêu tán hết cả. Hô-hấp cái không-khí trong-sạch ở nơi thượng tầng thì tinh-thần tỉnh-táo ra, hồi-tưởng lại những việc cũ, mộng – du lại những chốn bồng – lai tiên – cảnh. Tưởng mình như lại trở về tuổi đồng-ấy, tuyết trắng hoa thơm. Đến khi xuống thì trong lòng sạch cả mọi sự phiền-muộn oán-phẫn, nghĩ đến cái chết cũng không sợ nữa. Ấy cái tình-cảm của nhà thơ triền-miên mà vấn-vít như thế, không thể xếp thành bức tranh cảnh, không thể thu trong vòng tám câu thơ được.

    Cứ so-sánh hai lối thơ ấy thì biết hai cái tinh-thần khác nhau là dường nào. Một bên thì vụ bề nhân-công, một bên thì chuộng vẻ thiên-thú. Vụ đề nhân-công thì chủ lấy cực-kỳ tinh-xảo, làm thơ như trạm một hòn ngọc, uốn một cái cây, sửa cái vườn cảnh, thế nào cho trong cái giới-hạn nhất-định, thêu nên bức gấm trăm hoa. Chuộng vẻ thiên-thú thì nhà thơ tự coi mình như cái phong-cầm, tùy gió thổi mà nên tiếng.

    Tiếng trong như hạc bay qua,
    Tiếng đục như suối mới sa nửa vời …
    lời thơ phải tùy theo lớp sóng trong lòng mà khi dài khi ngắn, khi thấp khi cao, không thể cầm-giữ trong phạm-vi nhất-định.

    Bọn ta ngày nay thực là đứng giữa nơi giao-tiếp của hai cái tinh-thần ấy, hai cái gặp nhau ở ta, nếu ta khéo ra thì có thể điều-hòa những điều khuyết-điểm. Ta cứ nên giữ cái lối « tranh cảnh » của ta, nhưng ta nên rộng cái khuôn nó ra một chút mà bắt chước lấy cái vẻ thiên-thú của người. Có thế thì thơ văn nôm ta mới có thể phát-đạt lên được.

    Dù vậy cốt nhất vẫn là phải nuôi lấy cái « hứng » ở trong lòng trước. Đã có cái cảm-hứng đặc-biệt thì làm thế nào cũng tìm được lời thích-đáng mà diễn ra.

    Nhân đọc sách « Cổ xúy nguyên-âm » của ông Nguyễn Đông-châu mà chạnh nghĩ ra những ý-kiến ngổn-ngang như thế, nghĩ làm sao viết ra làm vậy, đâu dám tự-phụ xướng ra một lý-thuyết mới về thơ tây với thơ ta !

    (1917)
    :rose: