04. chương 4 (done)

19/7/15
04. chương 4 (done)
  • Chương 4 Một xu chi tiêu cũng là một xu thu nhập

    Tư tưởng của Keynes về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và vai trò của tiền

    TRONG CUỐN Lý thuyết tổng quát, John Maynard Keynes nói rằng các nhà kinh tế học cổ điển giống như các nhà hình học Euclid sống trong thế giới phi Euclid, khi nhận thấy những đường thẳng song song vẫn gặp nhau liền đổ tại những đường đó không thẳng, như thể đó là cách giải thích duy nhất cho tình huống không may là chúng cắt nhau. Thực ra không có cách giải thích nào thích hợp ngoài việc vứt bỏ tiên đề về các đường song song và đi vào nghiên cứu hình học phi Euclid. Đối với kinh tế học giờ đây cũng cần làm tương tự[19].

    Khi so sánh hình học Euclid với lý thuyết cổ điển, Keynes muốn nói bóng gió đến thực tế là trong khung phân tích cổ điển, với giả định biết trước được tương lai, thị trường tự do sẽ đạt hiệu quả vì nó tạo ra đầy đủ việc làm (tương tự như “các đường song song”).

    Nhưng trong thế giới thực lại xảy ra thất nghiệp cao và kéo dài (tương tự “không may là chúng cắt nhau"). Do đó, khi nói rằng thất nghiệp xảy ra vì công nhân không chịu chấp nhận mức lương thấp thì cũng tương tự như các nhà kinh tế học cổ điển đang đổ lỗi cho các đường thẳng trong thực tế không thẳng.

    Để xây dựng nên môn kinh tế học phi Euclid nhằm giải thích tại sao tình huống “giao cắt” thất nghiệp lại diễn ra trong thế giới thực, Keynes phải phủ nhận (“vứt bỏ”) tính phù hợp của một vài tiên đề của lý thuyết cổ điển trong thực tế. Một trong những tiên đề quan trọng nhất bị Keynes bác bỏ chính là tiên đề ergodic cổ điển giả định rằng con người biết trước và có thể tính toán được tương lai vì nó là cái bóng của thống kê trong quá khứ.

    Cần lưu ý rằng một nhân vật nổi tiếng trên thị trường tài chính là George Soros cũng đã giải thích tại sao lý thuyết thị trường hiệu quả không áp dụng được cho thị trường tài chính. Trong bài viết có tiêu đề “Cuộc khủng hoảng tài chính và những việc phải làm” đăng trên tạp chí Điểm sách New York số ra ngày 4 tháng 12 năm 2008, Soros viết: “Chúng ta phải từ bỏ lý thuyết [thị trường hiệu quả] đang rất phổ biến hiện nay về hành vi của thị trường”. Soros khẳng định cần nhận thấy có mối liên hệ giữa giá thị trường và thực tế đang diễn ra, một thực tế mà Soros gọi là tính phản hồi.

    Tính phản hồi là gì? Trong thư gửi tòa soạn đăng trên tờ The Economist số ngày 15-21 tháng 3 năm 1997, Soros đã phản đối Paul Samuelson khi Samuelson khẳng định phải áp dụng giả định ergodic vào kinh tế học, vì Soros cho rằng giả định ergodic không phản ánh “quá trình tương tác giữa suy nghĩ của những người tham gia thị trường với tình thế hiện tại" - một đặc điểm của thị trường tài chính thế giới trong thực tế. Nói cách khác, cách nghĩ của mọi người về thị trường có ảnh hưởng và thay đổi được tương lai của thị trường đó. Vì vậy, khái niệm tính phản hồi của Soros cũng tương tự như hành động bác bỏ tiên đề ergodic của Keynes.

    Thay cho tiên đề ergodic đã bị bác bỏ, Keynes cho rằng khi cần ra những quyết định kinh tế quan trọng, người ra quyết định không thể chỉ đơn thuần giả định rằng tương lai chỉ là những rủi ro có thể định lượng, tính toán được từ số liệu của thị trường hiện tại.

    Với những quyết định liên quan đến dòng chi tiêu hoặc dòng thu nhập có khả năng sẽ rất lớn và diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài, mọi người đều “biết” rằng họ không thể biết tương lai sau này sẽ ra sao. Họ biết rằng với những quyết định quan trọng như thế thì dự báo sai lầm về tương lai có thể sẽ dẫn tới phải trả giá rất đắt. Vì vậy, đôi khi trì hoãn, chưa quyết định ngay hôm nay lại là quyết định đúng đắn nhất.

    Xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại đã nỗ lực tạo ra một cơ chế cho phép mọi người kiểm soát được ở mức độ nào đó số mệnh không chắc chắn về mặt kinh tế của họ. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, việc sử dụng tiền tệ và các hợp đồng ràng buộc hợp pháp về tiền trong lĩnh vực tổ chức sản xuất, bán và mua hàng hóa và dịch vụ đã cho phép các cá nhân kiểm soát được ít nhiều dòng tiền mặt ra vào, nhờ đó kiểm soát được tình hình kinh tế, tiền bạc của họ trong tương lai. Ví dụ, các hộ gia đình ký hợp đồng trong đó họ đồng ý trả tiền thuê hoặc trả nợ khoản vay thế chấp cho ngôi nhà của họ. Họ còn ký hợp đồng trả tiền cho các công ty điện lực, gas và điện thoại để được cung cấp dịch vụ lâu dài. Những hợp đồng này cho phép các hộ gia đình, với một mức chi phí nhất định, có thể kiểm soát được những mục chi phí sinh hoạt chính trong vài tháng, hoặc thậm chí vài năm. Chúng còn đem lại cho các bên còn lại trong hợp đồng (doanh nghiệp) triển vọng hợp pháp về dòng tiền vào, cả ở hiện tại và tương lai, để họ có thể trang trải được chi phí sản xuất và có lợi nhuận. Người dân và các doanh nghiệp sẵn lòng ký hợp đồng với nhau vì mỗi bên đều nghĩ nếu họ thực hiện các điều khoản trong hợp đồng thì họ sẽ thu được lợi ích tối đa. Nếu có một sự kiện ngoài dự kiến xảy ra làm một bên không thể hoặc không muốn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thì cơ quan tư pháp của chính quyền sẽ can thiệp và buộc bên có lỗi phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc trả cho bên kia một khoản tiền đủ để bù đắp tổn thất, thiệt hại cho họ. Do đó, như người viết tiểu sử của Keynes là Robert Skidelsky đã nói: đối với Keynes, “bất công là do sự không chắc chắn, còn công bằng là do có thể dự đoán trước bằng hợp đồng”[20]. Nói cách khác, khi đồng ý ký kết hợp đồng, mọi người đã tự trang bị cho mình một công cụ có thể dự đoán được các dòng tiền vào và ra trong tương lai, ngay cả ở trong một thế giới đầy những điều không chắc chắn.

    Tiền là thứ được chính phủ bảo đảm, dùng để giải quyết mọi nghĩa vụ pháp lý trong hợp đồng. Định nghĩa này rộng hơn rất nhiều so với khái niệm tiền pháp định được in trên tờ giấy bạc của Cục Dự trữ liên bang (tức tiền giấy của nước Mỹ) như sau: "Tờ giấy bạc này là tiền pháp định, có thể dùng để thanh toán cho mọi khoản nợ của tư nhân và nhà nước”. Tiền giấy của Cục Dự trữ liên bang là tài sản nợ của hệ thống Cục Dự trữ.

    Vì nhiều lý do kỹ thuật liên quan đến ngành ngân hàng mà chúng ta không cần thiết phải trình bày ở đây, chính phủ cho phép mọi người sử dụng séc từ tài khoản tiền gửi có thể viết séc cũng như tính pháp định của tiền để thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng. Trong thực tế, người đọc có thể nhận thấy rằng họ chi trả phần lớn hóa đơn (tức nghĩa vụ hợp đồng) bằng séc từ tài khoản trong ngân hàng, hoặc như hiện tại là dịch vụ ngân hàng điện tử qua internet - bằng cách gửi thông báo điện tử đến ngân hàng mà họ gửi tiền để rút từ tài khoản ra một số tiền đủ để thanh toán cho từng hóa đơn cụ thể.

    Một người được gọi là có khả năng thanh toán nếu người đó có thể đáp ứng được mọi nghĩa vụ theo hợp đồng khi đến hạn. Đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình, việc duy trì khả năng thanh toán đóng vai trò cực kỳ quan trọng để họ không bị rơi vào tình trạng phá sản. Trong thế giới hiện tại, phá sản không khác gì đi đến giá treo cổ về mặt kinh tế. Duy trì khả năng thanh toán cho phép các cá nhân và doanh nghiệp tránh được cái giá treo cổ của sự phá sản.

    Chúng ta biết sự cần thiết phải duy trì khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán thường thể hiện bằng việc mỗi người luôn phải đảm bảo sổ ghi séc của họ có số dư lớn hơn không để có thể đáp ứng được mọi nghĩa vụ hợp đồng khi đến kỳ hạn thanh toán. Nếu có tháng nào đó mà chúng ta viết séc nhiều đến mức sắp rút quá số tiền trong tài khoản thì có thể giải quyết tình trạng này bằng một trong ba cách sau:

    1. Chúng ta không viết thêm tấm séc nào nữa cho đến khi thu nhập tháng sau vào tài khoản.

    2. Chúng ta thu xếp vay ngân hàng nếu chúng ta gửi tiền ở một ngân hàng đồng ý bổ sung thêm tiền vào tài khoản khi chúng ta bị thấu chi. Đổi lại, chúng ta thường phải cam kết sẽ trả lãi cho ngân hàng cũng như hoàn lại số tiền vay gốc khi có thu nhập trong tương lai.

    3. Chúng ta bán bớt một tài sản tài chính có tính thanh khoản nào đó trong danh mục đầu tư và dùng số tiền thu được gửi vào tài khoản trong ngân hàng.

    Rõ ràng tình trạng tài khoản âm là một thảm họa về mặt kinh tế đối với mọi thành viên trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng tại sao mọi người đều muốn số dư tài khoản của họ là lớn hơn không chứ không phải đúng bằng không? Keynes trả lời như sau: vì tương lai là không chắc chắn nên chúng ta không thể biết lúc nào chúng ta sẽ bất ngờ phải đối mặt với một nghĩa vụ thanh toán mà chúng ta không biết cũng như không thể dự đoán trước được, trong khi dòng tiền vào kỳ vọng trong tương lai có thể không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán đó. Hoặc chúng ta có thể đột ngột bị mất đi một dòng tiền vào dự kiến vì một lý do bất ngờ nào đó, ví dụ lương hưu giảm vì thị trường tài chính suy giảm, hoặc mất việc làm, hay người nuôi sống gia đình qua đời.

    Do đó, động cơ phòng ngừa khiến chúng ta phải duy trì số dư tài khoản ngân hàng lớn hơn không, để tự bảo vệ mình trước những sự kiện ngoài dự kiến. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, vì chúng ta biết tương lai là không chắc chắn nên việc cải thiện khả năng thanh toán để phòng ngừa rủi ro trong trường hợp xảy ra những sự kiện ngoài dự kiến là một hành vi dễ hiểu.

    Nếu các cá nhân bỗng nhiên tin rằng tương lai sẽ bất ổn hơn quá khứ thì họ sẽ cảm thấy thêm lo ngại về tương lai, do vậy họ sẽ giảm hành vi chi trả cho hàng hóa, dịch vụ trong hiện tại để tăng khả năng thanh toán, nhờ đó có thể đối phó tốt hơn với mọi sự kiện bất lợi, không chắc chắn sau này. Cách giảm dòng tiền ra dễ dàng nhất là giảm chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ, tức là tiết kiệm nhiều hơn từ thu nhập hiện tại. Tuy nhiên, nếu đột nhiên có nhiều người nghĩ rằng tương lai sẽ bất ổn hơn thì hành vi giảm tiêu dùng của tất cả những người đó sẽ gây ra ảnh hưởng tích lũy là làm suy giảm mạnh mẽ cầu thị trường đối với các sản phẩm của doanh nghiệp. Khi đối mặt tình trạng cầu hàng hóa dịch vụ giảm, các doanh nghiệp sẽ sa thải bớt lao động.

    Ngược lại, nếu thị trường trong thực tế là hiệu quả thì các hộ gia đình và doanh nghiệp sẽ phải có được thông tin đáng tin cậy về tương lai, trong đó bao gồm cam kết của họ về các dòng tiền vào và ra theo hợp đồng. Vì vậy, người ra quyết định có tính tư lợi sẽ không bao giờ ký kết hợp đồng nào đòi hỏi ở họ nghĩa vụ thanh toán trong tương lai mà họ không đáp ứng được. Khi đó sẽ không có ai bị mất khả năng thanh toán nghĩa vụ hợp đồng. Vì thế, không bao giờ cần thiết phải có tấm đệm bảo vệ, không cần tăng khả năng thanh toán để đối phó được với những khó khăn ngoài dự kiến liên quan đến số dư dòng tiền trong tương lai. Nhưng trong thực tế, cả hộ gia đình, doanh nghiệp lẫn chính quyền địa phương đều có thể rơi vào tình trạng không thanh toán được nghĩa vụ hợp đồng.

    Cuộc khủng hoảng các khoản vay dưới chuẩn diễn ra là do tỷ lệ các khoản nợ không thanh toán được lên rất cao, trong khi đó, các khoản nợ này đã được chuyển thành chứng khoán được thế chấp bằng tài sản. (Trong chương 6 chúng ta sẽ giải thích tại sao tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản vay dưới chuẩn lại gây ra cuộc khủng hoảng làm sụp đổ nền kinh tế thế giới năm 2008).

    Vì theo giả định, lý thuyết thị trường hiệu quả đã loại bỏ khả năng mọi người không có khả năng thanh toán nghĩa vụ hợp đồng nên rõ ràng nó không thể giải thích một cách logic mối quan hệ giữa cuộc khủng hoảng các khoản vay dưới chuẩn và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2007. Nó cũng không đưa ra được giải pháp nào cho vấn đề đó ngoài cách để mặc thị trường tự do tự giải quyết, và trong dài hạn nền kinh tế sẽ tự phục hồi. Trong chương 2, chúng ta đã nhắc đến con số ước tính của Paul Krugman về thiệt hại mà tình trạng mất khả năng thanh toán gây ra, trong đó có lẽ có khoảng hơn một triệu người đã và sẽ bị tống cổ ra khỏi nhà của họ. Những ai vẫn còn nhà sẽ bị mất đi tổng cộng sáu nghìn tỷ USD trong giá trị những ngôi nhà mà họ đang sở hữu. Liệu có ai nghiêm túc nghĩ rằng giải pháp thị trường tự do đó là đáng khao khát xét về mặt xã hội, hay thậm chí là có hiệu quả?



    Ngược lại, trong phân tích của Keynes, hệ thống luật dân sự về hợp đồng và tầm quan trọng của việc duy trì khả năng thanh toán đều đóng vai trò rất lớn nếu muốn hiểu được cách thức hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cả từ góc độ trong nước lẫn bối cảnh toàn cầu hóa - nơi các quốc gia sử dụng các loại tiền khác nhau và thậm chí hệ thống luật dân sự về hợp đồng khác nhau. Chúng ta sẽ nghiên cứu khía cạnh quốc tế của tiền tệ và hợp đồng trong chương 8. Còn bây giờ phần thảo luận của chúng ta chỉ giới hạn trong phạm vi ý nghĩa của đồng nội tệ và hợp đồng đối với nền kinh tế trong nước.

    Theo quan điểm của Keynes, tính bất khả xâm phạm của hợp đồng dựa trên tiền tệ là cơ sở của hệ thống kinh tế mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tư bản. Vì tiền tệ là thứ luôn có thể dùng để thực hiện mọi nghĩa vụ hợp đồng theo hệ thống luật dân sự nên tiền chính là loại hàng hóa có tính thanh khoản cao nhất. Tuy nhiên, còn có các loại tài sản khác có tính thanh khoản chỉ thấp hơn tiền chút ít, vì chúng không có được tính "pháp định", tức là không thể đưa tài sản đó cho đối tác trong hợp đồng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán với họ. Tuy nhiên, chừng nào có thể dễ dàng bán được những tài sản đó trên một thị trường tài chính có tổ chức, có trật tự để thu được tiền (quá trình chuyển tài sản thành tiền) thì tài sản đó được coi là có tính thanh khoản ở mức độ nhất định. Một tài sản nếu có thể bán được nhanh chóng và đem lại tiền trên thị trường tài chính có tổ chức, có trật tự thì sẽ cho phép mọi người sử dụng số tiền thu được từ việc bán tài sản tài chính đó để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.

    Ví dụ, các loại chứng khoán được mua bán trên Thị trường chứng khoán New York không phải tiền. Nhưng chúng lại có tính thanh khoản vì thị trường New York có các quy định và tổ chức được lập ra để đảm bảo với công chúng rằng họ luôn có thể mua và bán bao nhiêu chứng khoán tùy thích, đồng thời giá trên thị trường sẽ luôn biến động theo quy luật. Khi nói “theo quy luật", hàm ý của chúng ta là giá chứng khoán trong giao dịch tiếp theo sẽ không khác nhiều so với giá chứng khoán trong giao dịch xảy ra trước đó. Do vậy, khi một người gọi cho nhân viên môi giới chứng khoán và bảo anh ta bán đi X cổ phiếu “theo giá thị trường”, thì người bán biết rằng số tiền mình nhận được sẽ chỉ chênh lệch vài xu so với giá giao dịch được công bố gần đây nhất.

    Như Peter L. Bernstein, tác giả cuốn sách bán chạy nhất Chống lại các vị thần đã lưu ý, sự tồn tại của thị trường tài chính có trật tự đối với các tài sản có tính thanh khoản đã khuyến khích chủ sở hữu (tức nhà đầu tư) các loại chứng khoán tin rằng họ có thể thực hiện chiến lược nhanh chóng rút khỏi thị trường bất cứ khi nào họ thấy không hài lòng với những gì đang diễn ra. Nếu chứng khoán không có tính thanh khoản thì rủi ro đối với những cổ đông (chủ sở hữu) nhỏ của các doanh nghiệp sẽ là khá lớn. Tuy nhiên, tính thanh khoản của thị trường này cũng như tính chất khuyến khích chiến lược nhanh chóng rút khỏi thị trường đã khiến cho sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát (quản lý) doanh nghiệp trở nên một vấn đề quan trọng, làm các nhà kinh tế học và các chính trị gia bối rối suốt từ thập niên 1930. Những ai ngạc nhiên khi nghe các chuyên gia khẳng định rằng giám đốc các ngân hàng đầu tư lớn không hề bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu ngân hàng tức là họ không hiểu thị trường thanh khoản có trật tự đã làm cho hai vai trò sở hữu và quản lý bị tách rời khỏi nhau như thế nào. Trong lý thuyết thị trường hiệu quả, người ta giả định ngầm rằng những người sở hữu doanh nghiệp sẽ tự quản lý hoặc thuê giám đốc làm việc đó. Vị giám đốc được thuê này nếu muốn được làm việc lâu dài thì sẽ phải theo đuổi mục tiêu lợi ích cá nhân giống như mục tiêu của chủ sở hữu khi tự quản lý doanh nghiệp. Nói cách khác, theo lý thuyết cổ điển, không thể có sự khác biệt trong quá trình ra quyết định của chủ sở hữu và người quản lý công ty.

    Nếu tôi là một cổ đông nhỏ (giống như phần lớn các cổ đông khác) của một công ty niêm yết lớn và tôi không thích cách thức hoạt động của công ty lâu nay thì ngay lập tức, tôi sẽ bán cổ phần của mình đi, thay vì cố gắng tham gia vào quy trình tốn kém và mất thời gian để sa thải ban giám đốc, những người mà tôi cho rằng đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi quản lý công ty.

    Trong chương 6, chúng ta sẽ giải thích tại sao khi tương lai là không chắc chắn, mức giá bạn nhận được khi bán tài sản có tính thanh khoản trên thị trường tự do vào một thời điểm bất kỳ trong tương lai có thể khác nhau rất nhiều trong khoảng thời gian rất ngắn. Trong tình huống xấu nhất, tài sản tài chính có thể rơi vào tình trạng không thể bán được (không có tính thanh khoản) dù với bất cứ giá nào trên thị trường, vì tài sản đó đã bị mất giá, không theo quy luật nào cả.

    Để đảm bảo với người sở hữu chứng khoán có tính thanh khoản rằng giá tài sản của họ trên thị trường luôn luôn biến động theo quy luật thì cần có một người hoặc một công ty trên thị trường có tên là “người tạo lập thị trường”. Sự tồn tại của người này giúp công chúng tin rằng nếu tại một thời điểm bất kỳ, rất nhiều người đang sở hữu tài sản đột nhiên muốn thực hiện chiến lược nhanh chóng rút khỏi thị trường và bán tài sản, trong khi có rất ít hoặc không ai muốn mua những tài sản có tính thanh khoản đó, thì người tạo lập thị trường có nghĩa vụ tham gia vào thị trường và mua hết số tài sản đang được chào bán. Mục đích của hành động này là đảm bảo giá tài sản sẽ biến động theo “quy luật” dựa trên mức giá của giao dịch trước đó. Về cơ bản, người tạo lập thị trường làm cho chủ sở hữu các tài sản có tính thanh khoản tin rằng họ luôn có thể thực hiện chiến lược nhanh chóng rút khỏi thị trường với mức giá chỉ chênh lệch chút ít so với mức giá của giao dịch ngay trước khi họ bán. Trên Thị trường chứng khoán New York, những người tạo lập thị trường này được gọi là “chuyên gia".

    Một xu tiết kiệm được là một xu thu nhập mất đi

    Trong hệ thống kinh tế tư bản sử dụng tiền, việc mọi người nhận thấy rằng tương lai không chắc chắn có nghĩa là hộ gia đình và doanh nghiệp đều muốn duy trì khả năng thanh toán. Do đó, để có khả năng thanh toán, mỗi tuần, mỗi tháng hoặc mỗi năm, người bình thường sẽ không tiêu hết dòng tiền vào của họ (tức thu nhập bằng tiền) vào các sản phẩm của các ngành công nghiệp. Phần thu nhập không dùng vào chi tiêu này được gọi là “tiết kiệm”. Để chuyển số tiền tiết kiệm được - tương đương với khả năng đáp ứng được nghĩa vụ hợp đồng - vào tương lai, người tiết kiệm sử dụng nhiều “cỗ máy thời gian” có tính thanh khoản khác nhau. Họ có thể nhét tiền dưới nệm giường, trong tài khoản ngân hàng hoặc mua và cất giữ nhiều loại tài sản có tính thanh khoản khác nhau trong một danh mục đầu tư, ví dụ cổ phiếu, trái phiếu và các loại tài sản tài chính khác mà người đó tin là có tính thanh khoản cao vì chúng đều đang được mua bán trên một thị trường có tổ chức, có trật tự. Như chúng ta sẽ trình bày trong chương 6, không may là mọi trật tự trên thị trường các loại tài sản tài chính có tên là nghĩa vụ nợ có thế chấp (CDO) và các loại chứng khoán phái sinh lạ lùng khác lại biến mất. Kết quả là năm 2007 xảy ra khủng hoảng thị trường tài chính.

    Đến điểm này thì chúng ta cần lưu ý rằng khi có một phần bất kỳ thu nhập của một người không được dùng để mua sản phẩm thì điều đó có nghĩa là cầu sản phẩm trên thị trường giảm đi so với khi người đó chi tiêu toàn bộ thu nhập. Do đó, tiết kiệm có thể gây ra tác động tiêu cực lên lợi nhuận của doanh nghiệp và số việc làm mà doanh nghiệp tạo ra[21].

    Ai tạo ra việc làm trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa? Mặc dù chính phủ có đem lại một vài việc làm và có thuê nhân công, ví dụ: cảnh sát, lính cứu hỏa, lực lượng vũ trang, giáo viên ở các trường công, thẩm phán..., nhưng phần lớn việc làm đều nằm trong khu vực tư nhân nhờ doanh nghiệp thuê lao động. Suy thoái và khủng hoảng xảy ra khi các doanh nghiệp sa thải lao động với số lượng lớn, còn thịnh vương là thời kỳ mà doanh nghiệp kiếm được lợi nhuận cao, do đó gần như họ thuê hết tất cả những ai có khả năng và sẵn lòng làm việc.

    Yếu tố nào quyết định doanh nghiệp thuê hoặc sa thải công nhân? Kỳ vọng tăng doanh số chính là động lực tích cực khiến doanh nghiệp thuê thêm người để sản xuất thêm sản phẩm và bán ở mức giá đem lại lợi nhuận. Ngược lại, nếu các doanh nghiệp kỳ vọng (hoặc trải qua giai đoạn) doanh số giảm, dẫn tới cơ hội kiếm lợi nhuận giảm thì họ sẽ cắt bớt số lao động họ có. Tóm lại, biến động doanh số và đơn đặt hàng kỳ vọng là yếu tố có tác động lớn nhất lên hành vi thuê lao động của doanh nghiệp khu vực tư nhân.

    Vì vậy, mọi yếu tố làm giảm mức tổng chi tiêu đối với các hàng hóa và dịch vụ có thể sinh lợi của các doanh nghiệp trong nước đều có xu hướng làm giảm số việc làm, còn mọi yếu tố làm tăng chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ thì sẽ tăng lợi nhuận của doanh nghiệp và tăng số lao động có việc làm. Do đó, trái ngược với câu nói của Benjamin Franklin rằng “một xu tiết kiệm được là một xu kiếm được", chỉ đồng xu nào được dùng để mua sản phẩm của các ngành sản xuất mới trở thành đồng xu thu nhập cho người làm công, nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp chia nhau.

    Hành động tiết kiệm một phần trong thu nhập hiện tại có nghĩa là việc tiêu dùng sản phẩm của các ngành sản xuất sẽ ít hơn so với khi toàn bộ thu nhập được [22] đem ra chi tiêu và không có tiết kiệm. Khi tiết kiệm tăng thêm một xu thì tức là doanh nghiệp không thể nhận được đồng xu đó thông qua bán hàng hóa, dịch vụ. Tiết kiệm làm giảm cơ hội lợi nhuận nhờ bán hàng của doanh nghiệp, do đó các doanh nghiệp thuê ít công nhân hơn so với khi không có tiết kiệm. Kết quả là nếu tất cả những người mua sản phẩm và dịch vụ quyết định sẽ chi tiêu ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn thì cầu thị trường giúp sinh lợi nhuận cho doanh nghiệp sẽ giảm, và số việc làm doanh nghiệp đem lại sẽ ít hơn.

    Dĩ nhiên, nguy cơ làm giảm việc làm của một vài người tiết kiệm có thể được bù lại nếu cùng thời điểm đó, có nhiều người mua khác quyết định chi tiêu nhiều hơn trước, thậm chí vay nợ để tăng chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ.

    Những người đó là ai và tại sao họ lại sẵn lòng vay nợ để chi tiêu nhiều hơn?

    Các nhà kinh tế học thường chia người mua hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp ra thành bốn nhóm. Đó là (1) hộ gia đình, (2) các doanh nghiệp đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị mới vì họ dự đoán doanh số trong tương lai sẽ tăng, vượt quá năng lực sản xuất hiện tại, (3) chính phủ, bao gồm cả chính phủ cấp địa phương, cấp bang và cấp liên bang, và (4) người nước ngoài mua sản phẩm mà Mỹ xuất khẩu.

    Chúng ta sẽ thảo luận về tác động của doanh thu xuất khẩu trong chương bàn về thương mại quốc tế. Còn ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào ba nhóm người mua đầu tiên.

    Tiêu dùng của hộ gia đình thường gắn chặt với thu nhập. Nếu thu nhập của hộ gia đình tăng thì họ sẽ có xu hướng mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, còn nếu thu nhập giảm thì họ sẽ mua ít đi. Nếu nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái hoặc khủng hoảng thì nguyên nhân là một số người mua sản phẩm của khu vực kinh tế tư nhân, vì một lý do nào đó, đã mua ít đi và ít người lao động có việc làm hơn. Vì vậy, suy thoái luôn liên quan đến sự suy giảm tổng thu nhập của tất cả các hộ gia đình do một số công nhân bị sa thải và phải sống bằng tiền bồi thường thất nghiệp thấp hơn lương, trong khi đó các hộ gia đình khác có một phần thu nhập từ lợi nhuận của các công ty cũng thấy thu nhập của mình giảm vì các doanh nghiệp đang trải qua thời kỳ doanh thu giảm.

    Thế còn đầu tư của các doanh nghiệp thì sao? Lý thuyết cổ điển khẳng định rằng nếu thị trường là hiệu quả thì bất cứ khi nào tiết kiệm của hộ gia đình tăng lên thì ngay lúc đó, các doanh nghiệp sẽ vay số tiền tiết kiệm đó và đầu tư nhiều hơn vào nhà xưởng và trang thiết bị. Có độc giả nào tin rằng nếu mọi người tiết kiệm nhiều hơn và do đó mua sắm ít hơn, thì các doanh nghiệp, trước tình hình cầu thị trường suy giảm, lại ngay lập tức đầu tư nhiều hơn để nâng cao công suất, cho phép họ sản xuất ra nhiều hơn?

    Nếu cầu thị trường giảm và các doanh nghiệp bắt đầu cảm thấy tác động của suy thoái thì giới quản lý doanh nghiệp sẽ không đầu tư thêm nhà xưởng và trang thiết bị khi công suất hiện tại của họ không được sử dụng hết vì doanh số và số đơn đặt hàng giảm. Ngay cả nếu lãi suất giảm mạnh, nhờ đó chi phí vay vốn để mua nhà xưởng, trang thiết bị mới thấp hơn thì người quản lý doanh nghiệp vẫn không vay để đầu tư thêm nếu họ đã có công suất sản xuất cao. Doanh nghiệp kinh doanh sẽ bắt đầu tái đầu tư vào nhà xưởng và trang thiết bị chỉ khi cầu trên thị trường tăng, đủ để khiến họ tin rằng lượng hàng bán ra sẽ vượt quá năng lực sản xuất hiện có. Do đó, trong thời kỳ suy thoái, chúng ta không thể kỳ vọng các doanh nghiệp tăng đầu tư.

    Như vậy, chỉ còn chính phủ là người chi tiêu lớn nhất để bù đắp lại phần doanh thu và lợi nhuận bị sút giảm. Không may là phần lớn chi tiêu của chính quyền cấp bang và địa phương lại có quan hệ chặt chẽ với doanh thu thuế, và khi kinh tế suy thoái thì họ cũng nhanh chóng rơi vào tình trạng thuế dự kiến thu được giảm so với ngân sách hiện tại. Vì vậy, ở rất nhiều bang và thành phố, doanh thu thuế giảm dẫn tới việc cung cấp các dịch vụ công ngay lập tức cũng giảm theo và chính phủ sa thải người lao động. Điều đó chỉ càng làm tăng thất nghiệp và giảm hơn nữa cầu thị trường đối với sản phẩm của các ngành sản xuất.

    Trong thời kỳ suy thoái hiện nay, một trong những khoản chi tiêu đầu tiên bị chính quyền địa phương và cấp bang cắt bỏ là chi cho các trường cao đẳng và đại học công, trường cao đẳng cộng đồng, trường phổ thông công lập v.v. Hậu quả là không chỉ người lao động có kỹ năng và trình độ cao bị thất nghiệp nhiều hơn mà chất lượng giáo dục công ở mọi cấp học cũng đều giảm xuống, khiến cho con cái chúng ta bị tước đi cơ hội được hưởng một nền giáo dục tốt. Chính quyền địa phương cũng sẽ cắt giảm hoặc trì hoãn các khoản đầu tư vào các cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống cộng đồng.

    Như vậy, trong suy thoái chỉ có chính phủ liên bang là không những vẫn duy trì được mà thực tế còn tăng mua sắm các sản phẩm của khu vực doanh nghiệp tư nhân, ngay cả khi doanh thu thuế của chính phủ giảm vì thu nhập của các doanh nghiệp và hộ gia đình đều giảm. Dĩ nhiên, việc chính phủ liên bang chi tiêu nhiều hơn trong khi doanh thu thuế giảm có nghĩa là chính phủ phải vay mượn tiền để trang trải cho những khoản chi này, qua đó làm tăng thâm hụt ngân sách hàng năm, dẫn tới tổng mức nợ quốc gia vào cuối năm 2008 đã lên tới 10 nghìn tỷ USD.

    Giải pháp chống suy thoái và khủng hoảng theo trường phái Keynes là xây dựng một kế hoạch chi tiêu phục hồi, trong đó chính phủ phải thực hiện những khoản chi khổng lồ. Nhưng những khoản chi khổng lồ này không hoàn toàn xấu. Hãy nhớ rằng nếu số tiền đó được dùng để mua sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước thì sẽ tăng cơ hội kiếm lợi nhuận cho họ, khi đó họ sẽ tạo ra thêm rất nhiều việc làm trong khu vực tư nhân, phục hồi sự thịnh vượng cho các hộ gia đình Mỹ.

    Chính phủ nên mua những gì?

    Khi thất nghiệp cao và năng lực sản xuất không được sử dụng hết thì tăng chi tiêu chính phủ sẽ làm tăng cầu thị trường, tăng cơ hội kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp khi họ mở rộng sản xuất và thuê thêm lao động. Tùy chính phủ mua loại sản phẩm nào mà ngành công nghiệp đó có động lực tăng sản lượng và sử dụng lao động nhiều hơn.

    Vậy chính phủ nên mua những gì? Rõ ràng nếu chính phủ mua những thứ giúp nâng cao năng suất lao động và đời sống cho công dân thì ai cũng muốn chính phủ mua chúng. Vì thế Tổng thống Obama đã đề xuất một kế hoạch phục hồi kinh tế trong đó có việc ký hợp đồng với các doanh nghiệp để cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ cộng đồng dân cư trên cả nước. Kế hoạch Obama còn bao gồm cả những khoản chi khuyến khích các công ty tư nhân phát triển nguồn năng lượng thay thế như pin mặt trời, turbine gió, ô tô hybrid có hiệu suất sử dụng nhiên liệu cao, v.v.

    Hiện có rất nhiều chính trị gia phản đối kế hoạch chi tiêu khổng lồ vào những dự án như vậy. Thường thì chính những người luôn phản đối kế hoạch phục hồi nền kinh tế thông qua chi tiêu đáng kể vào những thứ phục vụ cho đời sống người dân này sẽ lại không ngần ngại chi số tiền tương tự để mua đủ mọi loại trang thiết bị quân sự. Chính sách chi tiêu quân sự này còn được gọi là theo trường phái Keynes quân sự, và cho đến hiện tại thì chỉ có loại chính sách kiểu Keynes này được các chính trị gia bảo thủ chấp nhận.

    Tuy nhiên, tín đồ của tư tưởng thị trường tự do hay có xu hướng phản đối chương trình phục hồi kinh tế bằng chi tiêu chính phủ quy mô lớn. Mọi chương trình chi tiêu ngân sách lớn thường gặp phải ba lý luận phản đối như sau: [23]



    2. Nếu tăng nợ quốc gia thì chúng ta sẽ đặt gánh nặng phải trả nợ lên vai con cháu và chúng sẽ phải chịu hậu quả của sự hoang phí của chúng ta.

    3. Những khoản chi tiêu của chính phủ sẽ phải được bù đắp bằng cách “in tiền”. Tổng cung tiền tăng lên sẽ gây ra Đại Lạm phát nếu không phải ngay lập tức thì cũng sẽ vào một thời điểm nào đó có thể dự đoán trước (tức là chắc chắn?) trong tương lai.

    Chương tiếp theo sẽ giải thích tính ngụy biện trong ba lý luận này. Còn hiện tại, năm 2009, khi nền kinh tế Mỹ đang chìm sâu vào suy thoái và toàn thế giới cũng đang cùng rơi xuống một vực sâu thì câu hỏi không phải là: “Liệu chúng ta có khả năng thực hiện được một Chương trình Phục hồi kinh tế thông qua thâm hụt ngân sách giúp đem lại cho nền kinh tế Mỹ lợi nhuận, việc làm và sự thịnh vượng hay không?". Mà vấn đề thực sự phải đặt ra là: “Liệu chi để không thâm hụt ngân sách mà chúng ta có thể không chi một số tiền đủ để phục hồi sự thịnh vượng cho nền kinh tế hay không?”. Vì nếu chúng ta không theo đuổi đến cùng kế hoạch phục hồi thông qua chi tiêu chính phủ này thì con cháu chúng ta sẽ phải đối mặt với một tương lai kinh tế ảm đạm, với rất ít khả năng có việc làm và có thu nhập sung túc suốt đời, ngay cả khi chúng được thừa hưởng một chính phủ có nợ quốc gia thấp hơn.

    Nghĩa vụ của thế hệ hiện tại là phải xây dựng cho thế hệ tương lai một hệ thống kinh tế - xã hội thịnh vượng lâu dài, trong đó cơ hội kiếm lợi nhuận luôn tồn tại, và tất cả những ai muốn được làm việc và có cuộc sống sung túc đều có cơ hội thực hiện được điều đó.