04. Trang 055 - [email protected]ânVôsự (soát xong-đánh máy thiếu trang 61,62,63)

4/10/15
04. Trang 055 - [email protected]ânVôsự (soát xong-đánh máy thiếu trang 61,62,63)
  • VĂN QUỐC-NGỮ

    Vấn-đề quan-trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn-đề văn quốc-ngữ. Vấn-đề ấy có giải-quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở-mang, cuộc tiến-hóa sau này mới có thể mong-mỏi được. Đến ngày chữ quốc-ngữ dùng làm quốc-văn được thì người nước Nam mới có thể thâu-thái các khoa-học mới mà gây thành một nền học thích – hợp với trình – độ, với tính-cách dân ta. Đến ngày ấy thì người nước ta mới phát-biểu được tinh-thần cốt-cách của mình, tinh-thần cốt-cách ấy hiện nay còn mập-mờ phảng-phất như ảnh không hình vậy. Nói rút lại, văn quốc-ngữ có phát-đạt thì nền quốc-học mới gây dựng được, mối tư-tưởng mới mở-mang được, quốc-dân ta mới không đến nỗi chung-kiếp đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay vậy.
    Trách lịch sử cũng không bổ-ích gì, mà làm án tiền-nhân lại là phạm tội bất-hiếu. Vậy ta chẳng nên oán gì các cụ ta ngày xưa vì say đắm chữ tàu nên lãng-bỏ tiếng nôm, để cho con cháu ngày nay khổ vì có nước mà không có văn, có người mà không có cách nói cho nhau nghe ngoài những câu nhật-dụng thường-đàm. Ta chỉ nên xét hiện-tình mà khuyên quốc-dân để tâm để ý vào một vấn-đề rất quan-hệ cho tương-lai nước nhà.
    Hiện nay ai cũng rõ rằng chữ quốc-ngữ là tiện-lợi, so với chữ tây chữ nho học vừa dễ mà vừa mau, nhưng cũng vì thế mà coi thường coi khinh, cho là không đáng công học, không biết rằng chữ quốc-ngữ ấy chính là cái bè từ để cứu-vớt bọn ta trong bể trầm-luân vậy.

    Ôi ! có nước mà không có tiếng nói, còn gì khổ bằng ! Trong khi họp-tập năm ba anh em ngồi với nhau, bàn những chuyện thiết-tha, nói những điều tâm-sự, mà đương câu chuyện phải pha một hồi tiếng tây hay điểm mấy câu chữ tàu, thì cực biết bao nhiêu! Việt một bức thư là sẻ tấm lòng cho người yêu kẻ mến, lời đi cảm-tình cũng phải đi theo, thế mà bày tỏ cái cảm-tình ấy ra cũng không thể không dùng được thứ tiếng nói bắt đầu học từ khi lọt lòng mẹ, thì thảm biết dường nào !
    Ấy cái hiện-tình như thế. Người trong nước ai là người đoái nghĩ đến ?

    Những người nhiệt thành về tây-học thì ước cho chữ tây thông-dụng cả trong nước, lấy tiếng Pháp mà thay vào tiếng ta không những trong khi học-tập mà đến cả trong lúc chuyện-trò nữa, không biết rằng sự << đổi não >> ấy là thuộc lẽ thiên – nhiên không thể nào thành được. Mà dù có làm được nữa cũng là một sự không nên. Vì chữ Pháp phải coi là một thứ << cao-đẳng văn-tự >>, người nào có tư-cách nên nghiên cứu cho thực thâm để làm cái thang mà bước lên cõi văn-minh, nền học-thuật mới, nhưng cái của báu ấy không thể đem ban-phát cho khắp mọi người được, sợ không biết của, dùng lầm mà làm mất giá đi vậy. Cứ xem người nước ta theo tây-học đã ngoại bốn mươi năm nay mà chưa thấy gì là tấn-tới cho lắm, mới biết rằng một thứ văn-tự cao-quí như chữ Pháp phải phí nhiều công-phu lắm mới học cho đến nơi đến chốn được. Còn học dở-dang, biết mập-mờ thì thà không học không biết lại còn hơn.

    Đến những nhà cựu-học thì tuy ngày nay không còn mấy nữa, nhưng còn người nào đều là ôm cái chủ-nghĩa chán đời cả. Trông thấy cái học cũ mỗi ngày một mòn-mỏi đi, không thể cứu vớt được nữa, trong lòng những thương cùng nhớ, không hề xét đến tình-thế tất-nhiên, không hề nghĩ đến tiền-đồ sự học, tựa-hồ như quay mặt cả về ký-vãng mà ngoảnh lưng lại với tương-lai vậy. Nói văn quốc-ngữ với các nhà ấy thì học cũng cho là vô vị như chuyn Khổng Mạnh đối với người tây-học vậy.
    Như thế thì cả quốc-dân không hề lưu-tâm đến cái vấn-đề tâm-huyết, là vấn-đề chữ quốc-ngữ ; cả quốc-dân không hề tự hỏi : một nước có thể không có quốc – văn được không ? Một nước muốn mưu sự sinh-tồn tìm đường phát-đạt, có thể đời đời học mướn viết nhờ mãi được không ?
    Đười trước đã lầm, đời nay phải biết tránh vết xe cũ mà đừng đi. Ví nước Nam xưa kia có được vài ba ông Nguyễn – Du, năm bảy bà Thị - Điểm, mấy cụ Bảng – Đôn, mấy cụ Yên – Đổ, thì chi mà quốc-văn chẳng đã phong-phú rồi, chi mà đến nỗi nghèo-nàn như ngày nay !

    Các cụ đã xao – lãng, bọn ta phải chăm-chút. Dám quyết rằng công-phu này không phải là công-phu uổng. Cái chất nôm tuy còn mộc-mạc như súc gỗ chửa thành đồ, nhưng nếu khéo bào khéo chuốt thì có ngày bóng – bảy như trắc gụ cũng nên.
    Vẫn biết rằng văn quốc-ngữ ngày nay chưa có cái thú-vị gì khá lấy làm vui được cho các bậc cao sĩ. Ngồi hầu chuyện các văn-nhân thi-sĩ nước Tàu nước Tây vẫn còn sướng hơn là để tai nghe những tiếng bi-be của đứa lên ba đất Nam-Việt. Nhưng mà kính-trọng bậc tôn-trưởng bao nhiêu, tưởng cũng nên phù-trì cho đứa anh-hài bấy nhiêu mới là phải. Huống-chi đứa anh-hài lại là sản-nhi giống Hồng-Lạc, thì công phù trì ấy há lại chẳng nên thiết-tha mà chăm-chút bội-phần dư ?
    Bởi vậy mà ngày nay người nào chịu tập văn nôm là làm một việc công-đức, người nào chịu xem văn nôm là làm một việc nghĩa-vụ vậy. Công-đức ấy, nghĩa-vụ ấy, người có lòng có dạ với nước, há lại chẳng nên vui-vẻ mà làm dư ?
    Nào các nhà tây-học, sau khi các ông đọc xong một chuyện hay, lại chẳng nên tự nghĩ rằng : cái chuyện này ta thử thuật lại ra tiếng ta cho vợ ta em ta nghe xem năm phần còn có được một phần không ? Đương khi các ông gặp được một cái tư-tưởng lạ, lại chẳng nên tự hỏi rằng : tư-tưởng này, ta thử đem diễn ra lời nôm xem mười phần có được một phần không, cái ý-nghĩa của nó sẽ kém đi bao nhiêu, sự sâu sắc của nó sẽ giảm mất chừng nào. Ông tự nghĩ tự hỏi như thế rồi, ông thử cầm bút viết, lần đầu tất còn chưa được thanh-thoát lắm, lần thứ nhì, đến lần thứ ba thì có lẽ năm phần đã đến được ba mà mười phần đã tới đến bảy rồi. Thế là đội văn nôm được thêm một suất tinh-binh, mà trong cái kho thiện-nghiệp của ông cũng được thêm một công-đức mới vậy ! Việc đó tưởng không khó – khăn gì, miễn là có chút hảo – tâm hảo-ý là đủ. Vả các ông cũng có thể tự chắc rằng có công tất có quả, vì một thứ tiếng đã dùng để giãi được tính-tình tâm-sự một cô Kiều không phải là tiếng man-mọi gì mà không thể thành văn được.

    Lại các nhà nho-học, trong khi các ông bình một đoạn văn hay, lời gióng-giả như bài biểu Chư-Cát, giọng dịp-dàng như bài tự Vương-Bột, khí mát-mẻ như bài phú Đông-Pha, tình cảm-động như bài văn Hàn Dũ, lại chẳng nên tự hứa trong bụng rằng : Ta sẽ cố luyện tiếng nôm ta cũng có thể-cách nghiêm-trang như lời văn chữ, để gây lấy một lối từ-chương cho người mình, sau này cũng có thể làm tựa, làm ký, làm tứ-lục biền-ngẫu được như người Tàu. Nếu cái văn-chương mới ấy mà gây-dựng lên được thì công-đức của các ông không phải là nhỏ vậy.



    thiếu 3 trang 61,62,63:rose:









    NGHĨA-VỤ NHÀ LÀM BÁO

    Un journal! une plume! quels prodigiuex leviers de force!

    Một tờ báo! một ngọn bút! còn cái động-lực nào mạnh bằng!..


    (Lời quan Toàn-quyền A. Saurrat, 1917)

    Bài diễn-thuyết của quan Toàn quyền Albers Sarraut ở hội các báo –quán Nam-kỳ ngày tháng mười năm 1917, thật là cái khuôn vàng thước ngọc cho các nhà làm báo trong xứ này.

    Quan Toàn-quyền bình-sinh là một tay viết báo có tiếng bên Quí-quốc, nên ngài vẫn có cảm tình riêng với các nhà báo. Ngài yêu mến nghề báo vô cùng, yêu đến say-mê, đến sùng-phụng, coi là một nghề tuyệt-phẩm ở đời. Suốt bài diễn thuyết của ngài tức là một bài ca ngợi-khen công đức nghề làm báo. Vậy thì nghề báo có cái nghĩa thâm-trầm, cái thú cao-thượng thế nào mà cảm được một bậc tài-trí như thế?

    Cái thú cao-thượng, cái nghĩa thâm-trầm ấy, ngài đã giải ra trong mấy lời hùng-hồn như sau này:

    “Một tờ báo! Một ngọn bút! Còn cái động lực nào mạnh bằng! Người ta ở đời như đứng trong trường sinh-hoạt lớn, nhân-loại đang cố công cùng sức mà tiến lên cõi Công-lý là nơi ai ai cũng nhiệt-tâm mong-mỏi cho tới được, thế mà mình được đem dùng cái động-lực kia để giúp cho lòng hi vọng này, thì trần-gian còn khoái-lạc nào bằng! Trong khi nhân-loại bước tới để cầu lấy sự thực sự hay thì những tư-tưởng này, chủ-nghĩa nọ khởi lên bời-bời, dành nhau kịch-liệt, mình đứng giữa mà tiêu-biểu cho cái lý tưởng nào là chân-chính, khá sáng-tạo được những sự-nghiệp hay, đem phô-bày cho người biết, đem ban-bố trong nhân-quần, lấy mà kích-thích tinh-thần người ta, chiếu-diệu tâm-trí người ta, tự coi mình như người lính thổi kèn để truyền sự thực, báo tin lành, tự coi mình như người quân tiên-phong tay cầm đuốc để chiếu sáng vào trong đám người u-âm sầu khổ, để soi đường cho cái Công-lý nó sắp đến; còn chức-vụ nào đẹp bằng, còn phẩm-giá nào cao bằng, đáng cho một đời người nên tận tụy! Không những thế, trong công-việc hằng ngày, sự chiến đấu hằng giờ, để bênh cho cái quyền-lợi người ta phạm hại, giữ cho cái tự do người ta giày-xéo, biểu cho cái công-đức người ta không biết đến, cáo những tệ lạm của kẻ gian-tham, thiên-hạ đều sợ-hãi không ai dám nói, mà một mình mình nói to lên cho ai ai cũng biết, mình là cái lời ngôn-luận tự-do, mình là cái lương tâm không chịu khuất phục, đứng lên đối lại với cường-quyền nó áp-chế người ta để bênh vực cho kẻ công-chúng, cho kẻ nghèo- hèn, cho kẻ bị áp-bức khốn-khổ, tựa hồ như một tay võ sĩ của thần Công-lý, nghiễm-nhiên là một cái quyền thế đối với quyền-thế của kẻ có quyền, còn chức-trách nào quảng-đại bằng, tôi thử hỏi một đời người còn mục - đích nào cao - thượng bằng cái mục đích ấy nữa không?”

    Quan Toàn - quyền đã cực-tả cái thiên-chức của nhà làm báo như thế, thật là hết lời hết ý, không còn thể nào nói thêm được nữa. Cứ mấy lời ấy mà suy thì biết nghề báo trọng dường nào, mà cái thế-lực của nhà báo mạnh biết bao nhiêu! Thế lực ấy đủ chuyển-dịch được lòng người, thay đổi được cục-diện, rèn-đúc uốn-nắn được cái vật vô-hình vô-trạng gọi là cái “Dư-luận” vậy.

    Bởi đâu mà nhà báo có oai-quyền thế-lực như thế? Bởi nhà báo vừa tiêu biểu mà vừa tạo thành dư-luận trong một nước. Ai nói đến báo là nói đến dư-luận, ai hỏi đến dư-luận là tìm đến báo, báo với dư-luận, dư -luận với báo là lần-lót, là hình-ảnh cho nhau, là tinh-thần là hình-thức của nhau vậy. Vậy thì dư-luận là gì? Lấy lời giản-dị mà giải thì dư-luận là ý-kiến chung của nhiều người, là cái tư-tưởng của công-chúng. Cứ lấy ý-kiến riêng của mỗi người thì dù hay dù phải, hiêu-lực nó cũng là có-hạn mà thôi; họp ý-kiến của nhiều người thì dù sai dù lầm, hiệu-lực nó có thể đến vô cùng vậy. Quần-chúng bao giờ cũng vẫn có sức mạnh, dù cuồng dại cũng mạnh hơn cá nhân. Bởi thế nên từ xưa đến nay các bậc đế-vương lo việc trị-bình trong thiên hạ, đều vụ-lấy được lòng dân làm cốt; được lòng-dân tức là thu được cái sức mạnh của quần chúng. Xưa gọi là “lòng dân”, tức nay gọi là “dư-luận”, chỉ khác xưa dân còn thuần-phác, bằng cả ở cái đức-hóa của các bậc đế-vương, chỉ biết đem lòng trung-thành tin cậy mà phục-tòng; nay dân trí đã mở-mang, biết suy-nghĩ mà xét lẽ phải chăng, điều lợi-hại, không phải cứ yêm yêm thiêm thiếp như xưa nữa. Nhưng dù là “dân-tâm”, dù là “dư-luận”, tên có khác mà sự thật cũng là một, đều là chỉ cái sức mạnh vô-hình của phần đông người trong một nước. Sức mạnh ấy xưa thuộc về “tiêu-cực”, nay bởi lẽ tiến-hóa tự-nhiên, dần dần chuyển ra “tích-cực”. Còn thuộc về “tiêu-cực” thì phải tùy ở số ít người chủ trương đốc-suất; đã chuyển ra “tích-cực” thì có sức mạnh hoạt động, người có quyền, không thể sử lịnh sai khiến được, phải biết khéo châm chước mà lợi-dụng vậy.
    Bởi thế nên trong thời đại-này, thế-lực của dư-luận bành-trướng ra vô-cùng, khiến cho có người gọi đó là “kỷ nguyên của dư-luận”. Lắm nước như nước Pháp nước Anh, dư-luận thật là giữ quyền chúa-tể trong nước, chi-phối cả cuộc sinh-hoạt quốc-dân về chính-trị, xã-hội, kinh-tế.

    Nhưng cái sức mạnh như thế mà để phó mặc tự-nhiên, không đoàn-luyện, không tổ-chức, không sắp-đặt cho có kỷ-luật, phương-pháp thì chẳng qua là cái sức hỗn-độn, vô-tri vô-giác, có ích-lợi gì cho nhân-quần xã-hội? Không những không ích gì mà có khi lại quấy-rối nhân tâm, làm loạn trí não, hại cuộc công-an. Cái công đoàn-luyện, tổ-chức, đặt kỷ luật phương-pháp cho dư-luận ấy là thuộc về ai?

    Chính là công của các nhà báo.

    Lấy cái sức của dư-luận mà rèn-đúc cho dư-luận, khiến cho không tán-mạn đi mà thành một khối bền-chặt, giúp được cho cuộc sinh-hoạt chung của một dân một nước, đó là cái nhiệm-vụ tối-cao của các nhà làm báo. Báo bởi dư - luận mà thành ra, lại có sức biến-hóa được dư-luận: cho hay dư-luận cũng như chất kim-cương, chỉ có mình mới giũa được mình vậy.

    Như thế thì báo vừa biểu được dư-luận mà lại vừa gây nên dư luận, cái thế-lực trong một dân một nước lại chẳng to-tát lắm dư? Bởi thế nên nói ngọn bút tờ báo là hai cái động-lực rất mạnh, khá lấy mà biết-hóa được các nhân-quần xã hội, không phải là nói quá. Bởi thế nên lấy những lời hùng-hồn mà tả cái khoái-lạc tuyệt-trần của con nhà làm báo trong những lúc đua tranh gắng gỏi, hăng-hái vẻ-vang, không phải là vẽ cho ta một cảnh mơ-màng không thực.

    Cảnh ấy quả có thực, nhưng chỉ để riêng cho những người nhiệt-thành về nghề báo, coi nghề báo là một thiên-chức rất cao, mà tận-tâm tận-lực làm cho trọn cái thiên-chức ấy.

    Ấy nghề báo có cái nghĩa cao, cái thú lạ, cái sức mạnh như thế. Vậy nên dùng thế nào cho phải đường, cho được việc? Như xét riêng về nước ta thì nhà viết báo ở nước Nam ngày nay phải làm thế nào cho xứng-đáng cái nghĩa-vụ của mình?

    Quan Sarraut khuyên các nhà làm báo nên tự nhiệm cái trách giáo-dục cho dư-luận trong nước. Như trên kia đã nói cái thế-lực của dư-luận mạnh là dường nào, thì đủ biết công giáo dục ấy không phải là không quan-trọng. Nhưng nước ta xưa nay chưa từng có dư-luận bao giờ, hoặc là cái dư-luận chửa thành-hình. Ta phải gây lấy một nền dư luận trước đã. Việc đó không phải là việc dễ. Dân ta đương vào buổi dở-dang, mới cũ giao nhau, khó lòng mà biết được cái ý-kiến chung của quốc-dân thế nào. Phàm những vấn-đề quan-trọng ngày nay, thuộc về chính-trị, giáo-dục, kinh-tế, xã-hội, mỗi người xét ra một cách, mỗi người hiểu ra một đường, mà phần nhiều người thì hãy còn mang nhiên chưa giải đầu-đuôi ra sao cả. Ấy là nói hạng thượng-lưu trí-thức, còn các giai-cấp khác thì trình-độ còn kém nữa. Như thế mà muốn hội ý-kiến phần nhiều người để gây thành một mối dư luận chung có thế-lực trong nước có thể ảnh-hưởng đến các công việc lớn để khuynh-hướng dân-tâm dân-trí về một đường nào, thì thực là khó thay.

    Tuy vậy, nếu biết thi-thố cho phải đường, cũng có thể thành-công được. Cốt nhất là nhà báo phải định một chương-trình phân-minh, lập một chủ-nghĩa nhất-định, rồi cứ thi-hành cái công “giáo-dục” theo một chương-trình, một chủ-nghĩa ấy. Đương buổi quốc-dân còn phân-vân chưa biết theo đường nào là phải, ta nên suy-xét trước sau mà quyết định lấy một cái đường lối chính-đáng, cứ thế mà đi, không hề thay đổi. Phàm lập-ngôn khởi-luận cũng cứ theo một đường ấy, khiến cho quốc-dân hằng phải chú-ý vào đấy, rồi tất có ngày khuynh-hướng mà theo vào với ta. Như thế dần dần gây nên một cái “tư-trào”, trước còn nhỏ, sau lớn lên, gồm cả những người cùng một ý-kiến, cùng một tư-tưởng như mình, tức là nhóm thành một dư-luận về sau vậy. Đến khi cái dư-luận ấy đã đủ có thế lực thì bấy giờ mới có thể mong ảnh-hưởng đến cuộc sinh-hoạt trong nước, mà giúp cho thực-hành được những sự nghiệp hay.

    Nhưng hiện nay dư-luận chưa thành, trách-nhiệm của nhà báo lại càng trọng lắm nữa. Buổi này mới là buổi nên sức thi-hành cái công giáo-dục như quan Saraut đã khuyên ta trong bài diễn-thuyết.

    Dân Việt-Nam ngày nay thực là đương gặp một cảnh-ngộ đặc biệt. Vốn là một dân cổ, từ xưa vẫn có một nền văn-minh học-thuật riêng, đủ sinh-tồn phát-đạt trong một cuộc lịch-sử mấy nghìn năm; hốt-nhiên phải ra đối-đãi với một thế-giới mới, xưa nay chưa từng biết bao giờ, thành ra mang-nhiên không hiểu một tí gì, nhất-thiết phải học cả, như người học-trò mới vào trường vậy. Nhờ công khai-hóa của Bảo-hộ, có một số người ở các nơi thành-thị, học-tập các trường tây, giao-tiếp với người Tây, cũng đã tạm có chút trí-thức tân-thời. Nhưng chẳng qua là một thiểu-số mà thôi. Còn phần nhiều người trong quốc-dân, trình-độ hãy còn kém lắm, chưa hiểu được chính-sách mới, chưa rõ sự lợi-hại của mình, chưa lý-hội được những sự mưu-toan của chính-phủ thế nào. Vậy thì cái nhiệm-vụ tối-thiết của các nhà báo hiện nay là phải làm người đứng giữa mà giãi-bày ban-bố những công-việc của Chính-phủ cho cái phần đông người đó được biết, cùng thay mặt quốc-dân mà trình bày cho Chính-phủ rõ chân-tình trong nước và những điều sở-nguyện của dân. Nếu các nhà báo biết khéo điều-hòa trên dưới mà làm trọn được cái nhiệm-vụ ấy thì công giúp cho chính-trị không phải là nhỏ vậy.

    Nhà báo không những là có thể giúp cho chính trị hiện-thời, mà lại còn có thể mở đường cho chính-trị tương-lai nữa. Bởi sao vậy? Như trên kia đã nói, dân ta là một dân đương biến-cải, mỗi ngày tất một khác, mỗi ngày tất xuất-hiện ra những vấn-đề mới cần phải giải quyết cho xuôi. Nhưng nếu đợi cho đến khi những vấn-đề ấy đã xuất-hiện ra rồi mới tìm đường giải-quyết thì kịp sao được? Đã hay rằng trách nhiệm của nhà chính-trị là phải dự-liệu trước mọi việc, nhưng nhà báo được trực-tiếp vơi dư-luận, cũng phải dọn đường mở lối sẵn thì nhà chính-trị mới thi thố được ích lợi. Như thế thì công của nhà báo đối với tương-lai chẳng to tát lắm dư ?

    Nước Nam ta sau này hay hay dở, các nhà báo cũng có phần vào đấy. Nếu ta biết khéo dùng cái động-lực rất mạnh là tờ báo ngọn bút kia, mà gây thành được một dư-luận sáng suốt khôn-ngoan, thông-hiểu tình-thế, giúp được cho cái công tiến-hóa về chính-trị của quốc-dân, thì mới thực là xứng-đáng với lương-tâm cùng thiên-chức của nhà nghề vậy.

    (1917):rose: