05. Trang 075 - 089 - @xuan_an_221 (đã soát xong)

6/1/16
05. Trang 075 - 089 - @xuan_an_221 (đã soát xong)
  • KHÁI –LUẬN VỀ VĂN-MINH HỌC-THUẬT NƯỚC PHÁP

    Văn-minh học-thuật một nước là tiêu-biểu cho tinh-thần nước ấy. Tinh-thần ấy phát-hiện ra nhiều cách, nhưng rút lại có mấy cái đặc-tính nó phân-biệt nước ấy với các nước khác, khiến cho nước ấy có một cái hình-dạng riêng trong vạn-quốc, một cái địa-vị riêng trong thế-giới. Phàm các nước lớn đời xưa đời nay, đã có ảnh-hưởng đến cuộc tiến-hóa của nhân-loại, đều có một cái tinh-thần riêng như thế cả. Tinh-thần ấy cũng tức như nhân cách của từng người vậy. Nhân-cách mỗi người một khác, phát-hiện ra ở cách tư-tưởng cảm-giác, xự cư-sử hành-vi của mỗi người. Tinh-thần một nước cũng vậy mà phản-chiếu vào văn-minh học-thuật của nước ấy. Vậy muốn lý-hội được tinh-túy một văn-minh học-thuật nào, tất phải hiểu cái tinh – thần riêng của nước đã tạo-thành ra văn-minh học-thuật ấy.

    Nay thử hỏi các nhà tây-học nước ta, sau khi đọc xong một quyển sách hay bằng chữ Pháp, sách văn-chương hay sách nghị-luận, sách tiểu-thuyết hay sách nhàn-đàm, thì cảm-giác ra làm sao? Tất ai ai cũng từng nhận rằng cái cảm-giác ấy có một hứng-vị, một phong-thú riêng, không thể giải được, êm-đềm mà vui-vẻ, nhẹ nhàng mà thiết-thực, thơm-tho mà mặn-mà; cái hương, cái sắc, cái điệu, cái tình nó có một vẻ thiên-nhiên mà đườm-nhuận, thanh-tao mà đậm-đà, thực xưa nay ta chưa từng được thưởng-thức bao giờ. Cảm-giác ấy tuy không nói rõ ra lời được, nhưng phàm ai đã nếm mùi văn-chương Pháp đều thấy phảng-phất như thế cả. Bởi đâu mà văn-chương nước Pháp có cái sức cảm-hóa sâu-xa mà đặc-biệt như thế? Bởi cái tinh-thần riêng của nước Pháp vậy.

    Giải rõ được cái tinh-thần ấy, phát-biểu được cái đặc-tính của nó, không phải là một việc dễ. Tất phải am-hiểu tính-tình tư-tưởng người Pháp, thông-thuộc văn-chương xã-hội nước Pháp, lý-hội lịch-sử hiện-tình dân Pháp, mới có thể nghị-luận một cách xác-đáng được. Chúng tôi không dám tự-phụ có đủ tư-cách như thế. Nhân mới được đọc một bài luận rất hay về “Văn-minh nước Pháp” (La civilisation francaise) của một danh-sĩ bên quí-quốc, ông Victor Giraud ([1]), thấy lời-lẽ thực là ứng-hợp với cái cảm-giác lúc bình-thời, tựa-hồ như cái mình vẫn ám-giải một cách phảng-phất xưa nay, nay có người đến chỉ-thị, diễn-thích, phát-minh cho rất tinh-tường, khám-phá được nhiều điều hay lẽ thực về văn-minh học-thuật nước Pháp. Vậy tưởng không gì bằng tóm-tắt đại-ý ra sau này, bàn thêm vào, để giúp cho học-giả trong nước ta hiểu rõ cái tinh-thần một nước đã có tiếng là nước đàn anh, trên trường văn-minh thế giới.

    Trong bộ tiểu-thuyết trứ-danh của một văn-hào Pháp ngày nay, có kể chuyện một người thiếu-niên châu Alsace lòng nhiệt-thành yêu-mến tổ-quốc Pháp, có cái chí cao-thượng muốn thờ tổ-quốc một cách đặc-biệt, khiến cho người Đức cũng phải cảm-phục. Bèn quyết-chí ở đất Alsace, không xin về nước Pháp, đến tuổi binh-dịch lại nhận đăng làm lính với Đức, tự nghĩ rằng: mình là con nhà Pháp-lan, đại biểu một lối văn-minh cao-thượng, lạc loài ở cùng với giống người thô-bỉ cường-bạo, cái nghĩa-vụ của mình là phải ở chốn nhượng-địa này, như người lính canh bờ cõi, để giữ cho văn-minh tổ-quốc, phát-biểu văn-minh ấy ra mà cảm hóa bọn thô-bỉ kia. Một năm trời ở trong trại quân Đức, thực là được lòng đủ mọi người, quan trên yêu, bạn bè phục, xử với ai cũng rất nhã-nhặn đến, lúc mãn-khóa ra về, ai nấy đều tiếc; khi từ-giã viên đội Phổ già coi mình trước thì được tin con gái lão vừa mới chết, bèn đi mua ngay một vòng hoa sắt đến viếng. Hai vợ chồng lão đội thấy anh ta sắp biệt mình mà còn xử tử-tế như thế, rất cảm-động trong lòng mà nói rằng: “Phải chịu rằng người nước Pháp có nhiều nhân-đạo hơn người nước khác.”…

    Một câu của lão đội già nước Đức ấy thực là tóm tắt được tinh-thần đặc-sắc của văn-minh nước Pháp.

    Dân Pháp xưa nay vẫn là có nhân-đạo phong-phú hơn các dân khác. Trong các dân các nước đời xưa đời nay, có lắm dân còn hiển-hách hơn dân Pháp nhiều. Nhưng có lẽ chưa thấy dân nào có cái mầu-vị nhân-đạo đằm-thắm bằng người Pháp vậy.

    Thi-nhân Pháp đã có câu thơ rằng:

    Plus je suis Francais, plus je me sens humain

    (Tôi làm người Pháp bao nhiêu, là làm người bấy nhiêu).

    Người các nước khác thì thường càng gần “quốc-túy” bao nhiêu, càng xa “nhân-đạo” bấy nhiêu, vì quốc túy là đặc-biệt, mà “nhân-đạo” là phổ-thông. Xem như nước Đức: người Đức càng là người Đức bao nhiêu thì lại càng cách xa với nhân-loại phổ-thông bấy nhiêu, vì cái nghĩa của người Đức không phải là cái nghĩa của loài người, quyền-lợi riêng của người Đức không giống quyền-lợi chung của thiên hạ, càng sai-biệt bao nhiêu thì lại càng xa cách bấy nhiêu. Đến như người Pháp thì có cái đặc-tính quan-sát mọi sự mọi vật theo phương-diện chung hơn là phương-diện riêng theo lẽ thông-thường hơn là lẽ đặc-biệt, thành ra người Pháp càng thâm phần quốc-túy bao nhiêu lại càng gần với “nhân-đạo” bấy nhiêu. Cho nên nói người Pháp có nhiều nhân-đạo hơn các người khác là thế.

    Nhân-đạo là gì? Nhân-đạo tức là cái người ta sở-dĩ là người ta vậy. Muốn nói giản-dị hơn thì nhân-đạo là cái cách làm người, cái đạo làm người theo một lý-tưởng thông-thường cho cả loài người.

    Trong thế-giới này không có dân nào thi-hành cái đạo làm người một cách thông-thường phổ-cập như dân Pháp.

    Cả văn-minh học-thuật nước Pháp đều là tiêm-nhiễm một cái mầu nhân-đạo ấy cả. Muốn chứng rõ điều ấy thì phải xét kỹ về bốn phần-tử lớn tạo-thành ra văn-minh một nước: 1) văn-chương; 2) triết-học; 3) tôn-giáo; 4) lịch-sử.

    Ông Giraud xét lần lượt bốn bộ-phận ấy một cách rất tinh-tế, diễn thích phân-minh, luận-chứng thâm-thiết, lời văn bình-dị mà hùng-hồn, nét bút tả-thực mà văn-hoa, thuật-giả tiếc không thể thu được cái hứng-vị của nguyên-văn qua lời nôm sốc nổi.

    II

    Trước hết xét văn-chương, Tác-giả nói:

    “Văn-chương là hình-ảnh của tinh thần riêng, tính-chất riêng của một dân một nước, mà là hỉnh-ảnh tự nhiên hơn cả.

    “Nói rằng văn-chương nước Pháp có nhiều nhân-đạo hơn các văn-chương đời nay thì thiết tưởng chỉ xét qua văn chương các nước khác là đủ biết vậy. Như văn-chương nước Nga thì thiên trọng về thần-bí, văn-chương nước Anh thì nhiều thi-vị, văn-chương nước Đức thì nhiều triết-lý, văn-chương nước Tây-ban-nha thì nhiều tưởng tượng hơn văn-chương Pháp. Nhưng so-sánh với các văn-chương ấy thì văn-chương Pháp có nhiều nhân-đạo hơn. Các nhà làm văn Pháp chỉ tư-nghị đến người ta trước nhất cả, chỉ chủ hình-dung tả-mạc con người ta trong tình-cảnh, tâm-tính, ý-tứ của mỗi người. Phàm những vấn-đề xét đến là những vấn-đề quan-hệ với người ta cả, hoặc thuộc về đạo-lý, hoặc thuộc về xã-hội. Bao giờ cũng là chủ ý về đạo xử-thế chung của một đoàn-thể. Mà các nhà văn ấy trước-thuật cũng là chỉ vị người ta, muốn trực-tiếp với người ta, mà cốt nhất là cái người hiển-nhiên trông thấy, chứ không phải cái người lỗi-lạc đặc biệt, tức là người trung-bình mà không phải là người siêu-việt. Vậy lời văn cốt bình-thường cho người ta dễ hiểu, ý-tứ cốt giản-dị cho người ta thấu được. Nói rút lại thì mục-đích cốt yếu của các nhà văn ấy là dạy-dỗ, khuyên-răn người đời, truyền-thụ cho người ta cái nhân-đạo vậy. Bossuet ngày xưa có phê-bình các thi nhân Hy-lạp mấy câu rằng: “Sách vở của các bậc ấy vừa có cái vẻ vui-thú mà vừa có cái vẻ nghiêm-trang. “Các ngài chỉ tán-tụng những công nghiệp có ích lợi cho đời người ta, chỉ vụ việc công-ích, ích cho nước nhà, ích cho xã hội, thực là có cái khí-vị thuần-lương vậy.” Mấy câu ấy dùng để giải-nghĩa văn-chương nước Pháp tưởng cũng không phải là không đúng.”

    Tác giả đã giải-thích tính-cách chung của văn-chương Pháp như thế rồi, bèn cử từng thời-đại, từng văn phái mà bàn cho rõ thêm ra.

    Hai thời-đại trứ danh nhất trong văn-học sử nước Pháp là thế-kỷ thứ 17 và thế-kỷ thứ 18. Hai thế-kỷ ấy có khác nhau mà có giống nhau. Thế-kỷ thứ 17 là đời cổ-điển, thế-kỷ thứ 18 là đời cách-mệnh. Nhà văn đời cổ-điển chỉ vụ nghiên-cứu tâm-lý người ta. Cho người ta là một «giống rất phù-phiếm, uyển-chuyển, phức-tạp» (être merveilleuse-ment vain, ondoyant et divers), nên phải xét nghiệm thật kỹ, cho tỏ tường được hết các khóe ăn-ở mà tìm cách răn-dạy. Vì các nhà ấy đã thông-tỏ tâm-lý người ta mà biết rằng người ta «tính bản ác», nếu không kiềm-chế những cái vật-dục bất-lương, thì xã hội không thể sinh tồn được. Bởi thế các nhà ấy lấy sự duy-trì xã-hội làm mục-đích, vì xã-hội có duy trì được, lòng người có kiềm-chế được thì người ta cùng xã-hội mới được an-toàn. Nói rút lại thì văn-chương thế-kỷ thứ 17 là văn-chương cảnh-thế, văn-chương dạy đời, chủ sự lợi ích cho xã-hội nhân-quần, tức là một pho tâm-lý, một bài luân-lý thực-hành vậy.

    Thế-kỷ thứ 18 cũng là vụ cầu cho người đời được sung-sướng. Các nhà làm văn đời cách-mệnh cũng chỉ nghiên-cứu một cái vấn-đề về sự hạnh-phúc của người ta, nhưng khác người đời trước, là đời trước lấy cái hạnh-phúc của sự kiềm-chế, đời này lấy cái hạnh-phúc ở sự tự-do, đời trước chủ sự duy-trì, đời này trọng đường cải-cách. Đời trước chủ cái thuyết «tính bản ác», đời này chủ cái thuyết «tính bản thiện». Người đời đã tính vốn lành thì mọi sự khổ ở đời là bởi xã-hội cả, xã-hội đã không ra gì thì phải phá đổ xã-hội đi, mà hồi-phục lấy cái bản-tính của người ta lúc sơ-sinh. Bởi thế nên các nhà văn thường công kích xã-hội, mà tán-tụng đời cổ-sơ là cái «hoàng-kim thời-đại» của loài người. Như vậy thì hai cái tư-trào của thế-kỷ thứ 17 và thế-kỷ thứ 18 thật là trái ngược nhau hẳn. Nhưng xét kỹ có lẽ tôn-chỉ cũng là giống nhau. Hai thời-đại tuy xét người đời ra hai phương-diện khác nhau, song đều là mưu-cầu cho người ta được hạnh-phúc, đều là thiên-trọng về nhân-đạo cả.

    Đã cai-quát hai thế-kỷ lớn trong văn-học-sử, lại bắt đầu từ khi mới có văn-chương cho đến cận-đại, lục ra những sách nào là lưu-truyền hơn cả mà xét xem sở-dĩ làm sao được lưu-truyền như thế, thì thấy những sách ấy đều là diễn-giải về nhân-đạo một cách tuyệt-phẩm cả. Kể từ sách «Roland anh-hùng ca» (La Chanson de Roland) là áng văn chương cổ nhất của nước Pháp, đến tuồng Le Cid của Corneille, đến tập «Tư-tưởng lục» (les Pensées) của Pascal, những bi kịch của Molière, sách «Vạn-pháp tinh-lý» (L’Esprit des lois) của Montesquieu, cho đến thơ Lamartine, tiểu-thuyết George Sand, cho đến những bài phê-bình của Sainte-Beuve, tuy thể văn phong-phú như thế, mà rút lại tôn-chỉ cũng là một, là mô-tả con người ta ra đủ mọi cách, trong đủ mọi cảnh: khi sướng, khi khổ, khi vui, khi buồn; lúc khôn-ngoan, lúc khờ-dại; lúc khao-khát những sự vô-hạn, lúc mưu-toan những việc trị bình; lúc khổ vì cái ái-tình uốn-éo, lúc than vì thế-sự ngặt-nghèo…

    Như vậy thì từ xưa đến nay, phàm những sách hay trong văn chương Pháp, được người đương-thời cảm-phục, hậu-thế suy tôn, chính là những sách giàu về nhân-đạo cả. Văn-chương Pháp có nhiều nhân-đạo, vì văn-chương Pháp chủ nghiên-cứu về người ta, mà trọng nhất là những vấn đề quan-hệ đến người ta, đến sự hạnh-phúc ở đời, đường xử-thế cùng vận-mệnh của người ta. Thi-nhân La-mã đời xưa có câu thơ rằng: «Tôi là người, phàm cái gì quan-hệ đến người ta không phải là không quan-hệ đến tôi». Câu thơ ấy thực là tiêu-biểu cho tôn-chỉ văn-học Pháp.

    Xưa nay người ta vẫn khen văn-chương Pháp có ba tính-cách hay nhất: một là phân-minh, hai là giản dị, ba là thành-thực. Ba tính-cách ấy cũng là bởi cái tôn-chỉ nhân-đạo mà ra cả… Người Anh, người Đức, người Ý, coi văn-chương là một món thưởng-thức, dùng văn-chương hoặc để diễn cái mộng riêng của mình, hoặc làm món tiêu-khiển cho mình. Người Pháp làm văn vị người hơn là vị mình, cầm ngòi bút viết là muốn nói gì cho người đời nghe cả. Vậy cốt nhất là cho người ta hiểu mình. Nên phàm xướng ra tư-tưởng gì, không phải cứ mộc-mạc thế, gạn-lọc lấy tinh-hoa rồi mới diễn ra thành lời; lời văn ấy cũng không phải là cẩu-thả, thật là chải-chuốt trau-dồi cho rất vắn-tắt, rất giản-dị, rất phân-minh, nói lên nghe ra ngay, không phải mất công khó nhọc mới hiểu được. Bởi văn Pháp có cái đặc-tính như thế nên xưa nay đã được cái danh-dự dùng làm văn chính-thức trong các công văn điều ước quốc-tế, không phải là không xứng-đáng vậy.

    III

    Nay xét đến triết-học.

    Muốn phát-biểu cái đặc-tính của triết-học nước Pháp, không gì bằng so-sánh triết-học Pháp với triết-học Đức. Nước Đức xưa nay vẫn tự phụ là sở trường về triết-học. Cứ hình-thức mà xét thì triết-học Pháp trái hẳn với triết-học Đức. Nước Đức lấy triết-học làm khoa chuyên-môn, chỉ một số ít người chuyên-trị, học riêng với nhau, không trực-tiếp với người ngoài, và không từng đem tư-tưởng của mình đối-chiếu với thực-tế, so-sánh với lẽ phải giữa đời. Bởi thế nên triết-học của Đức có vẻ u-âm huyền-bí, khi cao thì siêu-vệt quá mà biến ra mây ra khói cả, khi thấp thì thô-sơ thiển-cận, cứng-cỏi sỗ sàng.

    Triết-học Pháp khác hẳn. Người Pháp lấy triết-học là một món phổ-thông chung cho cả mọi người có học-vấn, có trí thức. Phàm làm người, ai cũng có tư-cách biết suy-nghĩ, biết tư-tưởng, vậy thì ai cũng có thể lĩnh-hội phán-đoán về chân-lý được. Nhà triết-học nghiên-cứu về chân-lý, sở-đắc điều gì, phải đem công-bố ra cho mọi người biết, không phải là để nghiền-ngẫm trong một bọn chuyên-môn với nhau. Bởi thế nên phần nhiều nhà triết-học Pháp đều là nhà văn hay cả, vì muốn truyền-bá tư-tưởng của mình cho đắc-lực, tất phải biết khéo diễn-giải ra cho người ta dễ nghe và dễ hiểu. Thực là trái hẳn với nhà triết-học Đức, thường dùng một lối văn kỳ khu trắc-trở, ngoài bọn nhà nghề ai xem cũng phải chán.

    Triết-học Pháp lại còn có một đặc-tính nữa, là thường tiêm-nhiễm cả các môn học khác. Nhà triết-học thường kiêm văn-học, nhà văn-học cũng không mấy khi là không có tư-cách triết-lý. Những văn-hào như Bossuet, Voltaire, Lamennais, Taine, Renan có thể liệt bằng-đẳng với các nhà triết-học trứ-danh được. Ngoại-giả đến những nhà văn thuần-túy như Corneille, Molière, Racine mỗi nhà cũng có một cái «triết học» riêng, nghĩa là một cái quan-niệm về vũ-trụ, về nhân-sinh, triết-học ấy tản-mạn trong khắp văn-chương của mỗi nhà.

    Triết-học Pháp cũng tiêm-nhiễm cả khoa-học nữa. Lệ thường ở nước Pháp nhà triết-học bao giờ cũng có cái học «cách-vật tri-tri» tức là kiêm cả khoa-học; lắm bậc triết-học đại-gia lại vừa là tay lý-học trứ-danh nữa, như Descartes, Pascal, Auguste Comte, Cour-not, Claude Bernard, Henri Poincate. Khoa-học triết-học tiêm-nhiễm nhau như thế, lợi cả hai đàng. Nhà triết-học trong khi nghiên-cứu về nguyên-lý, lấy thực-tế làm căn-cứ, không sợ tư-tưởng những sự hoang-đường. Nhà khoa-học trong khi nghiên-cứu về vật-chất, lấy nguyên lý làm tôn-chỉ, không sợ mê-man những sự phiền-toái.

    Một cái đặc-tính nữa của triết-học Pháp, là không ưa những lối độc-đoán. Ngồi không mà kết-cấu những «lâu-đài tư-tưởng», không nương tựa vào cái gì chắc-thực, không căn-cứ vào cái gì vững-vàng, ấy là lối các nhà triết-học Đức. Nhà triết-học Pháp thì chỉ chủ sự thiết-thực. Không phải rằng không có tài kết-cấu bằng người Đức: Descartes nước Pháp có kém gì Kant nước Đức, Auguste Comte có kém gì Hegel ? Nhưng người Pháp không lấy học-thuyết của mình mà tự bó-buộc mình, làm như cái ngục để giam mình vào đấy, không dám vượt ra ngoài mà xét sự-vật ra phương-diện khác. Người Pháp ưa tự do, biết rằng chân lý có năm bảy đường tới được, đường nào cũng là chính-đáng cả, không bắt ai phải theo một đường nào. Bởi thế nên triết-học nước Pháp có cái tính thiết-thực hơn triết-học nước khác.

    Nói rút lại thì các nhà triết-học Pháp kỵ nhất là những tư tưởng hoang-đường, mà trọng nhất là những vấn-đề thiết-yếu cho người ta. Trong các lẽ huyền-vi của trời đất, các nhà ấy chú-trọng về tâm-lý người ta. Cho rằng hễ giải được các mối huyền-vi ấy, là giải được nghĩa đời người. Thế chẳng hơn là lấy tư-tưởng làm quân cờ mà đem chọi nhau trên cái bàn cờ vô-hình dư? Thế chẳng hơn là lấy tư-tưởng làm viên gạch, mà chồng-chất lên để xây cái lâu-đài trên bãi cát dư ?

    Tác-giả nói : «Dạy cho người ta biết làm người, làm người cho hoàn toàn, châu-đáo, nhân-tâm thế nào thì coi như thế, đừng quá trọng mà cũng chớ quá khinh, đừng suy-tôn quá mà cũng chớ hạ-miệt hoài; phải nhận biết cái giới-hạn của nó, phải phát-triển cái tiềm-lực của nó, phải điều-hòa sự phản-trái của nó; ấy là tôn-chỉ của triết-học nước Pháp từ xưa đến nay, tôn-chỉ ấy các nhà triết-học Pháp đã truyền-bá ra khắp thế-giới. Trong thiên-hạ còn có những lý-tưởng cao-siêu hơn; không đâu có cái lý-tưởng, khôn-ngoan, nhũn-nhặn mà rộng-rãi bằng?»

    Nói tóm lại thì triết-học Pháp cũng như văn-học, cũng có tính-cách thuộc về nhân-đạo vậy.


    ([1]) Ông là một nhà “phê bình” có tiếng ở nước Pháp. Nguyên dạy văn-chương pháp ở trường Đại-học Fribourg, nước Thụy-sĩ. Ông làm bài luận về Văn-minh nước Pháp này, đã từng được hội Hàn lâm ban “phần thưởng hùng biện” (prix d’éloquence) năm 1916. :rose: