06. trang 169-190 - tulip - done

21/7/15
06. trang 169-190 - tulip - done
  • 6. Công và Tư

    1) Mọi chuyện bắt đầu từ cách xưng hô

    Đối với những người nước ngoài học tiếng Việt, hệ thống đại từ nhân xưng của chúng ta là một sự thách đố: anh-em, anh-tôi, cậu-tớ, mày-tao, chú-cháu, bác-cháu, cô-cháu, mình-ta... Trận đồ bát quái này thật sự không có lối ra. Và bạn sẽ còn tiếp tục xưng "tôi" với thủ trưởng của mình cho đến khi bạn cảm nhận được nền văn hóa của người Việt với tất cả sự phong phú và tế nhị của nó.

    Đối với người Việt chúng ta, vấn đề cũng chẳng đơn giản hơn chút nào. Dưới đây là nghịch lý mà ai cũng biết: Bạn không thể gọi một thủ trưởng ít tuổi hơn mình bằng "em". Ngược lại, nhiều khi đáng tuổi bác thì vẫn phải gọi người ta là "anh" ("Anh trông trẻ hơn bố của em nhiều!") Cách xưng hô như vậy mang đầy thiên kiến, ước lệ và đẳng cấp. Nó cũng bắt nguồn từ một đặc điểm trong tâm lý của dân tộc: đưa quan hệ gia đình, làng xóm vào quan hệ công. Ngày xưa, vua, quan đã từng là bậc cha mẹ của dân, đi đâu thét một tiếng thì dân, lính, thuộc hạ đều dạ ran. Người dưới thưa lên thì một "bẩm quan", "bẩm ông", "bẩm cụ"... Từ sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta đã có những cố gắng to lớn để xóa bỏ các tàn dư văn hóa cũ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy lòng quyết tâm và các phong trào văn hóa chẳng giúp ích được gì nhiều trong việc đổi mới cách xưng hô và lối sống duy tình của người Việt. Và sự lẫn lộn giữa Công và Tư trong hoạt động công quyền là nguyên nhân sâu xa của không ít những vấn đề nan giải hiện nay.

    2) "Khôn ngoan đá đáp người ngoài..."

    Tham nhũng là chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi". Thực tế, chúng ta không chỉ nói, chúng ta đã làm rất nhiều việc. Nhưng, có vẻ như chống tham nhũng đang thật sự là một kiểu "chiến đấu chống lại cối xay gió". Có nhiều nguyên nhân của tình trạng thừa quyết tâm, thiếu hiệu quả này, trong đó có sự lẫn lộn giữa Công và Tư.

    Ở một số nước phương Đông như nước ta, chủ nghĩa gia đình trị có cơ hội len vào các cơ quan công quyền, dẫn đến tình trạng "dây mơ, rễ má" mịt mùng, trong tình trạng như vậy, ít ai dại gì lại đi làm cái việc "rút dây" để hứng lấy cái sự "động rừng" chưa biết sẽ như thế nào. Nếu phân định Công - Tư một cách rạch ròi, chắc rằng nhiều trường hợp tham nhũng sẽ có ít cơ hội để xảy ra, và khi đã xảy ra, người ta cũng sẽ dễ dàng hơn về mặt tâm lý, tình cảm trong việc quyết định "xử trảm". Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, hầu như các nước bị nạn tham nhũng hoành hành là những nước thường có truyền thống quan hệ huyết thống hoặc cộng đồng khăng khít, mạnh mẽ như: Trung Quốc, Indonesia, nhiều nước châu Phi... Và ngay cả trong số những nước phát triển cao, đặc điểm này cũng có thể nhận thấy ở Italia (quan hệ gia đình ở nước này cũng rất chặt chẽ), Hàn Quốc...

    3) "Một giọt máu đào hơn ao nước lã"

    Sự lẫn lộn giữa Công và Tư cũng góp phần không nhỏ vào việc làm cho quá trình cải cách hành chính "giậm chân tại chỗ". Ngoài nhiều nguyên nhân khác, cải cách hành chính ở nước ta gặp trở ngại lớn còn vì tâm lý gia đình ăn sâu vào tâm thức của nhiều công chức. Như đã nói, họ hoặc tự coi mình là bậc con cháu, còn thủ trưởng, cấp trên là bậc cha chú, hoặc ngược lại.

    Hơn thế, chủ nghĩa gia đình trị (khác với tâm lý gia đình) đang len sâu trong các cơ quan công quyền, khi không ít các quan chức tụ tập, quây quần quanh mình những người thân trong gia đình, họ tộc (giống với kiểu "chi bộ họ ta"). Câu nói "một người làm quan, cả họ được nhờ" vẫn còn là sự thật hiển nhiên. Cũng như đối với việc chống tham nhũng, trong cải cách hành chính, chủ nghĩa gia đình trị làm cho các vấn đề Công - Tư trở nên nhập nhèm, nan giải. Quan hệ hành chính - vốn là quan hệ công quyền, lại bị những mối thân quen rất riêng tư chi phối. Nghịch lý gốc này làm nảy sinh những nghịch lý con như: cấp dưới vì là bậc con cháu nên không dám phê bình, lật ngược vấn đề mà chỉ biết phục tùng, hoặc im lặng; ngược lại, cấp trên vì là bậc cha chú nên cũng nương nhẹ, cả nể, bao che đối với sai phạm của cấp dưới.

    Vì coi Công là Tư, nhiều quan chức cứ nghĩ một cách đơn giản rằng chức vụ cho phép họ ban phát "lộc quan". Biểu hiện dễ thấy là dành ưu tiên cho các cá nhân có quan hệ thân quen. Vì vậy, nhiều công ty có tiềm năng đã không nhận được hợp đồng; nhiều người có tâm, có tài không được tuyển dụng. Hậu quả tiếp theo là động lực của nền kinh tế thị trường bị triệt tiêu (Triết lý của thị trường là kẻ mạnh phải thắng. Không có những "kẻ mạnh" thứ thiệt, chúng ta sẽ thất bại trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập); năng lực của các cơ quan công quyền có nguy cơ bị suy giảm ("con ông, cháu cha" không phải là tiêu chí để tuyển dụng người tài); công bằng xã hội không được bảo đảm.

    4) "Phép công là trọng, niềm tây sá gì"

    Trên đây là sự lẫn lộn theo kiểu biến Công thành Tư, coi Công là Tư. Thế nhưng, nghịch lý là sự nhọc nhằn có thể nằm ngay cả trong điều ngược lại: áp Công vào Tư, coi Tư là Công. Chúng tôi muốn nói đến việc áp đặt lối tư duy và cách thức quản lý theo mệnh lệnh hành chính vào khu vực tư - vào xã hội công dân.

    Từ xa xưa, khoảng hai nghìn năm trước, người La Mã đã biết phân định luật công và luật tư (dĩ nhiên với những nét đặc trưng của thời đó). Điều đáng nói là họ phân biệt như vậy nhằm mục đích loại bỏ luật công ra một bên. Mối quan tâm của các nhà luật học thời đó được tập trung cho luật tư. Việc xây dựng luật công được coi là vô ích. Thành Roma không có luật hiến pháp lẫn luật hành chính. Luật hình sự thì phát triển chủ yếu nhằm điều chỉnh những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau và do vậy không hoàn toàn thuộc "luật công". Trong nhiều thế kỷ, ở các nước châu Âu lục địa, nơi tiếp tục truyền thống của Luật La Mã, các luật gia đã cẩn trọng gạt luật công sang một bên, vì cho rằng nó lẫn lộn với chính trị và không khác nhiều so với khoa học quản trị hành chính. Nhưng dần dần, các luật gia này nhận thấy mối quan hệ công quyền cần phải được điều chỉnh bằng một hệ thống pháp luật riêng, không giống với luật tư. Và sau Cách mạng 1789, luật công đã bắt đầu xuất hiện. Từ đó, mọi nơi, về cơ bản, chúng ta đều gặp cách chia pháp luật ra thành luật công và luật tư. Lẽ phải hiển nhiên đối với các luật gia thuộc hệ thống này là: những mối quan hệ giữa người cai trị và bị trị đòi hỏi những chế định khác với những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau; lợi ích công và lợi ích tư không thể cùng đưa lên một bàn cân được. Cách phân biệt này không được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law). Từ lâu ở các nước này, người ta đã không công nhận nó về nguyên tắc vì cho rằng nó làm phương hại đến tư tưởng về sự phục tùng của Nhà nước và các cơ quan Nhà nước đối với pháp luật. Nhưng ở những nước này, hai khu vực Công và Tư vẫn được phân định rất rõ ràng.

    Dài dòng một chút với lịch sử pháp luật để thấy sự cần thiết phải phân biệt giữa Công và Tư. Nhưng ở nước ta, một thời gian dài trong cơ chế quan liêu, bao cấp, các cơ quan công quyền đã can thiệp quá sâu vào những quan hệ kinh tế - những mối quan hệ chỉ dựa trên nguyên tắc thỏa thuận hợp đồng tự nguyện. Việc công hữu hóa các phương tiện sản xuất và kế hoạch hóa cao độ nền kinh tế đã làm cho bộ máy quản lý ở nước ta thời kỳ đó có những nhiệm vụ lớn hơn hẳn so với chức năng quản lý đích thực.

    Sai lầm này đã từng bước được khắc phục trong những năm gần đây. Tuy nhiên, không ít tàn tích của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp vẫn còn rơi rớt lại. Đó là tính chất hành chính - mệnh lệnh trong quan hệ giữa các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp; các doanh nghiệp Nhà nước là chủ thể kinh doanh, nhưng trong nhiều trường hợp, không rõ chúng do luật nào điều chỉnh: luật công hay luật tư; việc hình sự hóa các quan hệ dân sự vẫn xảy ra không ít, mà một trong những nguyên nhân vì các cơ quan tố tụng nhiều khi lẫn lộn giữa quan hệ dân sự - kinh tế với trách nhiệm hình sự; quản lý Nhà nước về đất đai cũng đang vướng víu, bùng nhùng giữa Công và Tư...

    Nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền là bảo vệ những quyền tự nhiên của công dân - "những quyền tạo hóa ban cho" khỏi sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan công quyền. Ở đây nảy sinh vấn đề: làm thế nào để không bước qua ranh giới mỏng manh giữa Công và Tư? Mặc dù các cơ quan lãnh đạo, quản lý sự phát triển kinh tế - xã hội vẫn phải có đủ năng lực và thẩm quyền để đưa ra những hạn chế về quyền sở hữu, điều chỉnh các hoạt động chuyên ngành, cấp giấy phép, xét ưu tiên... Nhưng làm thế nào để dung hòa những việc đó với các nguyên tắc tự do và bình đẳng không kém phần quan trọng? Và làm thế nào để bắt buộc những cơ quan này tính đến những lợi ích của cá nhân đã được Hiến pháp bảo vệ mà không làm tê liệt các hoạt động của chúng? Làm thế nào để tòa án do Nhà nước cử ra, nhưng lại thay mặt Nhà nước đưa ra những quyết định độc lập? Làm thế nào để bắt buộc bộ máy hành chính phục tùng và làm theo những quyết định của tòa án? Ở đâu quyền lợi Công cần đặt cao hơn lợi ích Tư? Và ở đâu Tư là bất khả xâm phạm? Đối với đất nước ta hiện nay, đây là lĩnh vực, không khéo, câu hỏi sẽ nhiều hơn câu trả lời. Dẫu sao, để luật công có tác dụng, một nền văn hóa pháp luật và chính trị phát triển là cần thiết. Luật công chỉ thực hiện được khi dư luận xã hội đòi hỏi nhà cầm quyền và bộ máy hành chính phục tùng kỷ luật và sự kiểm tra, giám sát, "khi nhà cầm quyền nhìn nhận ở những người mình cai trị là những công dân, chứ không phải thần dân".

    Trở lại với cách xưng hô của chúng ta, mọi chuyện khen, chê trong bài viết này là nói ra để chiêm nghiệm cho vui. Tiếng Việt là báu vật của cha ông để lại. Nó đã tồn tại hàng ngàn năm nay và sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan của mình, không một ai có thể thay đổi được. Vả lại cũng chẳng cần thay đổi để làm gì. Cái cốt lõi nhất là anh nghĩ gì trong đầu và làm gì? Anh, tôi, mọi người vẫn gọi "sếp" là "anh", "chú", "bác", "cô"... và "sếp" vẫn gọi anh, tôi, mọi người là "cháu", "cậu", "em", nhưng có phải tất cả đều theo chủ nghĩa gia đình trị cả đâu. Có đúng vậy không ạ, thưa các anh, các chị, các bác, các cô?!

    7. Một cửa

    Ít ai có thể nghĩ rằng cải cách hành chính lại gắn bó như vậy với những chiếc cửa. Gắn bó ở cái nghĩa: chúng bị bịt hết cả lại chỉ chừa ra một chiếc mà thôi. Một cửa thì không thể gõ nhầm. Mà không gõ nhầm thì tiết kiệm được thời gian, sức lực và cả thần kinh nữa. Lợi ích thật rõ ràng.

    Về nguyên tắc, một công việc gắn với nhiều cơ quan thì phải gõ nhiều cửa. Vấn đề chỉ là ai gõ mà thôi. Với chính sách một cửa, thì những người phải đi gõ các cửa là các công chức. Và như một tấm huy chương, cách thức mới này cũng có hai mặt.

    Một mặt, các công chức gõ cửa của nhau sẽ dễ dàng hơn và bằng vai phải lứa hơn. Ngoài ra, nếu một quy trình chuẩn được xác lập thì hồ sơ cứ tự động trôi qua các công đoạn mà các công chức cũng không nhất thiết phải làm cái việc gõ cửa.

    Tuy nhiên, mặt khác, tình trạng suy dinh dưỡng về động lực là rất dễ xảy ra. Với hệ thống lương bổng hiện nay, các công chức ít có lợi ích trong việc lao tâm khổ tứ để thúc đẩy công việc. Hơn thế nữa, lợi ích về tinh thần như việc chứng kiến sự hài lòng, vui sướng của người dân khi công việc được giải quyết, họ cũng khó được hưởng (đơn giản là vì người dân không gõ cửa của họ). Thế nhưng, khó khăn nhất là tình trạng các cửa không hiểu hết yêu cầu và đòi hỏi của nhau, đặc biệt là sự không hiểu hết của cửa đầu tiên. Công việc sẽ bị dội trở lại nếu hồ sơ không đúng hoặc không đầy đủ. Và cửa này dội sang cửa kia, đến cửa đầu tiên thì lại dội lại cho người dân. Quá trình dội ngược này có thể lấy đi vô khối thời gian và sức lực của cả hệ thống và của người dân. Tuy nhiên, bắt cửa này phải hiểu hết công việc, của cửa kia, hoặc cửa đầu tiên phải hiểu hết công việc của tất cả các cửa còn lại là khó khăn và chưa chắc đã hợp lý.

    Hậu quả là người dân sẽ nhanh chóng nhận ra: gõ một cửa và gõ một lần là hai việc khác nhau. Và niềm vui cải cách sẽ vợi đi nhanh chóng khi số cửa thì giảm mà số lần gõ thì không (chưa nói đến chuyện một cửa thì xếp hàng chắc chắn sẽ dài hơn).

    Công bằng mà nói, nếu các cơ quan hành chính đều có cửa, và người dân muốn giải quyết công việc đều phải đi qua các cửa đó, thì chính sách một cửa là một cố gắng lớn của các nhà cải cách. Tuy nhiên, bảo đảm động lực cho quá trình cải cách, cũng như xác lập chế độ trách nhiệm của bộ máy hành chính trước nhân dân (hoặc chí ít trước những người đại diện cho nhân dân) là những nhiệm vụ quan trọng hơn và cơ bản hơn.

    Nếu đằng sau một chiếc cửa còn lại vẫn là chừng ấy chiếc bàn, và đằng sau chừng ấy chiếc bàn vẫn là chừng ấy con người, và những con người này vẫn khó đăm đăm khi tiếp nhận hồ sơ, đơn từ, thì sự nghiệp cải cách đã mang lại được chuyển biến gì? Không khéo, nền hành chính ít có thói quen mỉm cười vẫn còn đó. Và chiếc cửa đã không giải quyết được vấn đề.

    8. Chạy

    Giỏi giang không bằng giỏi chạy. Tuy nhiên, giỏi chạy chưa chắc đã được khen. Chạy chức, chạy quyền, chạy dự án... và chạy tội đang chỉ gây phản cảm cho xã hội.

    Chạy chọt thật đáng chê trách, nhưng có những việc không chạy không xong. Và nguyên nhân nằm ngay trong cách thức tổ chức công việc của chúng ta. Xin được nêu một vài ví dụ cụ thể để phân tích.

    Ví dụ thứ nhất: Bạn đã bao giờ phải xin được cấp nước sạch hay cấp điện chưa? Vậy thì bạn hiểu tất cả. Mỗi khi bạn không có các cơ hội để lựa chọn, thì chỉ còn một cách duy nhất là chạy. Chạy thì rất cực, nhưng dầu sao thì ai cũng chạy. Sự tấm tức này được chia đều cho cả xã hội ta. Ngược lại, khi xung quanh bạn là vô số các nàng tiếp thị bia, và nàng San Miguel còn xinh hơn cả nàng Tiger, thì bạn chạy bia để làm gì?

    Các công ty cung cấp nước sạch, các công ty điện lực được sinh ra là để phục vụ. Các công ty bia lại được sinh ra chỉ để kiếm lời. Cả hai loại đều nhằm đáp ứng các nhu cầu của chúng ta. Nhưng hễ cứ "phục vụ" là sẽ khác xa với việc kiếm lời. Những người kiếm lời giàu lên nhờ sự tận tụy đối với chúng ta và sự cạnh tranh với nhau. Những người "phục vụ" ngược lại, chỉ có lợi khi gây khó khăn cho chúng ta và bán giữ được độc quyền. Thế thì tại sao không dẹp bỏ sự độc quyền "phục vụ" và áp dụng cơ chế thị trường trong việc cung cấp dịch vụ công?! Kể cả đối với những dịch vụ khó sinh lãi thì Nhà nước vẫn có thể tạo ra cạnh tranh thông qua việc bù giá trên doanh thu. Làm được như vậy là cách trước tiên để loại bỏ được hiện tượng chạy.

    Ví dụ thứ hai: Nếu bạn là ông chủ của một doanh nghiệp tư nhân, bạn có phải chạy chức giám đốc không? Rõ ràng là không. Với Hiến pháp năm 1992, quyền kinh doanh đã được phi tập trung hóa. Ai cũng có quyền trở thành giám đốc một doanh nghiệp tư nhân, mặc dù không phải ai cũng có năng lực để làm như vậy. Làm giám đốc chỉ để giải quyết khâu oai là rất rủi ro, vì vậy, nhiều khi bạn cần phải thuê ai đó làm giám đốc cho mình. Tuy nhiên, không thể xảy ra chuyện một cô giáo dạy sinh vật (như Lã Thị Kim Oanh) lại chạy được bạn để làm giám đốc, đơn giản là vì khác với các quan chức, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm cho một sự ban ơn như vậy bằng chính tài sản của mình.

    Như vậy, khi quyền quyết định được phi tập trung hóa và gắn với lợi ích cá nhân thì người ta không cần phải chạy và không thể chạy. Làm được như vậy là cách thứ hai để loại bỏ hiện tượng chạy.

    Ví dụ thứ ba: Tại kỳ họp thứ 4 đang diễn ra, lần đầu tiên Quốc hội nước ta đã trực tiếp quyết định việc phân bổ ngân sách cho các ngành ở trung ương và cho các địa phương cấp tỉnh. Việc quyết định phân bổ ngân sách tại Quốc hội sẽ tránh được cơ chế xin - cho và đương nhiên khắc phục được chuyện chạy. Khi mọi chuyện được đưa ra tranh luận một cách công khai thì lý lẽ sẽ quan trọng hơn là chạy chọt. Để cung cấp lý lẽ cho những người ban hành quyết định một loại hoạt động được hình thành gọi là lobby. Nhưng lobby thì không phải là chạy chọt.

    Như vậy, khi chúng ta bàn bạc công khai, dân chủ trong việc chia chức, chia quyền và chia tiền thì lý lẽ cần thiết hơn là quà cáp. Làm được như vậy là cách thứ ba để loại bỏ hiện tượng chạy.

    Chạy vừa là thói xấu, vừa là sự bất đắc dĩ của xã hội ta. Sự phê phán là cần thiết, nhưng chỉ có những cải cách sâu sắc về thế chế mới xóa bỏ được tận gốc hiện tượng xã hội nói trên.

    9. Chức và tước

    Chức và tước là hai thứ khác nhau. Chức là thứ được xác lập trên cơ sở năng lực; tước là thứ được xác lập trên cơ sở công trạng. Thế nhưng người Việt chúng ta lại cứ nói gộp làm một là chức tước. Đây là một sự nhập nhèm cố ý, vì trong cuộc sống, mối quan hệ giữa hai thứ nói trên cũng khá nhập nhèm.

    Trước hết, là tình trạng chức đẻ ra tước. Cứ có chức là tự nhiên có công trạng, chức càng cao thì công trạng càng nhiều. Một giám đốc nhà hát rất dễ trở thành Nghệ sĩ Nhân dân, mặc dù ông/bà ta có thể chưa bao giờ "hát cho đồng bào tôi nghe", chưa bao giờ "biểu diễn cho đồng bào tôi xem". Tước trong trường hợp này thực chất chỉ là một món quà hối lộ hoặc là một sự xu nịnh. Và đây là điều mà cả người đề nghị cũng như kẻ tiếp nhận đều biết rất rõ. Tuy nhiên, biết mà vẫn làm mới chính là sự không may của xã hội ta.

    Hai là, thói quen dùng chức để thưởng công. Một nhà khoa học có nhiều đóng góp thì nên được ban tặng danh hiệu Anh hùng Lao động hơn là chiếc ghế bộ trưởng. Toàn bộ công lao trong quá khứ chắc gì đã bù đắp được những thiệt hại do việc ngồi nhầm ghế gây ra?! Thực ra, nhà khoa học phải có kỹ năng nghiên cứu và khám phá. Vị bộ trưởng phải có tầm nhìn và kỹ năng lãnh đạo. Những kỹ năng này là rất khác nhau. Việc một nhà khoa học có nhiều đóng góp mới chỉ khẳng định được về loại kỹ năng thứ nhất mà chẳng nói gì về loại kỹ năng thứ hai. Vậy thì đưa một nhà khoa học lên làm bộ trưởng thật sự là một kiểu chơi đề. Không phải ai cũng thua đề, nhưng người thắng thật là ít ỏi.

    Ba là, tâm lý thích có chức và đòi được thưởng công bằng chức. Tâm lý thích làm quan có tự ngày xửa ngày xưa. Mọi chuyện cổ tích có hậu đều kết thúc bằng việc nhân vật chính được lên làm vua. Làm vua là phần thưởng lớn nhất cho mọi sự hy sinh phấn đấu. Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem, "làm vua" bao giờ cũng là một công việc. Một công việc thì đòi hỏi người ta phải có năng lực hơn là công trạng. Thế nhưng, sự lẫn lộn này đang xảy ra hết sức trầm trọng trong xã hội ta. Nó làm cho nhiều người mất ăn, mất ngủ: họ cảm thấy bị thiệt thòi và bị "đối xử bất công". Họ khiếu nại, tố cáo và mặt nặng, mày nhẹ với lãnh đạo và đồng nghiệp. Bầu không khí làm việc trong các cơ quan, công sở trở nên hết sức căng thẳng. Để được yên thân, nhiều nơi người ta đã phải sắm thêm những "chiếc ghế mới", mặc dù nhà cửa thì đã chật ních, chẳng còn có chỗ mà để. Rủi ro hơn, những người có năng lực trẻ tuổi đã phải nhường chỗ cho những kẻ ít có năng lực hơn, nhưng lại có quá trình.

    Cuối cùng, sự nhập nhèm nói trên đang làm mất phẩm giá của cả chức lẫn tước. Phân định rạch ròi giữa hai thứ chức và tước là một công việc khó khăn, nhưng cần thiết. Quá trình này phải diễn ra trước hết trong đầu và sau đó trong tim chúng ta.

    10. Công chức và thư lại

    Công chức và thư lại là hai từ đồng nghĩa trong tiếng Việt. Chúng được dùng để chỉ những người làm công và ăn lương từ ngân khố. Tuy nhiên, giữa chúng là cả một thời đại với những biến đổi sâu sắc trong mối quan hệ giữa những người này với nhân dân.

    Ngày xưa, mọi thứ đều là của vua. Người dân sử dụng đất đai, tài nguyên của vua thì phải cống nộp cho vua. Vua nuôi đội ngũ thư lại. Thư lại làm việc cho vua và tự coi mình là phụ mẫu của dân. Ngày nay, mọi thứ là của dân. Người dân đóng thuế cho Nhà nước để nuôi đội ngũ công chức. Công chức làm việc cho Nhà nước và được coi là "đầy tớ của dân".

    Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa thư lại và công chức là: thư lại sinh ra để cai trị dân; công chức sinh ra để phục vụ dân.

    Tuy nhiên, trong cuộc sống, nhiều khi vì cây mà chúng ta chẳng thấy rừng. Các hoạt động đa dạng của công quyền và các thủ tục hành chính rối rắm thường che khuất mối quan hệ cơ bản nói trên.

    Trước hết, đó là tình trạng thấy công việc mà không thấy mục đích. Ngày nay, đội ngũ công chức đảm nhận rất nhiều công việc liên quan đến hoạt động quản lý, như quy hoạch, đăng ký, cấp phép, xác nhận, phân bổ kinh phí... Những công việc này được sinh ra nhằm bảo đảm một trật tự xã hội cần thiết cho việc làm ăn, sự thịnh vượng và yên vui của nhân dân. Tuy nhiên, chúng tự dưng làm cho các công chức có quyền, và người dân trở thành đối tượng bị quản lý. Toàn bộ sự không may nằm ở chỗ: nhiều công chức chỉ thấy quyền quản lý, mà không thấy mục đích, của hoạt động này. Và họ nhanh chóng biến thành những thư lại của thời hiện đại.

    Hai là, sự nhầm lẫn giữa việc quản lý và việc cung cấp dịch vụ công. Rất nhiều hoạt động gọi là quản lý của các công chức hiện nay thực chất chỉ là các dịch vụ công. Ở nhiều nước, thậm chí các hoạt động liên quan đến công lý, cảnh sát, an toàn giao thông, quy hoạch địa bàn v.v... đều được coi là các dịch vụ công. Ở ta, chúng lại được coi là các hoạt động quản lý. Và sự nâng cấp này tự nhiên biến các công chức thành những người có quyền hành. Một bộ phận trong số họ đã nhanh chóng sử dụng quyền hành của mình để nhũng nhiễu và trở thành thư lại.

    Ngoài ra, tâm lý thích làm quan là một thực tế. Chế độ thư lại đã bị chôn vùi, tuy nhiên các di sản tinh thần của nó không phải bao giờ cũng được chôn theo. Nếu tâm lý thích oai vệ, thích có quyền sinh, quyền sát vẫn còn ngự trị thì vô số các thư lại vẫn còn tồn tại trong đội ngũ công chức của chúng ta.

    11. Lương, lương lậu và lương bổng

    Trong xã hội ta, có những người sống bằng lương, có những người sống bằng lương lậu và những người sống bằng lương bổng.

    Lương là một khoản tiền không nhiều. Lương lậu cũng là một khoản tiền tương đối hẻo (lương lậu không đủ sống). Tuy nhiên, từ "lậu" có thể làm nên một sự khác biệt và sự khác biệt này có thể là những khoản thu nhập lớn gấp nhiều lần lương. Trong bối cảnh như vậy, lương bổng là khoản thu nhập có vẻ không chỉ khá khẩm hơn mà còn hợp pháp hơn. Lương bổng là thu nhập của người có chức đi kèm.

    Toàn bộ rủi ro của chúng ta nằm trong mối tương quan phức tạp và bi hài giữa hai đại lượng này.

    Trong nền kinh tế thị trường, lương chính là số tiền được chi trả để mua sức lao động (lao động trí óc và lao động chân tay). Khả năng mặc cả giữa người mua và người bán là yếu tố quyết định đối với mức lương thực tế được hình thành. Người mua không thể trả giá vượt quá khả năng chi, người bán không thể đồng ý với mức thấp hơn sự xứng đáng của mình. Nhu cầu của thị trường và quan hệ cung cầu về lao động chính là những nhân tố quyết định giá cả của sức lao động. Những loại hình lao động khan hiếm sẽ được mua với giá cao. Những loại hình dư thừa sẽ được mua với giá thấp, thậm chí không có ai mua. Đây là quy luật của thị trường lao động. Cải cách tiền lương chính là điều chỉnh chính sách tiền lương nhằm phản ánh được các quy luật này. Tuân theo quy luật của thị trường sẽ giúp chúng ta bảo đảm được tính năng động và sự tương thích của lực lượng lao động Việt Nam trong quá trình hội nhập và cạnh tranh toàn cầu.

    Đối với thành phần kinh tế tư nhân và các xí nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, các quy luật của thị trường lao động sẽ được tuân thủ một cách tự nhiên (nếu các thiết chế hành chính không ngăn cản điều này). Vấn đề đặt ra là lương cho hệ thống công chức và cán bộ sẽ được xử lý như thế nào. Và đây là lãnh địa mà các nhà cải cách sẽ phải đối mặt với không ít những khó khăn.

    Trước hết, đó là sức ì của tư duy và tâm lý "sống lâu lên lão làng". Chuyển từ một hệ thống mà lương được trả căn cứ vào quá trình "phấn đấu" và sự "cống hiến" sang một hệ thống dựa vào sự đánh giá của thị trường là điều không dễ. Chúng ta có thể đồng ý với nhau là người giỏi thì phải được trả lương cao, nhưng sẽ rất khó chấp nhận việc một người chỉ đáng bậc con cháu lại được hưởng mức lương cao hơn cha chú. Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem: Một kỹ sư tin học trẻ tuổi được các công ty trả lương 5-6 triệu đồng/tháng thì các cơ quan Nhà nước không thể tuyển dụng với mức lương 280 - 500 ngàn đồng/tháng được. Tiền nào của ấy là quy luật nghiệt ngã của kinh tế thị trường. Với một mức lương quá thấp so với giá lao động thực tế trên thị trường, Nhà nước sẽ có được một đội ngũ công chức như thế nào là điều không nói ra thì ai cũng biết.

    Hai là, khả năng chi trả của Nhà nước. Tiền lấy ở đâu ra có thể là câu hỏi dẫn mọi cố gắng cải cách vào ngõ cụt. Tuy nhiên, có vẻ như tiền là cái không bao giờ đủ và không bao giờ dư thừa. Điều quan trọng không chỉ là tìm cách tận thu và mở rộng các nguồn thu, mà là xác định rõ đâu là lĩnh vực Nhà nước cần phải chi. Những việc mà thị trường và xã hội làm tốt hơn thì không biết Nhà nước có nên tham gia quá sâu vào không? Một thực tế là ngân sách Nhà nước có lớn bao nhiêu thì cũng nhỏ hơn tổng thu nhập của toàn xã hội rất nhiều. Thế thì Nhà nước không thể làm thay xã hội.

    Tiền tệ hóa sự bao cấp cho các quan chức cũng là một cách để có thêm kinh phí cho cải cách tiền lương, đồng thời tiết kiệm cho ngân sách. Một cách khác là chuyển thẳng vào lương các khoản chi tiêu lòng vòng với mục đích thiện ý là bổ sung thu nhập và hậu quả bất ý là tạo ra sự bất bình đẳng.

    Ba là, chính sách đối với những người về hưu và các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Rõ ràng, đây không phải là những người đang làm công ăn lương, nên không phải đối tượng trực tiếp của việc cải cách tiền lương. Tuy nhiên, vì hai lẽ mà công cuộc cải cách không thể không chú ý đến các đối tượng này: lẽ thứ nhất là công bằng xã hội; lẽ thứ hai là việc tăng lương sẽ ảnh hưởng đến sức mua của những người về hưu và các đối tượng chính.

    12. "Nhất châu Á"

    Cuối cùng, chúng ta cũng có một cái gì đó được thiên hạ (cụ thể là Tổ chức Tư vấn về rủi ro chính trị và kinh tế - PERC) đánh giá là nhất châu Á! Và đó là... cái sự "khó tính và gây trở ngại" của đội ngũ công chức (Tuổi trẻ Chủ nhật số 13 - 2004, ngày 4/4/2004, tr.9). Đây là một sự nổi tiếng ngang ngửa với tai tiếng, một "giải thưởng Mâm xôi vàng" cho các công chức Việt Nam.

    Về nguyên tắc, chúng ta có thể phản bác "giải thưởng" này và kiên quyết không chịu nghe ý kiến của PERC. Tuy nhiên, chúng ta không nghe thì thiên hạ (mà đặc biệt là các nhà đầu tư) vẫn cứ nghe. Và nhiều nhà đầu tư đang rút các dự án của họ ra khỏi nước ta. Vậy thì, thay vì tìm cách che giấu sự nổi tiếng của mình, chúng ta có thể làm một việc có ích hơn là tìm hiểu xem tại sao đội ngũ công chức của chúng ta lại nổi tiếng đến như -vậy.

    Trước hết, sở dĩ đội ngũ này có thể "khó tính và gây trở ngại" vì họ rất ít phụ thuộc vào dân. Từ chuyện tuyển chọn, cất nhắc, đề bạt đến những chuyện khác như tăng lương, khen thưởng, huân chương, huy chương v.v... và v,v... tất cả đều nằm ngoài sự ảnh hưởng trực tiếp của những người dân. Thực ra, người dân chỉ có mỗi một cách tác động là khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, hệ thống giải quyết khiếu nại, tố cáo mà chúng ta đang có vận hành hiệu năng thế nào là điều không nói ra thì ai cũng biết. Trong lúc đó, các thiết chế đại diện cho dân để giám sát đội ngũ công chức (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) đều không hoạt động thường xuyên. Các vị đại biểu dân cử thiếu quá nhiều thứ để làm tốt chức năng giám sát. Họ thiếu từ thời gian, kỹ năng, động lực đến thủ tục, công cụ và đội ngũ chuyên gia giúp việc. Cuối cùng, đội ngũ công chức đang chủ yếu chỉ phụ thuộc vào cấp trên. Và thực tế là họ sẽ làm mọi việc để vừa lòng các thượng cấp của mình. Người dân sẽ khó lòng có được gì nhiều trong một sự tận tụy dội lên trời như vậy. Những phân tích nói trên cho thấy xác lập sự phụ thuộc vào dân và nâng cao năng lực giám sát của các cơ quan dân cử sẽ là lời giải cho bài toán ở đây.

    Hai là, công chức ở ta thường ít thạo việc. Điều này xảy ra có phần do sự lẫn lộn về khái niệm giữa công chức hành chính và quan chức chính trị. Nhiều công chức thường tranh luận rất say sưa vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các chính khách. Nhưng khi một chính sách được phê chuẩn hoặc một quyết định được đưa ra, họ hoàn lúng túng không biết phải triển khai những thứ đó vào trong cuộc sống như thế nào. Do không thạo việc, những công chức như vậy thường không giải quyết được một vấn đề gì nhanh chóng cho dân. Phải chăng chúng ta cần phân biệt rõ giữa quan chức hành chính với quan chức chính trị. Các quan chức hành chính phải được lựa chọn khác với các quan chức chính trị. Họ phải được lựa chọn thông qua thi tuyển công khai.

    Ba là, đạo đức công vụ khó được áp đặt và đề cao. Cuối cùng, đạo đức là không thể thiếu để một công chức có thể xả thân vì dân, vì nước. Rất tiếc, trong cơ chế thị trường điều này đang được nói đến ngày càng ít hơn. Tuy nhiên, tri thức chỉ thắp sáng được khối óc, đạo đức mới thắp sáng được con tim. Và không khai sáng được con tim, chúng ta chỉ có được các thư lại, chứ không có được các công bộc của nhân dân. Điều cần nói ở đây là: Đạo đức không áp đặt được bằng thuyết lý, nhưng có thể khơi dậy được bằng tấm gương.

    Cuối cùng, với những cải cách hành chính đang được triển khai ngày càng quyết liệt hơn, chúng ta có quyền hy vọng rằng sắp tới tổ chức PERC sẽ không còn cơ hội để tặng "Mâm xôi vàng" cho các công chức của nước ta.

    13. Chống tham nhũng từ gốc

    Tham nhũng là việc sử dụng quyền năng do chức vụ mang lại để hưởng lợi bất chính. Không có quyền năng, không thể tham nhũng.

    Quyền năng có thể chia thành hai loại chính sau đây:

    1. Quyền đối với các nguồn lực.

    2. Quyền điều chỉnh hành vi và áp đặt chế tài.

    Quyền đối với các nguồn lực là rất rộng lớn, bao gồm quyền phân bổ ngân sách; quyền cho phép tiếp cận các nguồn tín dụng; quyền cho phép tiếp cận các dịch vụ công; quyền cho phép tiếp cận các loại thị trường; quyền cho phép tiếp cận các nguồn tài nguyên và đất đai; quyền phân bổ các hợp đồng của Nhà nước; quyền phân bổ quota, v.v.

    Quyền điều chỉnh hành vi và áp đặt chế tài cũng rất rộng lớn. Thực ra, nếu hệ thống pháp luật càng đồ sộ (và được ban hành để tăng cường quản lý) thì những hành vi bị điều chỉnh càng nhiều và quyền áp đặt chế tài càng lớn. Ví dụ, nếu pháp luật quy định việc đội mũ bảo hiểm xe máy là bắt buộc, thì quyền xử phạt đối với hành vi không đội mũ sẽ phát sinh.

    Muốn chống tham nhũng có hiệu quả cần làm rất nhiều việc, nhưng trước hết là phải chế ước được các quyền nói trên. Dưới đây là một vài nguyên tắc thường được áp dụng.

    Một là, quyền phải đi đôi với trách nhiệm. Quyền càng lớn thì trách nhiệm phải càng cao. Hệ thống chế độ trách nhiệm phải được thiết kế song song với hệ thống quyền năng và phải vận hành trên thực tế. Trong Hệ thống chế độ trách nhiệm này, trách nhiệm chính trị là hết sức quan trọng. Vì đây là chế độ trách nhiệm trước dân (hoặc chí ít là trước những người đại diện cho dân).

    Hai là, thiết kế hệ thống giám sát. Giao quyền thì phải giám sát được việc sử dụng quyền. Thiếu một hệ thống giám sát hiệu năng khó lòng áp đặt được chế độ trách nhiệm. Hệ thống này thường được thiết kế theo mô hình cấp trên giám sát cấp dưới trong hệ thống hành chính. Và các quan chức hành chính cao nhất của hệ thống bị các quan chức chính trị giám sát. Các quan chức chính trị bị cử tri giám sát.

    Ba là, phân cấp, phân quyền để tránh sự tập trung quá đáng của các quyền năng. Các quyền năng càng tập trung thì càng có nhiều người phải xin xỏ, càng nhiều người phải xin xỏ thì tham nhũng càng dễ xảy ra. Theo một số mô hình, các quyền năng được phân cấp không chỉ giữa trung ương và địa phương, mà còn giữa các cơ quan Nhà nước và các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức quần chúng.

    Cuối cùng, bảo đảm sự minh bạch trong quá trình ban hành quyết định là một điều kiện quan trọng để chống tham nhũng. Các quyết định càng quan trọng thì càng cần được thảo luận công khai và có sự tham gia ý kiến của những đối tượng liên quan.