06. Trang 090 - 110 @xuan_an_221 (đánh máy thiếu trang 91, 92, 93, 94, 95 - đang soát - wiki)

28/1/16
06. Trang 090 - 110 @xuan_an_221 (đánh máy thiếu trang 91, 92, 93, 94, 95 - đang soát - wiki)
  • IV

    Nay lại xét đến tôn-giáo.

    Đại-để có thể nói triết-học là tôn-giáo của người trí-thức, tôn-giáo là triết-học của người bình-thường. Bình-dân là phần số nhiều trong một nước; vậy thì tôn-giáo là tiêu-biểu cho cái lòng tín-ngưỡng chung của cả một dân-tộc.

    Nước Pháp từ xưa đến nay vẫn lấy đạo «La-mã Thiên-chúa» làm quốc-giáo. Đạo Thiên-chúa thật đã có một phần to trong sự gây-dựng ra nước Pháp, trong sự giáo-hóa người dân Pháp, mà nước Pháp, người Pháp, từ đời Trung-cổ đến giờ, cũng có công to với Giáo-hội, xưa đã được tiếng gọi là «con trưởng của Giáo-hội». Đạo Thiên-chúa thật là có thanh-khí với người Pháp, có nhân-duyên với nước Pháp vậy.

    Nay đạo Thiên-chúa ở nước Pháp có những đặc-tính gì ? Về phần giáo-lý, giáo-thống thì cố-nhiên là ở nước nào cũng vậy. Nhưng đại-để cùng một đạo ở mỗi nước cũng có khác nhau nhiều. Như đạo Thiên-chúa ở Ý-đại-lợi thì thiên-trọng về phần mỹ-thuật, đạo Thiên-chúa ở Tây-ban-nha thời thiên-trọng về bề thần-bí. Đến như đạo Thiên-chúa ở nước Pháp thời thiên-trọng về phần xã-hội. Bossuet đã giải nghĩa tôn-giáo là cái giây liên-lạc trong xã-hội, không những liên-lạc người một đời với nhau, mà liên-lạc cả người đời này với người đời trước, với người đời sau nữa; không những liên-lạc người một nước với nhau, mà liên-lạc cả người nước nọ với người nước kia, hết thảy cả người ta trong thế-giới. Tôn-chỉ của đạo Thiên-chúa ở nước Pháp không những là muốn gây thành một đoàn-thể tinh-thần ở trong đoàn-thể quốc-gia; lại còn muốn khuếch-trương đoàn-thể ấy ra khắp thế giới mà dựng nên như trong kinh thánh gọi là cõi «thiên-quốc» (la cité de Dieu) ở chốn nhân-gian nữa. Cứ xét tổng số những nhà truyền-giáo của đạo La-mã Thiên-chúa, ba phần đến hai phần là người Pháp, thì đủ chứng rằng tôn-chỉ ấy không phải là một hư-tưởng vậy.

    Như thế thì Thiên-chúa-giáo ở nước Pháp có mấy đặc-tính khác đạo Thiên-chúa các nước, mà tiêu-biểu cho tinh-thần riêng của nước Pháp. Tác-giả giải thích như sau này:

    «Thiên-chúa-giáo của nước Pháp bao giờ cũng chú-trọng một điều, là tăng cái giá trị về «phần hồn», tăng cái phẩm-cách của người ta. Nên chuộng về phần công-nghiệp hơn là phần quan-niệm, mà lại chuộng cái công-nghiệp có ích cho xã hội hơn là sự tu-hành riêng của từng người. Đến việc tu-hành nữa cũng không phải là tu-hành lấy một mình, bao giờ cũng chủ lấy ích-lợi cho nhân-quần. Bởi thế nên các nhà tôn-giáo nước Pháp không hứng những sự biện-nạn huyền-bí về thần-học, những sự khảo-cứu tỉ-mỉ về thánh-thư, những cách lễ-bái phiền-phức mà cầu-kỳ như nhà tôn-giáo các nước khác. Nhà tôn-giáo nước Pháp theo lẽ phải thông-thường mà vụ những điều cốt-yếu; lòng tín-ngưỡng bình-dị mà không tần-phiền; rất am hiểu tâm-lý nhân-tình; nhiệt-thành muốn truyền cái lòng tin của mình cho người khác; nhất là khao-khát tấm lòng bác-ái từ-bi.»

    Gồm bấy nhiều đặc-tính, há chẳng phải là giàu về nhân-đạo dư?

    V

    Sau nữa xét về Lịch-sử.

    Một nước có văn-chương, triết-học, tôn-giáo hay cũng chưa đủ; phải có lịch-sử hiển-hách mới biểu-dương được những cái hay đó.

    Lịch-sử nước Pháp thật là xứng-đáng với văn-chương, triết-học, tôn-giáo nước Pháp.

    Nước Pháp lập-quốc sớm, sớm đã tự-nhiệm cái thiên-chức một nước lớn. Từ đời Trung-cổ, cuộc nhất-thống trong nước đã tiệm-thành, tuy chưa được hoàn-toàn, nhưng đã có cơ-sở. Gây được cuộc nhất-thống ấy, phải nhiều phen chiến-tranh. Nước Pháp ngày xưa đã có tiếng là nước thượng-võ, đã từng biết đủ các lối chiến-tranh: chiến-tranh để giữ nước, chiến-tranh để lấy đất, chiến-tranh vì cái thế quân-bình, chiến-tranh vì cái sức bành-trướng, chiến-tranh để đồ bá-quyền, chiến-tranh để đi truyền-bá. Nhưng đại-để các lối chiến-tranh ấy đều chủ một mục-đích: là làm cho vững-bền vận nước cả. Nhân làm vững-bền vận nước, mà giữ được quân-bình Âu-châu. Vì chính-sách của nước Pháp xưa nay vẫn là cầm-giữ, ngăn-ngừa những nước lớn khác không được xâm-phạm đến bờ cõi, đến quyền độc-lập các nước nhỏ, để chiếm lấy phần hơn trong lục địa Âu-châu. Chính-sách ấy vẫn chủ lấy nước nọ hạn-chế nước kia, khiến cho thế-lực các nước ngang nhau, mỗi nước được tự-do mà phát-triển văn-minh quốc-túy, theo đuổi tiền-đồ vận-mệnh của mình. Bởi thế nên khi nào có một nước hay một vua hùng-cường khởi lên, muốn xâm-đoạt nước khác để cướp lấy thế-lực to hơn, thì Pháp cũng can-thiệp vào đanh, cố giữ lấy cái thế quân-bình cho Âu-châu. Xem như mấy phen Pháp giao-chiến với nhà vua Tây-ban-nha cùng nha vua Áo-đại-lợi thì đủ biết. Chắc rằng trong những trận ấy, Pháp cũng có cái lợi riêng của mình; nhưng bao giờ lợi riêng ấy cũng hòa-hợp với lợi chung của Âu-châu, nên hồi nào Pháp đắc-thắng là hồi ấy Âu-châu hòa bình. Pháp không những giữ cho các nước được tự-do độc-lập, lại còn đem tiền đem người đi giúp nhiều nước khôi-phục lại quyền tự-do độc-lập đã bị mất. Mỹ được độc-lập là nhờ có Pháp cứu-viện. Ý được thống-nhất là bởi công người Pháp nhiều. Hi-lạp thoát-ly được quyền chuyên-chế Thổ-nhĩ-kỳ, chẳng phải là may mà được người Pháp can-thiệp giúp ư? Pháp có công với vạn-quốc như thế, là bởi Pháp có tài điều-hòa quyền-lợi riêng của mình với quyền-lợi chung cả Âu-châu hoặc cả thế-giới. Cũng vì thế mà Pháp được hơn các nước khác có cái tư-cách biết quên mình vị người, hay cổ-võ những việc nghĩa-cử, nhiệt-thành với công-lý công-nghĩa.

    Hoặc có người chê Pháp đi viễn-chinh để lấy thuộc-địa là trái với chủ-nghĩa nhân-đạo. Nói thế là không hiểu cái tình-thế một nước lớn trong thế-giới đời nay. Pháp đi lấy thuộc-địa cũng là bởi cái địa-vị trên trường quốc-tế bắt-buộc như thế. Các cường-quốc đều có thuộc-địa mà mình không, là đành chịu phần thua phần thiệt, mà không giữ được thế quân-bình trong liệt-cường. Vả sự đi lấy thuộc-địa cũng có nhiều cách. Lấy đất của người ta mà nô-lệ bác-tước người ta, là phi nhân-đạo. Lấy đất của người ta mà ra công dìu-dắt cho người ta bước mau trên đường tiến-hóa, vị-tất đã là việc phi-nghĩa. Pháp lấy thuộc-địa dù là Algérie, Tunisie, Madagascar, Maroc, Tây Phi-châu hay đất Ấn-độ - Chi-na này nữa, đều tuyên-bố lấy khai-hóa làm chủ-nghĩa, hiệp-tác làm phương-châm. Thế thì cũng không phải là xa với nhân-đạo vậy.

    Suốt lịch-sử nước Pháp chứng rõ rằng nước ấy từ xưa đến nay vẫn biết ham-chuộng việc nghĩa, biết điều-hòa cái nghĩa riêng của mình với nghĩa chung của văn-minh thiên-hạ. Hồi giặc Hung-nô xâm-nhập Âu-châu, bấy giờ nước Pháp chửa thành nước Pháp mà đã ngăn-ngừa được quân giặc, khiến cho văn-minh Âu-châu khỏi phải tiêu-diệt vì quân mọi-rợ. Lại hai thế-kỷ sau, giặc Hồi tiến sang nam-bộ Âu-châu, Pháp cũng phá tan được ở đồng-bằng Poitiers, cứu được đạo Thiên-chúa khỏi cái nạn dị-đoan.

    Lịch sử nước Pháp vẫn có một cái tính-cách khoát-đạt, thường ba-cập ra ngoài, chứ không khu-khu trong giới-hạn một nước. Không những khi đối-ngoại mới có tính-cách ấy; ngay trong phạm-vi quốc-gia cũng vậy. Tựa-hồ như nước Pháp có cái sức phản-chiếu ra ngoài rất mạnh, nhất-cử, nhất-động, dẫu chỉ quan-hệ đến một mình, cũng có ảnh-hưởng ra ngoài, người ngoài lấy đấy làm gương, theo đó bắt chước. Cứ xét một cuộc Đại-Cách-mệnh năm 1789 thì đủ biết ảnh hưởng ấy sâu-xa là dường nào. Cách-mệnh ấy chẳng qua là khuynh đảo chính-thể quân-chủ cũ mà đặt chính-thể dân-chủ mới, tưởng cũng là một cuộc nội-biến thường, không có quan-hệ gì đến thế-giới. Cớ sao mà mới nổi lên đã kích-động cả toàn Âu? Chẳng phải là bởi cuộc cách-mệnh ấy tuy vị nghĩa riêng một nước mà hàm cả nghĩa chung nhân-loại dư? Sau khi phá được ngục Bastille, ngày 27 tháng 8 năm 1789, hội “Lập-hiến” (La Constituante) bá-cáo tờ “Nhân-quyền tuyên ngôn”, xướng lên rằng phàm làm người ai cũng được tự-do bình-đẳng cả. Lời tuyên-ngôn ấy nói chung cả nhân-loại, không phải riêng một dân Pháp. Bởi cái tính-cách đại-đồng phổ-cập ấy mà cuộc Cách-mệnh năm 1789 có ảnh-hưởng sâu xa như vậy.

    Vậy thì lịch-sử nước Pháp cũng như văn chương, triết-học, tôn-giáo, cũng hàm có ý-nghĩa về nhân-đạo vậy.

    VI :rose:

    Nói tóm tắt một câu thì nhân-đạo là đặc-tính hiển-nhiên, có thể được gọi là “linh-tính” của cả văn-minh học-thuật nước Pháp. Suy-diễn ra cũng một đặc-tính ấy, qui-nạp lại cũng một đặc-tính ấy.

    Tác-giả đã suy-diễn cái lý-tưởng nhân-đạo ấy trong suốt một bài đại-luận, lời-lẽ nghiêm-trang như cái lâu-đài cổ Hi-lạp, tình-tứ cảm-động như bộ tiểu-thuyết mới thời nay, bèn qui-nạp lại mấy câu kết-luận như sau này:

    “Trách-nhiệm của nước PHáp, thiên-chức của nước Pháp là phải xét mọi sự mọi vật theo về phương-diện nhân-đạo. Bởi đó mà văn-chương, triết-học, tôn-giáo, lịch-sử, đều có cái sức cảm-động rất mạnh. Nước Pháp, đã đem cái lòng ham nhân-đạo đến cực-điểm, đến bậc nguy-hiểm cho mình. Bình-sinh đã từng lắm phen phải lừa phải hại vì cái lòng nhân-đạo ấy. Nhưng mà cái “dại” ấy là cái dại vẻ-vang, vì dại là dại không biết ghen-ghét ai, không biết ngờ-vực ai, dại là dại mau quên những bước từng trải gian-nan, những sự đố-kỵ thâm-trầm, những kẻ tham-lam quá-độ. Nước Pháp không thể tin được rằng muôn việc trong thiên-hạ chỉ dùng võ-lực, cái võ-lực kiêu-căng tàn-ngược, mà giải-quyết được. Nước Pháp không bao giờ chịu-rằng cái mục-đích cứu-cánh của sự học là chỉ để nghĩ thêm cho người ta những cách tương-tàn tương hại lẫn nhau. Một văn-sĩ cô nước Pháp, Rabelais, đã từng nói câu tuyệt-ngôn này: “Học-vấn koong có lương tâm chỉ là tại-hại tâm tính” (Science sans conscience n’est que ruine de l’âme). Nước Pháp không thể tưởng-tượng được rằng một dân-tộc hay một văn-minh nào, lại có quyền đạp đổ những dân-tộc cùng văn-minh khác. Lý – tưởng của nước Pháp không phải là cái lý-tưởng muốn biến cả sự tư-tưởng sinh-hoạt của người ta thành cái máy vô-hồn cứng-cỏi, thực là lý-tưởng muốn để cho tinh thần riêng của mỗi dân-tộc được tự-do mà phát-triển cho điều hòa. Một thế-giới chỉ thấy thịnh-hành cái võ-lực của bọn quân-nhân, cái phiền toái của kẻ học giả, cái kiêu-căng của phái quan-lại, chỉ thấy thiên-trọng những vẻ cục-cằn thô-lỗ, những thói hung-hãn bạo-tàn, một thế-giới như thế, nước Pháp cho là nơi địa-ngục cực-kỳ khả-ố. Kẻ khác gọi đó là “văn hóa” (la culture), nước Pháp cho thế là “dã-man”. Dã-man càng có học mới lại càng thậm-tệ. Đối với cái văn-hóa giả đó thì văn-minh của Pháp thật là trái-ngược hẳn. Văn-minh Pháp là tự-do, là diễm-lệ, là điển-nhã, là điều-hòa, là mầu-nhiệm, là tiêm-tất, là khoan-dung đại-độ, là bác-ái nhân-từ; nói tắt một câu, là gồm trong hai chữ “nhân-đạo” vậy. Trong thiên-hạ ví không có văn-minh Pháp, thì sẽ thiếu mất cái mầu-mẽ phong-nhã cao-thượng vậy.

    (1917)


    “NGHĨA CÁI CHẾT” ([1])

    (Bình-luận tiểu-thuyết)

    Cái chết có nghĩa không?

    Hỏi câu ấy thì nhà khoa-học đáp “không” mà nhà tôn-giáo đáp “có”

    Nhà khoa-học nói : “Chết là cùng-tận của sự sống; phàm sinh-vật lúc sống thì cái sinh-khí ngưng tụ lại, khi chết thì cái sinh-khí giải-tán ra. Cuộc sinh tử là một cuộc hợp tan, không có nghĩa gì đối với ai cả, vì trước khi sống là hư-không, sau khi chết cũng là hư-không mà thôi.”

    Nhà tôn-giáo nói: “Người ta có hai phần, linh-hồn và nhục-thể. Linh-hồn vĩnh-viễn bất-diệt, chỉ có nhục-thể là sống chết theo phép “lý-hóa”. Đời người chẳng qua là một độ đường của linh-hồn. Lúc chết là lúc linh-hồn rời xác-thịt mà siêu thăng lên một cõi cao hơn cõi trần-thế. Chết không phải là một sự cùng-tận, thực là một sự bắt-đầu, bắt-đầu một cuộc đời mới thuần về linh hồn.”

    Trong hai thuyết ấy, thuyết nào phải? Không thể lấy một câu mà quyết-định được. Các nhà tư-tưởng cũng chia ra hai phái, không đồng ý nhau. Lúc bình-thường thì sự chết là một vấn-đề cao-xa huyền-bí, người đời không mấy khi để ý đến. Người ta không tất-nhiên phải kén chọn trong hai cái thuyết cho biết nên theo cái nào, bỏ cái nào. Đương lúc sống thì tưởng cái chết như một kỳ-hạn xa-xa, có bàn đến cũng coi như một món-thanh dàm, một câu chuyện giữ đời, không quan-hệ gì đến ai cả. Nhưng hiện nay cuộc gươm-lửa kinh-thiên động địa đương biến-hóa một phần thế-giới ra máu ra tro. Hàng vạn hàng ức con người xô đẩy nhau vào cái vực vô hạn, không ai là không hình như đã được đến gần cái chết mà biết mặt mũi nói thế nào rồi. Đương buổi cái chết thịnh-hành như thế, người đời đau xót trong lòng mà băn-khoăn tự hỏi: chết là cái gì ? Câu chuyện xuông khi trước nay thành lời thảm thiết bi ai. Cái vấn đề “chết” phát-hiện ra trước thế-gian như viết bằng chữ lửa chữ máu.

    Không phải chỉ nhà triết-lý chuyên-môn mới có tư-cách nghiên-cứu vấn-đề đó. Phàm người có tấm lòng khối óc, ai cũng có thể đem tâm suy-nghĩ về một câu chuyện có thể nói là thiết-thân đến mọi người vậy. Văn-sĩ Paul Bourget vừa cống-hiến ta một bộ tiểu-thuyết chính nhan đề là “Nghĩa cái chết”, đem vấn-đề đó bảy hiển-nhiên cho người đời rõ. Tiên – sinh lấy địa-vị cao trong văn-học nước Pháp, lấy tư-cách một nhà văn có biệt-tài về lối tiểu-thuyết, có kinh-nghiệm về khoa tâm-lý, lại có tư-tưởng cao-xa về nhân-tâm thế đạo, mà xét cái vấn-đề tâm-huyết đó, chắc là khám-phá được một cách thâm-trầm mầu-nhiệm.

    Trong tiểu-thuyết ấy, tiên sinh vẽ cho ta hai cái cảnh chết cùng cao-thượng như nhau mà phản đối nhau, tiêu-biểu cho hai lý-thuyết như trên kia đã nói. Nhưng trong cách hình-dung tả-mạc hai cảnh ấy, đã khéo diễn được cái ý-nghĩa sâu-xa cùng những tình-tiết u-ẩn, khiến cho ta ám-hiểm tác-giả khuynh-hướng về đường nào.

    Đại-khái như chuyện sau này:

    Tác-giả giả-thiết mình là người khách-quan, tình-cờ được biết đầu-đuôi một việc bi-kịch xẩy ra trong mấy người với nhau, việc xong thuật lại để ghi nhớ về sau. Tự-thuật dùng lối kỷ-sự, nghĩa là cứ việc mà kể, không đem ý-kiến riêng can-thiệp vào. Nhưng việc rất bi-thảm, không thể ngừng cảm-động được, vả mình cũng có quan-hệ vào đấy một đôi chút, nên lời tự-thuật không thể bình-dị như nhà khoa-học nghiên-cứu một vấn-đề cách-trí vậy. Cái vẻ phong-thủ trong chuyện chính là ở giọng ngậm-ngùi cảm-động ấy.

    Y-sĩ Marsal (tức là người khách-quan, tức là tác-giả) nguyên là học trò của ông danh-y ngoại-khoa Ortègve, vẫn giúp việc quản-lý nhà bệnh-viện của ông lập ra. Chuyện này bắt đầu giữa lúc khởi cuộc chiến-tranh bên Âu-châu. Y-sĩ vì có tận chân, nên không được cái danh-dự ra chữa bệnh nơi chiến trường. Nhân thầy là ông Ortègve được phép bộ Lục-quân đổi nhà bệnh-viện của mình làm nhà thương cho lính bị thương, chuyên-trị những vết thương thuộc về thần-kinh, cố giữ y-sĩ ở lại giú việc. Y-sĩ tự nghĩ dâu cũng là nghĩa-vụ, dù ở nơi chiến-trường, dù ở trong bệnh-viện, cũng có thể hết lòng thờ nước, bèn nhận lời thầy.

    Bởi cơ hội đó mà y-sĩ được mục-kích một cái bi-kịch riêng trong gia-đình ông thầy mình, cùng diễn-ngang với cái bi-kịch chung cả nước. Cái bi-kịch riêng ấy tuy chỉ có quan-hệ đến vận-mệnh mấy người với nhau, ngoài mấy người ấy cùng một vài người khác nữa không ai biết đến, người ở bên cạnh cũng không ai ngờ, mà ý-nghĩa nó rất sâu-xa, không những là khá lấy giải được một phần cái bi-kịch lớn kia, mà lại còn rạng tỏ được nguyên-nhân tối tăm của một cuộc sinh-tử con người ta.

    Nhưng phải thuật rõ đầu đuôi chuyện mới hiểu được.

    Mấy ngày đầu thì trong bệnh viện còn rộn-rịp xếp-dọn để đợi lính bị-thương đến. Danh-y và phu-nhân tận-lực mà sửa-sang cho chỉnh-đốn, muốn đem hết lòng yêu nước, hết tài sức riêng để giúp nước trong buổi nạn chung. Danh-y là một nhà ngoại khoa có tiếng nhất trong y-giới nước Pháp, có lẽ trong cả thế-giới nữa. Chuyên-môn những bệnh thuộc về thần-kinh-bộ, ông đã chữa được nhiều bệnh bí-hiểm, phát-minh được nhiều chứng lạ. Ông lại được cái tay khóe không ai bằng, múa dao trong tâm-can phế-phủ kẻ bệnh-nhân một cách tuyệt-diệu, cũng dịp-dàng tiết-tấu như tên bào-đinh trong sách Trang-tử vậy.

    Bởi vậy mà ông đã gây nên một cái danh-dự lớn, dựng được một cái gia-tư to. Vừa giàu có, vừa vẻ-vang, thật là cực-phẩm hạnh-phúc ở đời. Lại được phu-nhân là một người tuyệt đẹp, bụng tốt, trí cao. Tưởng cái diễm-phúc đến thế là thập-phần viên-mãn.

    Cuộc hôn-nhân của ông với phu-nhân lại là một thiên nhã-sử. Ông bấy giờ đã ngoài bốn mươi tuổi. Kẻ quen người thuộc đều tưởng rằng quyết chí không lấy vợ. Một hôm hớn-hở mừng rỡ chạy lại bảo học-trò thân là Marsal rằng: “Anh ơi, tôi mới tìm được cái Tuyệt-phẩm ở đời, anh ạ. Anh thử đoán xem! … Tôi sắp cưới vợ, vợ tôi là con gái ông cố-danh-y Mỗ, hẳn anh cũng biết tiếng.”

    Công-nương bấy giờ mới có hai-mươi tuổi, mồ-côi cha, mẹ đi lấy chồng. Cha ngày trước cũng là một nhà y-học có tiếng, đồng-bối với ông, ông biết công-nương từ thủa còn nhỏ, vẫn yêu-chuộng tính-nết; kịp đến tuổi lớn lên, trông như nàng tiên ở trên trời xuống. Bấy giờ ông mới biết cái sức mạnh vô-cùng của ái-tình.

    Hai vợ chồng tuy tuổi cách xa nhau mà yêu qui nhau rất mực. Từ khi lấy nhau cho đến lúc bắt đầu chuyên này đã qua sáu năm trời. Trong bấy lâu cái cuộc nhân-duyên hai người lại càng thêm mặn thêm nồng hơn lên. Trong ái-tình của phu-nhân đối với chồng lại thêm lòng cảm-phục kính-trọng nữa.

    Nhưng trung-gian, ông lúc lấy bà đã buốn-mươi-tư tuổi mà người còn như trai trẻ, nay năm-mươi tuổi trong đã ra mặt già. Người thấy mỗi ngày một gầy, sức thấy mỗi ngày một yếu. Tự nghiệm ra thì biết trong mình mang một cái quái-bệnh, không thể nào chữa được, là cái ung ở gần gan, chỉ mấy tháng nữa thì nó vỡ, là cái chết đến nơi. Nhưng vẫn dấu, không hề nói cho vợ biết. Học trò cũng không ngờ rằng thày phải cái bệnh nguy-hiểm ấy, vẫn tưởng rằng vì làm việc quá mà yếu người đi. Chỉ một mình ông biết bệnh mình một mình ngấm-ngầm chịu đau-khổ. Lăm lúc đau-đớn quá, phải tiêm tinh a-phiến cho nó nguôi đi. Tinh a-phiến là một thuốc độc, dùng mãi cũng hại người bằng bệnh vậy. Thành ra vừa bệnh, vừa thuốc cùng công phạt mà sức sinh-hoạt ngày một kém đi. Lại thêm từ khi mởi bệnh-viện để tiếp lính bị thương, ông ngày đêm săn-sóc cho những người liêu thân vì nước mà phải những vết đau-đớn hiểm-nghèo, nay Nhà-nước ủy –thác cho cái tay thần của bậc danh-y để biến-hóa những mảnh người bán-sinh bán-tử đó thành người toàn vẹn, còn có thể lại ra chống giữ cho đất nước được nữa. Những công việc khó nhọc đó càng như tiếp mạnh thêm cho sức bệnh, lại càng rút ngắn bớt cái kỳ-hạn sau cùng đã sắp tới.

    Một ngày kia, đương mổ một viên quan ba phải đạn ở giữa đường xương xống, sâm-sâm tối mắt lại, buông dao mà ngã người xuống. Người nhà vực sang buồng bên cạnh được ít lâu mới hồi-tỉnh lại.

    Đoạn này là đoạn trung-tâm trong chuyện, chỗ hai vợ chồng sắp ra đối mặt nhau, đối với cái chết, mà cùng nhau thề quyết một sự rất cuồng mà rất thảm.

    Phu-nhân vẫn nhận biết đã lâu rằng chồng có bệnh nặng, lấy làm lo lắng trong lòng, nhưng vẫn thấy cần-mẫn như thường, không dám hỏi. Nhân cái cơn vựng hôm ấy, lúc hồi-tỉnh dậy, cố kêu-van chồng nói thực cho biết. Chồng bấy giờ không thể cầm lòng được, phải nói rõ cái tên bệnh ra, cùng thở-than hết nỗi đau-đớn trong lòng: mình bệnh hiểm sắp chết, vợ tuổi trẻ đương xuân, bỏ nhau thảm-thiết dường nào! Lại nói: vả mình lâu nay mang cái ác-bệnh trong người, bình-thể đã suy-đồi lắm rồi, vợ chắc không giữ được với mình cái ái-tình như xưa nữa. Bụng yêu nay tất đã đổi ra lòng thương rồi. Lắm lúc nghĩ đến cái chết tức quá, phát cuồng lên, muốn giết vợ rồi tự-tử, để hai người cùng chết một lúc cho thỏa lòng. Yêu-quí vợ đến thế là cùng vậy. Nhưng vợ chắc còn có yêu mình nữa không? …

    Phu-nhân thấy chồng ngờ cái ái-tình của mình, bèn kêu lên rằng: “ … Thế ra anh vẫn không rõ vì sao tôi yêu anh, vì sao mà tôi đem cả sinh-mệnh tôi gửi vào anh, anh ơi! Thực tôi đã đem cả cuộc đời tôi mà phó-thác cho anh đó. Tôi vẫn lấy rằng phàm làm phận đàn-bà không được có hai mói chung-tinh, đã thương yêu ai không được dứt tình yêu, nhất là không được thay-đổi cuộc đời mình. Bởi thế nên không bao giờ tôi khỏi oái mẹ tôi đã đi cải-giả. Tôi vẫn biết rằng anh nhiều tuổi hơn tôi; tôi vẫn biết rằng rồi anh già trước tôi. Vì thế mà tôi lại yêu quí anh hơn nữa. Cha tôi ngày xưa đã dạy cho tôi biết cha tôi trọng anh là dường nào, phục sự học-vấn của anh thâm-thúy là dường nào. Tôi lấy anh cũng là vì tôi ham cái thú cao-thượng một đời tận-tụy về sự học, vì tôi hiểu cái ý-nghĩa thâm-trầm, cái công-dụng lớn-lao của nghề ngoại-khoa là cái nghề mà người đời nông-nổi thường cho là tục-tằn thô-bỉ. Tôi vẫn nghĩ riêng một mình rằng: đến khi chồng tôi trở về già thì tôi phụng-dưỡng chồng tôi; chồng tôi có đau yếu thì tôi thuốc-thang cho chồng tôi. Được như thế thì đời tôi là trọn-vẹn… Lúc này là lúc anh phải biết bụng cho tôi, mà anh không biết, thì thân tôi ra làm sao Tôi biết trông cậy vào đâu? Nếu trong lúc cùng-cực này mà tôi không giúp đỡ được anh, thì còn trông mong gì nữa. Nhưng tôi sẽ quả-quyết gánh vác cho anh, gắng-gỏi phù-trì đỡ anh…”

    Nói đến đây thì phu-nhân dừng lại một lát, rồi nói to lên, ra giọng người đương quyết-định một điều kịch-liệt, hỏi rằng: - Có phải anh đã nghĩ muốn giết tôi không? Có phải thế khong?

    Chồng đáp: - Phải.

    Lại hỏi: - Có phải anh muốn tự-sát cả anh nữa không?

    Chồng đáp: - Phải.

    Phu-nhân lại nói: - Ừ! thế thì hai chúng ta cùng chết cả, có sướng không? Thế anh đã tin rằng tôi yêu anh chưa?..

    “Ông chồng nghe câu ấy như say như mê, mặt đương buồn rầu, đổi ra vui-vẻ, nói rằng: - Em nói thế anh mới tin.. Thế thì anh cám ơn, cám ơn em lắm. Đã mấy tháng nay anh như nằm trong ác mộng, bây giờ mới thấy tỉnh ra, mới thấy được thở cái không-khí mát-mẻ. Thật thế, bây giờ anh mới cảm giác rằng em yêu anh. Bây giờ anh mới thấy được bình-tĩnh khoan-khoái trong lòng. Em nói ra một câu như thế, thì em yêu anh thế nào!



    ([1] ) Le sens de la mori, par Paul Bourget