07. chương 7 (done)

20/7/15
07. chương 7 (done)
  • Chương 7 Cải cách thương mại quốc tế

    CÁC LÝ THUYẾT GIA kinh tế học cổ điển nói với chúng ta rằng chính sách thương mại tự do và tỷ giá thả nổi tự do sẽ đem đến thời kỳ thịnh vượng cho mọi công dân. Ở đây, thương mại tự do hàm ý chính phủ không can thiệp vào việc nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, dù bằng thuế quan hay hạn ngạch nhập khẩu hàng hóa (tức là quota nhập khẩu). Còn tỷ giá thả nổi tự do đòi hỏi phải có thị trường tự do trong đó chính phủ không quy định mức giá mua đồng ngoại tệ bằng đồng nội tệ. Hơn nữa, chính phủ cũng không áp đặt bất cứ giới hạn, định mức nào về lượng ngoại tệ mà công dân trong nước có thể mua hoặc lượng nội tệ mà người nước ngoài được phép mua.

    Từ những năm 1970, dù đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa nắm quyền kiểm soát Quốc hội và/hoặc Nhà Trắng, chính phủ Mỹ vẫn tán thành mong muốn tham gia vào các hiệp định thương mại tự do với các quốc gia khác (ví dụ, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ [NAFTA]) - hay ít nhất ngoài miệng họ cũng nói như vậy. Hơn nữa, chính phủ Mỹ cũng chưa bao giờ can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối.

    Một người nếu tin vào lập luận của lý thuyết thị trường tự do cổ điển về thương mại và thanh toán quốc tế thì hẳn sẽ nghĩ rằng sau ba thập kỷ chính phủ theo đuổi mục tiêu của lý thuyết cổ điển, quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế của Mỹ với các nước còn lại trên thế giới sẽ không còn gặp phải trở ngại gì.

    Không may là trong suốt thời gian đó, vẫn có một vài vấn đề không hay ho xảy ra với Mỹ trên mặt trận kinh tế quốc tế. Thứ nhất, tuy là nền kinh tế lớn nhất thế giới nhưng Mỹ cũng đã trở thành con nợ lớn nhất thế giới. Thứ hai, nhiều người Mỹ đã phải chứng kiến những công việc lương cao của mình bị chuyển sang các nước có lương thấp như Trung Quốc và Ấn Độ. Như Louis Uchitelle, phóng viên tài chính của báo New York Times đã viết trong cuốn sách Người Mỹ bị vứt bỏ: cắt giảm lao động và những hệ quả (The Disposable American: Layoffs and their consequences) xuất bản năm 2006, lòng tự trọng và tâm lý của những công nhân bị sa thải vì công việc của họ đã được chuyển cho nước ngoài đã bị tổn hại nghiêm trọng. Đôi khi tình trạng này còn dẫn tới tan vỡ hôn nhân và nhiều hậu quả tồi tệ khác trong cuộc sống riêng tư.

    Uchitelle đã sử dụng số liệu của Cục Thống kê lao động để cho thấy cứ trong ba người bị sa thải thì chỉ có một người kiếm được việc làm mới trong vòng hai năm với mức lương bằng hoặc cao hơn so với mức lương cũ. Hai phần ba còn lại có thu nhập thấp hơn trước rất nhiều hoặc vẫn thất nghiệp, thậm chí một vài người còn không tìm kiếm việc làm nữa. Ngoài ra, nhìn chung việc thuê gia công nước ngoài còn gây sức ép lên đội ngũ lao động đang làm những công việc tương tự như việc làm đã bị chuyển ra nước ngoài.

    Có quá nhiều công nhân trong những ngành đã chuyển sang thuê nước ngoài gia công phải đi tìm việc làm dẫn tới xu hướng mức lương của tất cả các công nhân khác trong vùng bị hạ xuống, ngay cả khi họ làm việc trong những lĩnh vực ít có khả năng thuê nước ngoài làm. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi mức lương ở Mỹ vẫn đứng nguyên trong hàng chục năm qua, và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đang ngày càng gia tăng khi có ngày càng có nhiều việc làm của công nhân cổ xanh bị chuyển ra nước ngoài nhân danh thương mại tự do.

    Tuy nhiên, các nhà kinh tế học cổ điển vẫn khẳng định rằng thương mại tự do và tỷ giá tự do thả nổi sẽ đem lại thịnh vượng và hiệu quả tối đa cho toàn thế giới. Ví dụ, vào mùa xuân năm 2005, chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Bush, giáo sư đại học Harvard N. Greg Mankiw đã lên tiếng bảo vệ hành vi sản xuất “gia công ở nước ngoài”, tức là các doanh nghiệp Mỹ thay vì thuê người trong nước làm việc ở các nhà máy trong nước thì lại chuyển sang các nước khác, nơi có sẵn lao động với mức lương thấp hơn. Mankiw khẳng định mặc dù công nhân Mỹ mất việc làm lương cao vào tay công nhân nước ngoài lương thấp, nhưng việc thuê gia công nước ngoài vẫn đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế Mỹ lẫn các nước khác. Mankiw cho rằng trong dài hạn, thương mại tự do sẽ đem lại thu nhập và thịnh vượng cho mọi quốc gia vì nó mang đến việc làm có giá trị cao hơn cho công nhân Mỹ cũng như tạo việc làm cho các quốc gia được thuê gia công.

    Tất nhiên, để trả lời cho tuyên bố của Mankiw thì có một câu nói cũ của Keynes: “Trong dài hạn, tất cả chúng ta đều sẽ chết”. Và những công nhân bị sa thải sẽ chết sớm hơn! Phân tích của Keynes về nền kinh tế sử dụng tiền tệ cho biết tại sao lập luận khuyến khích thuê nước ngoài gia công của các kinh tế gia cổ điển lại sai. Keynes cho rằng lời khẳng định nếu chúng ta đi theo thương mại tự do thì chắc chắn sẽ thịnh vượng có thể là “sai lầm và nguy hiểm”. Rõ ràng các bằng chứng đều ủng hộ quan điểm của Keynes chứ không phải lời tuyên bố theo trường phái cổ điển của Mankiw.

    Tại sao lại có sự khác biệt như vậy giữa cái mà lý thuyết cổ điển khẳng định là lợi ích chung từ thương mại và thực tế khắc nghiệt mà công nhân Mỹ đang phải gánh chịu từ thương mại dựa vào thuê nước ngoài gia công?

    Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận xem tại sao lập luận về thương mại tự do của lý thuyết cổ điển lại không áp dụng được trong thế giới hiện tại. Chúng ta cũng sẽ giải thích nên tiến hành những cải cách gì để đảm bảo thương mại đem lại lợi ích cho mọi người lao động. Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận về đề xuất của Keynes để thay thế hệ thống tỷ giá thả nổi tự do và phân tích tại sao việc cải cách hệ thống thanh toán quốc tế theo hướng như Keynes đưa ra lại có lợi.

    Lợi thế so sánh - cơ sở của lập luận thương mại tự do

    Có một "chân lý” kinh tế chung, được tất cả các nhà kinh tế học cổ điển nhất trí, đó là cái mà các nhà kinh tế học gọi là "quy luật lợi thế so sánh". Quy luật lợi thế so sánh nói rằng nếu tất cả các quốc gia đều cho phép thương mại được tiến hành tự do thì cả thế giới sẽ sản xuất được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn vì mỗi nước đều tận dụng hết nguồn lực của mình. Có được kết quả tốt đẹp giả định này là nhờ các quốc gia đã chuyên môn hóa, chỉ sản xuất ngành mà họ có “lợi thế so sánh”, sau đó xuất khẩu sản phẩm của ngành đó và nhập về sản phẩm mang lợi thế so sánh của nước khác. Vì vậy, mọi quốc gia đều được lợi từ thương mại tự do - lý thuyết cổ điển khẳng định như vậy.

    Theo các nhà kinh tế học, một ngành sản xuất có lợi thế so sánh nghĩa là thế nào?

    Năm 1819, nhà kinh tế học David Ricardo đã đưa ra quy luật lợi thế so sánh để giải thích tầm quan trọng của thương mại tự do giữa các quốc gia. Theo quan điểm của Ricardo, một nước cần tổ chức hoạt động sản xuất sao cho chỉ chuyên làm ra loại sản phẩm mà họ có chi phí sản xuất thấp nhất so với chi phí sản xuất ra cùng sản phẩm đó ở bất cứ nước nào khác. Với những nước không có ngành nào có lợi thế tuyệt đối về chi phí so với các nước khác thì theo Ricardo, “lợi thế so sánh” của họ là xuất khẩu sản phẩm ít bất lợi nhất về chi phí. Khi đó, mô hình xuất khẩu và nhập khẩu dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của Ricardo sẽ giúp cả hai nước tham gia thương mại cùng thịnh vượng hơn nhờ cầu hàng hóa và dịch vụ tăng lên, và sản lượng trên toàn thế giới cũng phải tăng lên theo để đáp ứng lượng cầu đó.

    Chúng ta sẽ minh họa quy luật lợi thế so sánh bằng một ví dụ như sau. Giả sử có hai nước, nước Đông (có chi phí lao động thấp như Ấn Độ và Trung Quốc) và nước Tây (có chi phí lao động cao, ví dụ Mỹ hoặc Tây Âu). Để đơn giản hóa, trước khi có tự do thương mại, giả định mỗi nước chỉ sản xuất ra hai loại hàng hóa để trao đổi, đó là xe đạp (là loại sản phẩm sử dụng nhiều lao động rẻ tiền không có kỹ năng) và máy tính (đòi hỏi lao động có kỹ năng và lương cao), đồng thời cả hai nước đều ở trạng thái đầy đủ việc làm. Trước khi hai nước mua bán hàng hóa, ở nước Đông có 1.000.000 lao động, còn ở nước Tây có 100.000 người, tất cả đều đang làm việc trong hai ngành nói trên - tức là tổng cộng có 1.100.000 lao động đang làm ra (và giả định là có lợi nhuận khi bán) 375.000 chiếc xe đạp và 55.000 máy tính trên thị trường.

    Theo lý thuyết cổ điển của Ricardo, thương mại tự do giữa hai nước Đông và Tây khi hình thành sẽ khuyến khích mỗi nước chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh. Giả sử với cùng một công nghệ sản xuất ở cả hai nước, nước Đông sẽ có chi phí sản xuất cả xe đạp và máy tính thấp hơn so với nước Tây, vì ngay cả công nhân có kỹ năng cần thiết để sản xuất máy tính ở nước Đông cũng sẵn lòng làm việc với mức lương thấp hơn nhiều so với công nhân có kỹ năng tương tự ở nước Tây. Tuy nhiên, vì toàn bộ công nhân ở nước Đông đều nhận mức lương thấp hơn nên nước Đông có lợi thế so sánh trong sản xuất xe đạp hơn là sản xuất máy tính. Các nhà kinh tế học nói rằng mặc dù nước Đông có lợi thế chi phí tuyệt đối trong cả sản xuất xe đạp và máy tính, tức là họ có thể sản xuất hai sản phẩm này với chi phí thấp hơn so với nước Tây, nhưng lợi thế so sánh của nước Đông là xe đạp, còn lợi thế so sánh của nước Tây (tức là ngành có chi phí sản xuất thấp hơn) là máy tính.

    Do đó, theo quy luật lợi thế so sánh, nước Đông nên chuyên môn hóa bằng cách sử dụng toàn bộ vốn và 1.000.000 lao động vào sản xuất xe đạp, còn nước Tây nên sử dụng tất cả vốn và 100.000 lao động họ có vào sản xuất máy tính.

    Giả sử nhờ chuyên môn hóa như vậy mà cả thế giới có 1.100.000 công nhân, và cùng sản xuất ra được nhiều xe đạp và máy tính hơn: 400.000 xe đạp và 70.000 máy tính.

    Trong ví dụ về lợi thế so sánh này, bằng cách tham gia thương mại tự do, chúng ta đã giả định thế giới có thêm được 25.000 xe đạp và 15.000 máy tính. Khi đó nước Đông có thể bán xe đạp cho nước Tây, và đổi lại họ mua máy tính. Với lực lượng lao động không thay đổi trước và sau khi có thương mại, theo giả thiết, cả hai loại hàng hóa đều được sản xuất và tiêu dùng nhiều hơn trên cả thế giới. Do đó, công dân mỗi nước đều được hưởng lợi nhất định từ thương mại vì họ có nhiều xe đạp và máy tính hơn để tiêu dùng, trong khi tất cả hàng hóa đều được sản xuất với cùng thời gian lao động (chi phí thực) như nhau ở mỗi nước. Vì vậy, người ta nói rằng quy luật lợi thế so sánh đã “chứng minh" rằng thu nhập thực tế của cả thế giới tăng lên khi có thương mại tự do, nhờ người tiêu dùng ở cả hai nước Đông và Tây đều có nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn.

    Với Ricardo, lợi thế so sánh của mỗi nước có liên quan tới môi trường đặc thù của nước đó (ví dụ: tài nguyên khoáng sản, đặc điểm khí hậu và tác động lên hoạt động sản xuất nông nghiệp...), dẫn tới chi phí sản xuất của mỗi nước là khác nhau. Ngược lại, ví dụ giả định minh họa cho thương mại “tự do” ở trên lại căn cứ vào quan điểm: mở rộng thị trường trong nước cho nguồn lực nước ngoài có chi phí sản xuất thấp hơn không phải vì lợi thế năng suất lao động thực tế ở nước đó cao hơn, tức là công nhân nước Đông trong một giờ không hề sản xuất được nhiều xe đạp hơn công nhân nước Tây. Với giả định các nước đều dùng công nghệ giống nhau, minh họa này cho thấy lợi thế tuyệt đối trong chi phí sản xuất xe đạp và máy tính của nước Đông chỉ đơn thuần do mức lương trả cho công nhân ở đây thấp hơn so với ở nước Tây.

    Chi phí sản xuất thực tế trong nông nghiệp và khai thác khoáng sản của các nước khác nhau rõ ràng là khác nhau, vì với các ngành này, khí hậu khác biệt và trữ lượng khoáng sản phân bố phi ngẫu nhiên giữa các nước khiến cho sản phẩm của một nước rẻ hơn tương đối so với nước khác. Ví dụ, chi phí sản xuất một thùng dầu ở sa mạc Saudi Arabia sẽ rẻ hơn so với ở sa mạc Death Valley của Mỹ, chủ yếu vì tự nhiên đem lại cho Saudi Arabia nhiều dầu thô hơn và khai thác dầu thô từ lòng đất ở đây dễ dàng hơn nhiều so với ở Death Valley.

    Còn trong những ngành công nghiệp sản xuất hàng loạt, chi phí sản xuất khác nhau lại ít phản ánh sự khác biệt về điều kiện khí hậu tự nhiên hay trữ lượng khoáng sản của từng nước vì các nước đều sử dụng công nghệ giống nhau cho mỗi sản phẩm cụ thể.

    Keynes đã nhận thấy điều này, ông viết:

    Trong một thế giới hợp lý, cần chuyên môn hóa quốc tế ở mức độ nhất định với mọi trường hợp có sự khác biệt đáng kể về điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên... Nhưng khi ngày càng có nhiều loại sản phẩm công nghiệp... tôi nghi ngờ liệu chi phí kinh tế của việc tự cung tự cấp có lớn đến mức có thể lấn át lợi thế có được khi dần đưa người sản xuất và người tiêu dùng ở trong cùng một khu vực có cùng một hình thức tổ chức kinh tế và tài chính quốc gia đến với nhau [để đảm bảo có đầy đủ việc làm] hay không. Thực tế đã chứng minh rằng hầu hết quy trình sản xuất hàng loạt hiện đại đều có thể tiến hành được ở nhiều quốc gia, trong nhiều điều kiện khí hậu mà vẫn có hiệu quả như nhau.

    Nói cách khác, theo Keynes và thực tế hiện nay cũng đang có xu hướng hình thành các tập đoàn đa quốc gia và họ dễ dàng chuyển giao công nghệ trên toàn thế giới. Khi đó, ở hầu hết các ngành, mọi khác biệt trong chi phí sản xuất tương đối có nhiều khả năng phản ánh khác biệt trong mức lương ở từng nước (tính trên cùng một giờ lao động “thực”) cộng chi phí phải bỏ ra để có điều kiện làm việc “văn minh”, ví dụ hạn chế sử dụng lao động trẻ em, cộng chi phí phúc lợi cho công nhân của doanh nghiệp, ví dụ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Nói cách khác, trong hệ thống thương mại tự do hiện nay, phân bố địa điểm của các nhà máy xuất khẩu trên thế giới nhiều khả năng phản ánh sự khác biệt trong mức lương tính theo giờ cộng chi phí an toàn lao động và các phúc lợi khác mà một quốc gia quy định doanh nghiệp phải trực tiếp chi trả thay vì dựa vào hệ thống thuế, hoặc quy định không cung cấp cho người lao động.

    Trong thế kỷ 21, chi phí vận chuyển và/hoặc thông tin đều giảm, nhờ đó việc giao hàng hóa và dịch vụ [41] cho những thị trường nước ngoài xa xôi trở nên rẻ hơn. Vì vậy, những ngành sản xuất hàng loạt sử dụng công nhân kỹ năng thấp, kỹ năng trung bình, thậm chí cả lao động trình độ cao đều có xu hướng đặt nhà máy ở những nước mà nền kinh tế định giá con người thấp nhất - ít nhất giá trị đó cũng được phản ánh qua mức lương tính theo giờ và điều kiện làm việc mà doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Đã từ lâu, hầu hết các nước phát triển đều thông qua các đạo luật quy định việc “bóc lột công nhân" và sử dụng lao động trẻ em là bất hợp pháp. Hiện tại, điều kiện làm việc tồi tệ này chỉ còn tồn tại ở những ngành xuất khẩu “có tính cạnh tranh” của những nước kém phát triển nhất thế giới. Do đó, thương mại tự do cạnh tranh thường hàm ý rằng ở các nước phát triển, một số công nhân sẽ bị mất việc làm vào tay công nhân những nước có dân số lớn, lao động rẻ, sẵn lòng làm việc trong điều kiện bị “bóc lột” và có ít quy định về điều kiện an toàn lao động. Kết quả tất yếu là làm mức sống của công nhân các nước phát triển giảm xuống theo hướng bằng với mức lương của những nước lương thấp như Trung Quốc. Người Mỹ có thực sự muốn lương công nhân Mỹ giảm xuống còn khoảng chưa đến 1 USD/giờ, đồng thời cho phép trẻ em Mỹ làm việc trong các nhà máy như trẻ em Trung Quốc để kiếm đủ tiền giúp cho gia đình không bị chết đói không?

    Nếu Mỹ cho phép Trung Quốc xây dựng nhà máy ở bang California và vận hành nhà máy đó như đang ở Trung Quốc, tức là: (1) có trẻ em dưới 14 tuổi làm việc; (2) không có những điều kiện an toàn lao động; (3) mỗi tuần công nhân làm việc từ 55 đến 60 giờ hoặc hơn, với mức lương thấp hơn nhiều so với lương theo giờ tối thiểu được chính phủ Mỹ quy định; và (4) nhà máy gây ô nhiễm môi trường, thì những đạo luật tiến bộ của Mỹ sẽ cấm người dân Mỹ mua bất cứ sản phẩm nào mà nhà máy Trung Quốc ở California này sản xuất ra. Tuy nhiên, dưới khẩu hiệu thương mại tự do, Mỹ lại cho phép người dân mua sản phẩm của những nhà máy xấu xa, lạc hậu như mô tả ở trên, chỉ vì nhà máy đó đặt ở Trung Quốc.

    Tại sao người Mỹ lại phải từ bỏ niềm tin rằng xã hội mong muốn có hệ thống sản xuất đối xử với người lao động một cách văn minh, nhân bản? Rõ ràng nếu Mỹ cho phép các doanh nghiệp thuê công nhân với điều kiện lao động giống như ở Trung Quốc thì các nhà máy Mỹ có thể bán hàng hóa với giá rẻ hơn các nhà máy đặt ở Trung Quốc, vì chi phí vận chuyển từ nhà máy tới thị trường ở Mỹ mà các xưởng bóc lột công nhân Mỹ phải chịu thấp hơn so với các nhà máy Trung Quốc. Nói cách khác, nếu nước Mỹ - với tư cách là một xã hội văn minh - sẵn lòng hạ thấp mức sống của công nhân Mỹ xuống bằng mức sống của công nhân Trung Quốc thì chỉ riêng mức chi phí vận chuyển thấp từ nhà máy đến thị trường đã đảm bảo nền công nghiệp Mỹ có thể đánh bại Trung Quốc.

    Còn với điều kiện hiện tại, quan hệ thương mại tự do với các nước có mức lương thấp như Trung Quốc là kiểu thương mại thiếu tính cạnh tranh, vì luật Mỹ đã trói tay các doanh nghiệp Mỹ khi không cho họ thuê lao động với điều kiện làm việc giống như đối thủ Trung Quốc.

    Giải pháp của trường phái Keynes đối với vấn đề thuê gia công tại những nhà máy cạnh tranh không lành mạnh ở nước ngoài là cấm nhập khẩu sản phẩm của các nhà máy ít nhất là không đáp ứng được tiêu chuẩn về điều kiện lao động theo luật Mỹ. Chúng ta cũng nên yêu cầu mọi sản phẩm sản xuất ở nước ngoài chỉ được nhập khẩu nếu đã được chính phủ kiểm định theo Đạo luật An toàn thực phẩm và dược phẩm và các đạo luật bảo vệ người tiêu dùng khác.

    Với hệ thống thương mại tự do hiện nay, chỉ một số ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ phục vụ thị trường Mỹ có ít việc làm bị chuyển cho nước ngoài. Đó là những ngành có (1) chi phí thông tin và vận chuyển từ nước ngoài đến Mỹ rất cao (ví dụ các dịch vụ cá nhân như giúp việc gia đình, phục vụ bàn, cắt tóc, trông trẻ...) và (2) quy định nhập cư đã hạn chế nhập khẩu lao động rẻ tiền. Cơ hội việc làm vẫn còn nhiều, đặc biệt trong những ngành dịch vụ cá nhân ở các nước phát triển với tiêu chuẩn điều kiện làm việc văn minh. Tuy nhiên, nếu Mỹ tiếp tục cho phép thuê nước ngoài làm công việc sản xuất hàng loạt dưới danh nghĩa thương mại tự do, thì con số công nhân bị sa thải sẽ tăng vọt - đây là những người đã từng làm việc trong ngành sản xuất hàng loạt, có lương cao, nhưng giờ phải đi tìm việc làm mới. Do đó, công nhân thất nghiệp sẽ phải cạnh tranh mạnh hơn để có công việc dịch vụ trong những ngành sản xuất phi thương mại. Kết quả là, như Uchitelle đã viết trong cuốn sách của ông, mức lương trong ngành sản xuất phi thương mại ở Mỹ sẽ giảm, hoặc ít nhất lương của những người đang có việc làm cũng không thể tăng lên nhiều theo thời gian. Vì thế, với con số việc làm khổng lồ được chuyển ra nước ngoài gần đây, không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ phần trăm của lương trong GDP của Mỹ năm 2005 đã tụt xuống mức thấp nhất trong vài chục năm qua.

    Khi chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa của thế kỷ 21, khung phân tích của Keynes cho thấy lập luận cho rằng thương mại tự do là phương tiện đem lại sự thịnh vượng cho mọi quốc gia và người dân là không hợp lý nếu giải thích bằng quy luật lợi thế so sánh của Ricardo - có lẽ trừ khoáng sản, nông nghiệp và những ngành mà năng suất có quan hệ trực tiếp với điều kiện khí hậu hoặc trữ lượng tài nguyên. Tuy nhiên, những ngành sản xuất phụ thuộc vào khí hậu và tài nguyên thiên nhiên này lại thường bị chi phối bởi quyền lực của các cartel trên thị trường và/hoặc bởi chính sách của chính phủ nhằm kiểm soát giá cả, không để giá tụt xuống quá thấp, đảm bảo giá phản ánh chi phí sản xuất “thực”. Nói cách khác, các ngành công nghiệp áp dụng được quy luật lợi thế so sánh lại thường không bị ảnh hưởng bởi động lực cạnh tranh quốc tế nhờ sự bảo hộ của các cartel (ví dụ, Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ [OPEC]) hoặc của nhà nước nhằm kiểm soát lượng cung trên thị trường thế giới.

    Sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực sản xuất hàng loạt cũng như xu hướng thương mại ngày càng tự do hơn trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đã khuyến khích các doanh nghiệp Mỹ “thuê ngoài” sản xuất, tức là tìm kiếm nguồn lao động nước ngoài có mức lương thấp nhất để giảm chi phí sản xuất. “Thuê ngoài” cũng đóng vai trò như một sức mạnh chống lại lực lượng công nhân có lương cao được tổ chức trong công đoàn ở các nước phát triển. Thực tế là trong những năm đầu thế kỷ 21, rất nhiều nước (ví dụ Trung Quốc, Ấn Độ, các quốc gia Đông Nam Á) có cơ cấu công nghiệp phát triển nhanh chóng chủ yếu chính là nhờ các tập đoàn đa quốc gia đã đua nhau tìm cách rũ bỏ các rắc rối với công đoàn bằng cách tận dụng công nhân ở các quốc gia có lương thấp để cạnh tranh với công nhân lương cao có tổ chức ở các nước phát triển nhằm sản xuất ra cùng một loại hàng hóa hoặc dịch vụ với quy trình giống nhau. Trong những thập kỷ ngay sau Thế chiến thứ hai, khi chi phí vận chuyển và thông tin giữa các nước còn cao và thương mại bị hạn chế đáng kể thì chi phí cao của lao động trong nước đã đóng vai trò động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp sản xuất hàng loạt tìm kiếm cách thức sáng tạo để cải thiện năng suất trong nước, qua đó giảm chi phí lao động trên một đơn vị sản lượng. Với sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều rào cản thương mại quốc tế đối với sản phẩm sản xuất hàng loạt bị dỡ bỏ, chi phí lao động trong nước cao giờ đây chỉ khuyến khích những biện pháp như thuê nước ngoài sản xuất thay vì đầu tư tăng năng suất lao động để giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm. Trong điều kiện sản xuất hiện tại, việc thuê nước ngoài gia công với công nghệ hiện có sẽ rẻ hơn so với bỏ tiền ra để nghiên cứu cải tiến công nghệ, qua đó giảm chi phí sản xuất trong nước. Vì vậy, không giống như trước kia, khi những cải tiến công nghệ mà các doanh nghiệp tìm ra trong nỗ lực tăng sản lượng và doanh thu, đồng thời giảm chi phí lao động trên một đơn vị sản lượng đã nâng cao mức sống cho mọi thành viên trong nền kinh tế, giờ đây phần lợi nhuận cao thu được nhờ thuê nước ngoài không được đầu tư lại vào nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước nữa.

    Với quy tắc thương mại tự do hiện nay, giám đốc các doanh nghiệp sẽ ít có động lực theo đuổi cải tiến công nghệ để tăng năng suất lao động trong nước hơn trước. Điều này xảy ra với những ngành công nghiệp mà lao động rẻ tiền nước ngoài có thể “làm được việc” và chi phí vận chuyển và/hoặc thông tin là tương đối nhỏ so với tổng chi phí sản xuất. Từ thập niên 1970 đến nay, tốc độ tăng năng suất lao động của nhiều nước phát triển giảm xuống, và điều này ít nhiều có liên quan, nếu không muốn nói là hậu quả của hiện tượng khu vực tư nhân chú trọng sử dụng lao động rẻ tiền ở nước ngoài hơn là cải thiện quy trình sản xuất trong nước.

    Giải pháp của Keynes trước vấn đề thuê nước ngoài sản xuất trong bối cảnh thương mại tự do - tức là chỉ đơn thuần thay lao động lương cao ở môi trường sản xuất văn minh bằng lao động lương thấp trong điều kiện làm việc bóc lột - là "san bằng sân chơi”. Với những nước như Mỹ, nơi có luật pháp khuyến khích đối xử văn minh với người lao động ở các nhà máy trong nước, thì chính phủ chỉ nên cho phép nhập những sản phẩm đáp ứng được tiêu chuẩn bắt buộc về lao động, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng mà nước đó áp đặt với các doanh nghiệp nội địa.

    Do đó, việc sử dụng lý thuyết lợi thế so sánh để kết luận rằng nên cho phép thị trường tự do quyết định hành vi thuê ngoài, thương mại và các dòng thanh toán quốc tế có thể là “sai lầm và nguy hiểm” - như Keynes đã cảnh báo - đối với nền kinh tế của những quốc gia văn minh, đặc biệt là những nước có quy định hạn chế sử dụng lao động trẻ em, buộc cung cấp điều kiện làm việc tốt cho người lao động, đồng thời trả lương đảm bảo mức sống cao cho họ.

    Vấn đề thứ hai của lý thuyết lợi thế so sánh

    Không may là quy luật lợi thế so sánh đòi hỏi phải có ít nhất hai giả thiết rất không thực tế. Thứ nhất, như trong ví dụ sản xuất xe đạp-máy tính nói trên, chúng ta đã giả thiết lượng cung tăng thêm, gồm 25.000 xe đạp và 15.000 máy tính trên thị trường thế giới, sẽ tự động tạo ra cầu tiêu thụ hết số sản phẩm đó. Nói cách khác, lượng xe đạp và máy tính tăng thêm vẫn sẽ được bán hết với mức giá có lợi nhuận. Hẳn các công ty ô tô đa quốc gia sẽ rất vui mừng khi biết rằng nếu họ tăng công suất sản xuất trên toàn thế giới bằng cách đặt thêm nhà máy ở những nước có lợi thế so sánh trong lĩnh vực lắp ráp ô tô thì họ sẽ bán được toàn bộ số ô tô sản xuất ra (và có lợi nhuận). Sẽ không bao giờ có công suất dư thừa - như thực tế ngày nay đang xảy ra với không chỉ ba đại gia ô tô Mỹ mà còn cả những hãng ô tô nổi tiếng của châu Á.

    Đương nhiên, giả định cổ điển rằng không hề thiếu cầu đối với lượng sản phẩm tăng thêm khi các quốc gia chuyên môn hóa sản xuất theo lợi thế so sánh là không thực tế. Nó dựa trên một giả thiết khác là trạng thái đầy đủ việc làm và sử dụng hết công suất lao động sẽ tự động xảy ra ở tất cả các nền kinh tế của một thế giới có thương mại tự do và thị trường tự do cả trong nước và quốc tế. Lịch sử các nền kinh tế tư bản trong 250 năm qua cho thấy các nước rất ít khi đạt được trạng thái đầy đủ việc làm, và cũng chưa bao giờ cả thế giới hay một nước nhất định duy trì được trạng thái [42] đó lâu dài. Vì thế, nếu có một điều gì đó các nhà kinh tế học lẽ ra nên học từ Keynes thì đó là: không thể chứng minh được rằng thương mại tự do sẽ tự động đem lại lợi ích cho tất cả các nước tham gia, trừ khi có thể chắc chắn rằng các nước đó đều có trạng thái đầy đủ việc làm - cả trước và sau khi thực hiện thương mại tự do.

    Như vậy chúng ta đã thấy vấn đề thứ hai nảy sinh khi áp dụng quy luật lợi thế so sánh vào thế giới thực. Các phân tích lợi thế so sánh trong giáo trình kinh tế học đều giả định rằng quy luật lợi thế so sánh chỉ đem lại lợi ích nếu cả lao động lẫn vốn đều không thể di chuyển qua biên giới. Trong thực tế, ví dụ đơn giản về sản xuất xe đạp-máy tính nói trên cho thấy giữa hai nước Đông và Tây không có trao đổi vốn hay lao động, khi đó quy luật lợi thế so sánh sẽ quyết định ngành xuất khẩu của mỗi nước là gì.

    Tuy nhiên, nếu vốn có thể tự do di chuyển trên cả thế giới, và nếu sau khi có thương mại tự do cả thế giới vẫn không có trạng thái đầy đủ việc làm, thì quy luật lợi thế so sánh sẽ không đem lại lợi ích. Khi vốn di chuyển dễ dàng và thương mại tự do thì các doanh nghiệp sẽ xây dựng nhà máy và đầu tư trang thiết bị để sản xuất ở những nước có lợi nhuận lớn nhất, tức là nơi có chi phí lao động trên một đơn vị sản lượng thấp nhất. Do vậy, nếu các công ty đa quốc gia có thể chuyển giao công nghệ từ nước này sang nước khác, nhờ đó mỗi nước sẽ tốn một số giờ công lao động như nhau để sản xuất một đơn vị sản phẩm - hay như [43] Keynes đã viết: "Hầu hết các nước đều có thể thực hiện quy trình sản xuất hàng loạt hiện đại... với hiệu suất như nhau” - thì khi đó vốn sẽ luôn tự tìm đến những nước có chi phí lao động thấp nhất để có lợi nhuận cao hơn.

    Trong ví dụ của chúng ta, nước Đông có thể có được lợi thế chi phí tuyệt đối vì chi phí lao động để sản xuất ra một chiếc xe đạp và một chiếc máy tính đều thấp hơn - với mọi mức sản lượng mà thị trường thế giới có thể tiêu thụ. Cuối cùng nước Đông sẽ thu hút đủ vốn nước ngoài để sản xuất một lượng xe đạp và máy tính đáp ứng toàn bộ cầu trên thị trường thế giới. Nói cách khác, chừng nào cầu thị trường sau khi có thương mại tự do vẫn chưa đủ để đảm bảo cả thế giới đạt được đầy đủ việc làm thì xu hướng sản xuất và thương mại quốc tế sẽ hình thành dựa trên lợi thế chi phí tuyệt đối do có lượng cung lao động rẻ tiền rất lớn, chứ không phải quy luật lợi thế so sánh. Vì vậy, ở nước Tây, các ngành sản xuất hàng hóa thương mại và lượng việc làm mà ngành đó tạo ra sẽ suy giảm đáng kể, nếu không muốn nói là sẽ biến mất hoàn toàn. Trong trường hợp xấu nhất, hầu hết số việc làm còn lại ở nước Tây sẽ là những công việc không thể thuê nước ngoài làm vì chi phí vận chuyển và thông tin quá cao, vượt quá lợi ích có được từ chi phí lao động thấp ở nước ngoài.

    Dĩ nhiên, những người ủng hộ lý thuyết lợi thế so sánh, như Mankiw chẳng hạn, vẫn có niềm tin mạnh mẽ rằng mặc dù trong những năm gần đây, Mỹ đã mất nhiều việc làm kỹ năng trung bình nhưng được trả lương cao trong ngành chế tạo do các doanh nghiệp thuê gia công nước ngoài, nhưng Mỹ vẫn sẽ tạo thêm nhiều việc làm trình độ cao (mà chưa biết là việc gì) trong những lĩnh vực công nghệ hiện đại mà lực lượng lao động ở Trung Quốc và Ấn Độ không thể cạnh tranh được vì không đủ kỹ năng và hiểu biết. Mankiw đánh giá rằng trong “dài hạn”, thuê gia công nước ngoài là “tốt cho nền kinh tế Mỹ”, nhưng với giả định thất nghiệp sẽ không trở thành vấn đề nghiêm trọng, vì ông tin rằng những việc làm trình độ cao mới và chưa xác định kia sẽ xuất hiện như một phép màu.

    Thế thì tại sao hai phần ba công nhân bị sa thải được Uchitelle nhắc đến lại không tìm thấy những việc làm mới có lương cao mà Mankiw cho rằng sẽ xuất hiện ở Mỹ? Lý lẽ truyền thống luôn cho rằng chính những công nhân này mới có lỗi vì họ chỉ có đủ kỹ năng để làm công việc lương thấp. Chúng ta còn thường được nghe một cách đổ lỗi khác cho nạn nhân, đó là công nhân thất nghiệp hoặc bị sa thải chỉ cần học nhiều hơn là họ sẽ luôn có việc làm tốt hơn. Kêu gọi công nhân phải có trình độ học vấn cao hơn như một giải pháp cho vấn đề thất nghiệp khi xảy ra tình trạng thuê gia công nước ngoài chính là một kiểu suy nghĩ chưa tính đến những vấn đề phát sinh trong nền kinh tế thương mại tự do toàn cầu - đó là tình trạng sử dụng lao động trẻ em, điều kiện lao động thiếu an toàn, sản xuất gây ô nhiễm môi trường và một loạt các vấn đề khác kìm hãm sự tiến bộ của xã hội văn minh. Trong dài hạn, với hệ thống thanh toán quốc tế và cơ cấu thương mại tự do hóa hiện tại cộng với thực tế là hầu hết các nước tham gia thương mại chưa đạt tới trạng thái đầy đủ việc làm thì ở các nước tiên tiến, việc làm sẽ tập trung vào những ngành có chi phí vận chuyển và chi phí thông tin cao khiến cho việc trao đổi với nước ngoài trở nên quá đắt đỏ (không thể trao đổi mua bán), hoặc


    trong những ngành công nghiệp “ngách”, ví dụ ngành quốc phòng - vì lý do chính trị và xã hội nên không thể đưa nước ngoài sản xuất. Vì lao động ở các nước phát triển được định giá cao hơn so với lao động ở các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ nên thương mại tự do trong các ngành sản xuất hàng loạt có nguy cơ làm bần cùng hóa một bộ phận đáng kể công nhân các nước phát triển. Nếu chính phủ các nước phát triển không có động thái chủ động nhằm bảo đảm và duy trì tình trạng đầy đủ việc làm trong nước cho dù họ không có lợi thế tuyệt đối trong chi phí lao động ở những ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ thương mại, thì thương mại tự do cuối cùng sẽ dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên rất cao, hoặc công nhân sẽ buộc phải chấp nhận mức lương thực tế thấp hơn để cạnh tranh với lượng cung lao động dồi dào và có lương thấp ở các nước đang phát triển. Rõ ràng là các chính trị gia phương Tây nên nhận thức được nguy cơ xảy ra “thảm họa” này nếu họ mù quáng vận dụng lý thuyết cổ điển để giải quyết vấn đề thuê gia công nước ngoài trong điều kiện thương mại tự do hóa và thị trường tài chính quốc tế hiện nay. Trừ phi chính phủ các nước phương Tây chủ động tích cực hành động để đảm bảo nền kinh tế luôn đem lại đầy đủ việc làm cho lao động trong nước, nếu không thì thương mại tự do và thuê gia công nước ngoài sẽ không còn là phương thuốc chữa bách bệnh như những người ủng hộ chính sách đó khẳng định.