08. chương 8 (done)

20/7/15
08. chương 8 (done)
  • Chương 8 Cải cách tiền tệ quốc tế

    TRONG CHƯƠNG 4 chúng ta đã chỉ ra rằng tăng chi tiêu sẽ giúp doanh nghiệp tăng cơ hội kiếm lợi nhuận, khuyến khích họ thuê thêm lao động. Giả định ngầm ở đây là phần chi tiêu tăng thêm là của các hộ gia đình, doanh nghiệp và/hoặc chính phủ, và được dùng để mua sản phẩm từ các xưởng sản xuất đặt trong nước.

    Khi chúng ta mở rộng phân tích ra thị trường toàn cầu, mọi chuyện sẽ thay đổi. Ví dụ, nếu các hộ gia đình, doanh nghiệp và/hoặc chính phủ Mỹ chi tiêu vào sản phẩm được sản xuất ở nước ngoài (tức là hàng nhập khẩu) thì nền kinh tế nước khác - chứ không phải Mỹ - sẽ có thêm cơ hội kiếm lợi nhuận và tăng việc làm. Nói cách khác, cầu hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu sẽ tạo ra việc làm cho các quốc gia khác. Ngược lại, cầu của người nước ngoài đối với hàng hóa được sản xuất tại các nhà máy đặt tại Mỹ (tức là cầu hàng xuất khẩu) lại tạo lợi nhuận và việc làm cho người lao động Mỹ.

    Nếu trong một năm nào đó, Mỹ xuất khẩu xấp xỉ bằng nhập khẩu thì lượng việc làm tại nước khác mà cầu của Mỹ đối với hàng nhập khẩu tạo ra cũng tương đương với lượng việc làm gia tăng ở Mỹ nhờ cầu hàng Mỹ xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu Mỹ nhập khẩu nhiều hơn hẳn xuất khẩu thì chi tiêu của Mỹ sẽ đem lại nhiều cơ hội lợi nhuận và việc làm cho các nước khác. Đồng thời, lợi nhuận và việc làm của các nhà máy ở Mỹ sẽ ít hơn so với khi xuất khẩu tương đương với nhập khẩu, hoặc khi chênh lệch cán cân thương mại được cân bằng bởi cầu sản phẩm sản xuất tại Mỹ.

    Ví dụ, vào năm 2008, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ nhiều hơn xuất khẩu 677 tỷ USD. Nếu 677 tỷ USD chi cho hàng nhập khẩu đó được người Mỹ dùng để mua hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở Mỹ thì đó sẽ là một gói kích thích rất lớn đối với nền kinh tế trong nước. Con số 677 tỷ USD này tương đương với khoảng 90% tổng mức chi tiêu chính phủ cộng với số thuế được cắt giảm trong kế hoạch kích thích kinh tế mà Tổng thống Obama đã ký thông qua vào tháng 2 năm 2009 - một đạo luật dự kiến sẽ đem lại hàng triệu việc làm cho nước Mỹ.

    Từ năm 1982, Mỹ luôn nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, do đó tạo ra nhiều cơ hội lợi nhuận và việc làm cho nước ngoài hơn là ngược lại. Kết quả là Mỹ đã đóng vai trò đầu tàu giúp phần còn lại của thế giới tăng trưởng kinh tế trong 25 năm cuối thế kỷ 20. Tốc độ tăng trưởng ấn tượng của Nhật hồi thập niên 1980, của Trung Quốc và Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ 21 đều là nhờ Mỹ đã tăng chi tiêu vào hàng xuất khẩu của các nước này.

    Một ví dụ đơn giản có thể minh họa cho tình huống này. Giả sử trong một năm bất kỳ, người Mỹ chi thêm 10 tỷ USD vào hàng Trung Quốc nhập khẩu (ví dụ: đồ chơi), và do đó giảm 10 tỷ USD chi tiêu vào đồ chơi sản xuất trong nước. Cũng giả sử Trung Quốc không hề tăng chi tiêu vào hàng Mỹ, vì thế thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc đã tăng lên 10 tỷ USD. Kết quả là số tiền 10 tỷ USD chi cho hàng nhập khẩu này đã giúp ngành công nghiệp đồ chơi của Trung Quốc có thêm lợi nhuận và việc làm. Trong khi đó, những người Mỹ chuyển từ mua đồ chơi sản xuất trong nước sang đồ chơi nhập từ nước ngoài, về bản chất, đã làm mất lợi nhuận và việc làm của ngành công nghiệp đồ chơi Mỹ.

    Trong ví dụ giả định này, Trung Quốc đã có thêm 10 tỷ USD trong tài khoản thương mại quốc tế. Chúng ta đã giả sử rằng Trung Quốc không chi 10 tỷ USD vào hàng hóa nhập từ Mỹ, mà họ “tiết kiệm" số tiền thu được từ nước ngoài đó. Theo phân tích của Keynes, “một xu tiết kiệm được là một xu mất đi" nên 10 tỷ USD tiết kiệm của người Trung Quốc sẽ tương đương với 10 tỷ USD doanh thu mất đi của các công ty đặt tại Mỹ, thuê người Mỹ sản xuất.

    Khi nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu thì cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt, và các nhà kinh tế học gọi đó là “cán cân thương mại bất lợi”. Tình trạng cán cân thương mại bất lợi này có thể dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán giữa Mỹ và các quốc gia khác, khi số tiền Mỹ phải trả cho hàng nhập khẩu nhiều hơn số tiền nhận được từ xuất khẩu - trong ví dụ đồ chơi ở trên là 10 tỷ USD thâm hụt. Nước nào bị thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế đều phải bù đắp bằng một trong hai cách sau: [44] [45]



    Vì trong 25 năm cuối thế kỷ 20, Mỹ luôn nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu nên Mỹ phải vay nước ngoài để chi trả cho phần nhập khẩu vượt quá xuất khẩu trong suốt thời gian dài đó. Kết quả là từ nước chủ nợ lớn nhất, Mỹ đã trở thành quốc gia đi vay nợ các nước còn lại nhiều nhất thế giới.

    Để tiếp tục ví dụ minh họa trên, chúng ta có thể đặt câu hỏi người Trung Quốc làm gì với 10 tỷ USD tiết kiệm được từ thương mại quốc tế? Như mọi người khác, người Trung Quốc sẽ tìm kiếm cỗ máy thời gian có tính thanh khoản để chuyển khả năng thanh toán nghĩa vụ hợp đồng (sức mua) tiết kiệm được (chưa sử dụng đến) vào tương lai. Chủ yếu người Trung Quốc dùng số tiền tiết kiệm được này để mua giấy tờ có giá của Bộ Tài chính Mỹ và các công cụ nợ khác của các tập đoàn được chính phủ Mỹ bảo trợ. Điều này cho thấy người Trung Quốc tin rằng đồng USD là nơi an toàn nhất để cất giữ khả năng thanh toán nghĩa vụ hợp đồng quốc tế chưa sử dụng đến. Dựa vào số tiền người Trung Quốc tiết kiệm được này mà nhiều “chuyên gia” cho rằng Trung Quốc đang tài trợ cho người tiêu dùng Mỹ mua sắm thoải mái và kết quả là nợ nước ngoài của Mỹ ngày càng tăng. Các chuyên gia còn cảnh báo nếu người Trung Quốc không mua trái phiếu chính phủ Mỹ bằng tiết kiệm ngoại tệ nữa thì người tiêu dùng Mỹ sẽ không thể tiếp tục mua hàng nhập khẩu, và phải chấm dứt mua hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc.

    Nếu người Mỹ không mua hàng Trung Quốc nữa thì hãy nghĩ xem hành động này sẽ làm sụt giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp Trung Quốc và đe dọa việc làm của người lao động Trung Quốc như thế nào. Kết quả có thể dẫn đến bất ổn chính trị ở Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc còn được người dân ủng hộ rộng rãi chừng nào họ không chỉ có thể bảo vệ đất nước chống các kẻ thù từ bên ngoài mà còn có những kế sách kinh tế giúp cải thiện đáng kể mức sống cho mọi công dân. Nếu xuất khẩu của Trung Quốc giảm, mức sống của người Trung Quốc cũng giảm theo, và điều đó có thể gây ra biểu tình và bất ổn chính trị. Nói cách khác, chưa chắc đảng cầm quyền Trung Quốc đã muốn chấm dứt việc cho người Mỹ vay tiền để chi trả cho hóa đơn nhập khẩu khổng lồ từ Trung Quốc.

    Trong ví dụ đơn giản này, nếu giả định người Trung Quốc, đáng lẽ dùng tiết kiệm ngoại tệ để mua trái phiếu chính phủ Mỹ, thì họ lại chi 10 tỷ USD để mua hàng hóa do Mỹ sản xuất. Kết quả sẽ là (1) sẽ có nhiều sản phẩm do Mỹ sản xuất có mặt ở Trung Quốc hơn để bổ sung cho đời sống của người lao động Trung Quốc, và (2) các doanh nghiệp và công nhân Mỹ sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ không cần vay mượn người Trung Quốc để bù đắp cho số tiền đã bỏ ra khi nhập khẩu quá nhiều hàng Trung Quốc nữa. Ý nghĩa của ví dụ này là nếu người Trung Quốc mua hàng hóa nhập từ Mỹ thay vì mua trái phiếu chính phủ Mỹ thì họ sẽ không chỉ nâng cao hơn nữa mức sống trong nước mà còn làm cho người Mỹ có đủ tiền để mua toàn bộ số hàng nhập khẩu từ Trung Quốc mà không cần phải vay nợ chính người Trung Quốc.

    Ví dụ đơn giản này đã cung cấp cho độc giả gợi ý của giải pháp theo trường phái Keynes để chấm dứt tình trạng thâm hụt thương mại đang khiến các quốc gia rơi vào tình thế bất lợi khi nợ nước ngoài quá lớn. Trong phần sau của chương này, chúng ta sẽ đưa ra đề xuất chính sách của giải pháp Keynes.



    Ngược lại, giải pháp theo lý thuyết cổ điển về thị trường hiệu quả trước vấn đề thâm hụt thương mại này như sau: Nếu đồng tiền Trung Quốc (nhân dân tệ) được mua bán trên thị trường ngoại hối tự do có tỷ giá thả nổi và Mỹ đang bị thâm hụt thương mại với Trung Quốc thì giá trị tương đối của đồng nhân dân tệ sẽ tăng so với đồng USD. Kết quả là giá hàng nhập khẩu Trung Quốc tính bằng USD sẽ tăng đáng kể, cho đến khi người Mỹ không thể mua nhiều hàng Trung Quốc nữa, tức là lượng hàng Trung Quốc vào Mỹ sẽ giảm mạnh. Với việc đồng nhân dân tệ tăng giá so với đồng USD, người Trung Quốc lại thấy giá hàng Mỹ nhập khẩu vào Trung Quốc rẻ hơn, do đó họ sẽ mua nhiều hàng Mỹ hơn.

    Vì một số lý do mang tính kỹ thuật (được gọi là điều kiện Marshall-Lerner) mà chúng ta không cần thiết phải thảo luận ở đây, ngay cả khi đồng USD giảm so với đồng nhân dân tệ thì chưa chắc cán cân thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ đã trở lại cân bằng. Trong tình huống xấu nhất thì thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc có thể còn nặng hơn. Sau đây chúng ta sẽ bỏ qua tính phức tạp của thế giới thực để minh họa một số hiệu ứng tiêu cực có thể xảy ra khi sử dụng giải pháp của lý thuyết cổ điển để giải quyết thâm hụt thương mại - mặc dù lý thuyết này cho rằng thị trường tự do luôn luôn tự giải quyết được thâm hụt thương mại bằng cách làm giảm giá đồng nội tệ của nước đang bị thâm hụt.

    Trên thị trường ngoại tệ tỷ giá thả nổi tự do, nếu giá trị đồng USD giảm tương đối so với đồng nhân dân tệ thì giá hàng Trung Quốc nhập khẩu niêm yết bằng đồng USD tại các trung tâm bán lẻ ở Mỹ sẽ tăng cao. Điều này ngay lập tức sẽ làm tăng lạm phát vì chỉ số giá tiêu dùng tăng - nguyên nhân là vì hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng khá lớn trong ngân sách tiêu dùng của người Mỹ.

    Nếu Cục Dự trữ liên bang tin rằng chức năng cơ bản của họ là chống lạm phát thì họ buộc phải có chính sách tăng lãi suất trong nước cho đến khi lạm phát quay trở lại được tỷ lệ mục tiêu, giả sử là 2%. Lãi suất trong nước Mỹ tăng sẽ làm mất cơ hội kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp Mỹ và tăng thất nghiệp. Mục tiêu của chính sách tiền tệ chống lạm phát của Cục Dự trữ là giảm thu nhập của người Mỹ xuống mức vừa đủ sao cho các hộ gia đình Mỹ giảm mua sắm hàng hóa và dịch vụ, trong đó bao gồm cả hàng nhập khẩu từ Trung Quốc lẫn hàng sản xuất tại Mỹ. Nếu chính sách này thành công thì cầu thị trường giảm xuống sẽ đóng vai trò như chiếc phanh hãm đà tăng giá cả, trong đó có giá hàng nhập khẩu Trung Quốc khi người Mỹ mua ít hàng nhập khẩu hơn. Lượng hàng nhập khẩu giảm có thể sẽ làm giảm tốc độ tăng giá đồng nhân dân tệ so với đồng USD, và do đó lại có tác động giảm lạm phát qua thời gian.

    Trong tình huống này, vì người Mỹ mua ít hàng Trung Quốc nhập khẩu hơn nên lợi nhuận và việc làm trong ngành xuất khẩu của Trung Quốc sẽ giảm xuống, gây ra tình trạng thất nghiệp và có nguy cơ xảy ra bất ổn chính trị. Khi Trung Quốc mất đi một số việc làm, cầu trên thị trường Trung Quốc đối với hàng Mỹ xuất khẩu sẽ giảm, dẫn tới lợi nhuận của các ngành xuất khẩu ở Mỹ cũng giảm theo do kết quả của tình trạng đồng USD giảm giá vẫn tiếp diễn. Rõ ràng kịch bản này không tốt cho cả người lao động và doanh nghiệp Mỹ lẫn Trung Quốc.

    Lý thuyết cổ điển đã tránh trường hợp xấu này bằng cách giả định thị trường tự do hiệu quả luôn tận dụng hết vốn và lao động ở mọi quốc gia tham gia thương mại quốc tế, bất kể tỷ giá đồng tiền giữa các nước thay đổi thế nào. Nói cách khác, lý thuyết cổ điển chỉ đơn thuần giả định là không thể xảy ra thất nghiệp. Trong dài hạn - lý thuyết cổ điển khẳng định bằng niềm tin hơn là bằng thực tế - mọi quốc gia đều phải có đầy đủ việc làm.

    Do đó, bằng cách áp dụng mô hình cổ điển với một vài tiên đề thiếu thực tế, lý thuyết cổ điển đã giải quyết được nguy cơ thâm hụt thương mại, đơn thuần chỉ dựa vào phép màu của thị trường ngoại hối tự do trong một thế giới có thể biết trước được tương lai, ít nhất là trong dài hạn.

    Một vài nhà kinh tế học thực dụng nhận thấy rằng trong lịch sử, khi một nước cho phép tỷ giá hối đoái biến động tự do trên thị trường thì kết quả thường là rất tồi tệ. Vì vậy, một số chuyên gia ủng hộ thị trường ngoại hối có người tạo lập thị trường để giữ vững tỷ giá ở một mức đã được xác định trước. Kết quả là các cuộc tranh luận về điều kiện để một hệ thống thanh toán quốc tế hoạt động tốt thường chỉ xoay quanh câu hỏi ưu và nhược điểm của chính sách tỷ giá cố định so với tỷ giá thả nổi là gì.

    Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế từ cuối Thế chiến thứ hai cộng với lý thuyết ưa thích thanh khoản mang tính cách mạng của Keynes cho thấy ngoài việc quyết định thả nổi hay cố định tỷ giá thì vẫn còn nhiều vấn đề khác. Cần xây dựng một cơ chế để giải quyết được tình trạng mất cân đối cán cân thương mại và cán cân thanh toán thường xuyên xảy ra - dù tỷ giá là cố định hay thả nổi. Cơ chế này không chỉ cần giải quyết được vấn đề mất cân đối mà đồng thời còn phải tạo ra đầy đủ việc làm trên toàn thế giới, và nó sẽ được thiết lập trong giải pháp cho tình trạng mất cân đối cán cân thương mại và thanh toán quốc tế của Keynes.

    Giải pháp Bretton Woods

    Khi Thế chiến thứ hai sắp kết thúc, các quốc gia Đồng minh thắng thế triệu tập một hội nghị ở New Hampshire. Mục đích của hội nghị Bretton Woods này là thiết kế một hệ thống thanh toán quốc tế. Keynes là trưởng đoàn đại biểu Vương quốc Anh. Đối lập với quan điểm kinh tế cổ điển mong muốn thiết lập một thị trường tỷ giá thả nổi tự do, tại hội nghị Bretton Woods năm 1944, quan điểm của Keynes là: cách tiếp cận theo lý thuyết kinh tế cổ điển không phù hợp với thương mại và tài chính quốc tế.

    Keynes cho rằng việc cho phép thương mại tự do, tỷ giá linh hoạt và vốn được tự do di chuyển xuyên biên giới có thể không tương hợp với mục tiêu kinh tế đầy đủ việc làm trên toàn cầu và tăng trưởng kinh tế nhanh. Keynes đề xuất một giải pháp thay thế cho cách tiếp cận cổ điển đối với vấn đề này. Giải pháp này là “Kế hoạch Keynes”, nó sẽ tổ chức dòng tài chính và thương mại quốc tế để đem lại tình trạng việc làm đầy đủ cũng như tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trên toàn cầu, đồng thời vẫn cho phép các quốc gia có thể kiểm soát vốn xuyên biên giới. Keynes cho rằng "nguyên nhân chính gây ra thất bại” của mọi hệ thống thanh toán quốc tế truyền thống - bất kể dựa trên tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi - là nó không có khả năng chủ động tiếp tục mở rộng kinh tế toàn cầu khi giữa các quốc gia xảy ra mất cân đối cán cân thương mại và thanh toán. Thất bại này, như Keynes viết: “có thể quy cho một đặc điểm duy nhất. Tôi yêu cầu chú ý thật kỹ đến đặc điểm này, vì tôi sẽ lập luận rằng nó chính là đầu mối dẫn đến một giải pháp khác thành công hơn.

    Đặc điểm của một hệ thống tiền tệ tự do chuyển đổi quốc tế là: gánh nặng điều chỉnh chính lại bị đặt lên vai nước đang đi vay nợ trên cán cân thanh toán quốc tế, tức là nước được giả định là yếu hơn (trong bối cảnh này), và hơn hết là nhỏ hơn so với nhóm trên đĩa cân bên kia, tức (trong phân tích này) là các nước còn lại trên thế giới”[46].

    Keynes kết luận rằng để thiết lập một hệ thống thanh toán quốc tế tiến bộ hơn, về cơ bản cần chuyển gánh nặng điều chỉnh từ nước vay nợ sang nước chủ nợ. Theo Keynes, khi trách nhiệm chấm dứt tình trạng mất cân đối cán cân thương mại kinh niên được chuyển cho các nước thường xuyên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu thì nó sẽ tạo sức ép giúp mở rộng - thay vì thu hẹp - thương mại quốc tế. Để có thời kỳ hoàng kim phát triển kinh tế, Keynes đề xuất kết hợp hệ thống tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh với cơ chế đòi hỏi các quốc gia được "hưởng" thặng dư thương mại phải là người đầu tiên thực hiện các nỗ lực cần thiết để giảm mất cân đối cán cân thương mại, đồng thời “vẫn duy trì đôi chút tình thế khó khăn ở các nước vay nợ để họ không lợi dụng thuận lợi vừa đạt được”.

    Sau Thế chiến thứ hai, các nước tư bản bị chiến tranh tàn phá ở châu Âu không có đủ nguồn lực sản xuất còn nguyên vẹn để nuôi sống toàn bộ dân cư và tái thiết nền kinh tế. Quá trình tái thiết kinh tế đòi hỏi các nước châu Âu phải nhập khẩu rất nhiều từ Mỹ mới đáp ứng được những gì cần thiết cho sự phục hồi. Sau chiến tranh, các nước châu Âu chỉ còn rất ít dự trữ ngoại hối. (Dự trữ ngoại hối là các tài sản có tính thanh khoản mà các nước châu Âu bị chiến tranh tàn phá có thể bán để thu về USD, sau đó dùng số USD này để mua hàng hóa từ nước duy nhất còn đủ năng lực sản xuất để xuất khẩu - đó là Mỹ).

    Với nguồn dự trữ ngoại hối không đủ để mua lượng hàng nhập khẩu cần thiết, trong hệ thống thị trường tự do, cách duy nhất là châu Âu phải đi vay Mỹ một số tiền khổng lồ để chi trả cho lượng hàng hóa Mỹ đủ cho dân số châu Âu sử dụng và tái thiết nền kinh tế. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng tư nhân Mỹ vẫn còn nhớ rằng số tiền mà Đức bồi thường cho phe Đồng minh giành thắng lợi trong Thế chiến thứ nhất chủ yếu là do các nhà đầu tư tư nhân Mỹ cho vay (tức Kế hoạch Dawes). Và Đức không bao giờ hoàn trả số tiền vay theo Kế hoạch Dawes này. Lịch sử và tình thế lúc đó cho thấy rõ ràng không thể kỳ vọng các tổ chức tín dụng tư nhân sẽ cho châu Âu vay số tiền cần thiết để phục hồi nền kinh tế sau Thế chiến thứ hai.

    Kế hoạch Keynes được trình bày trong hội nghị Bretton Woods năm 1944, có nội dung là yêu cầu Mỹ - với tư cách là chủ nợ chính - phải nhận trách nhiệm lớn nhất trong việc giải quyết tình trạng mất cân đối cán cân thương mại và những khó khăn khác trong hệ thống tài chính quốc tế liên quan đến việc các nước châu Âu thời hậu chiến cần hàng nhập khẩu từ Mỹ. Keynes ước tính các nước châu Âu sẽ cần nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu 10 tỷ USD mới xây dựng lại được nền kinh tế. Kế hoạch Keynes đã đưa ra một hệ thống trong đó Mỹ sẽ cung cấp số tiền này cho châu Âu. Đại diện của Mỹ ở hội nghị Bretton Woods lúc đó là Harry Dexter White đã bác bỏ Kế hoạch Keynes. Dexter White cho rằng Quốc hội Mỹ sẽ không bao giờ đồng ý cung cấp 10 tỷ USD như Keynes yêu cầu. Thay vào đó, White nói rằng Quốc hội Mỹ sẵn lòng chi nhiều nhất là 3 tỷ USD để góp phần giải quyết những khó khăn trong tài chính quốc tế thời hậu chiến.

    Đoàn Mỹ tại hội nghị Bretton Woods là bên quan trọng nhất. Rõ ràng là hội nghị không thể đi đến quyết định cuối cùng nếu đoàn Mỹ không đồng ý với bất cứ kế hoạch nào được đưa ra tại hội nghị. Đoàn Mỹ đã phủ quyết Kế hoạch Keynes. Thay vào đó, Mỹ đưa ra kế hoạch thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và định chế mà hiện nay được gọi là Ngân hàng Thế giới (WB).

    Kế hoạch của Mỹ dự kiến Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) sẽ cung cấp những khoản vay ngắn hạn cho các nước đang bị thâm hụt thương mại. Những khoản vay này dự kiến sẽ giúp nước vay nợ có thời gian sắp xếp lại nền kinh tế trong nước và chấm dứt tình trạng nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Mỹ đồng ý đóng góp tối đa 3 tỷ USD vào số tiền có thể cho vay của IMF còn Ngân hàng thế giới sẽ chuyên vay vốn trên thị trường. Số vốn này sau đó sẽ được sử dụng để cung cấp các khoản vay dài hạn nhằm khôi phục và cải thiện cơ sở hạ tầng - trước hết là ở các nước bị chiến tranh tàn phá, sau đó là ở các nước kém phát triển hơn. Kế hoạch này về cơ bản chính là thể chế được hội nghị Bretton Woods áp dụng.

    Theo kế hoạch của Mỹ, các khoản cho vay của IMF và WB là nguồn tài chính duy nhất cho lượng hàng xuất khẩu khổng lồ từ Mỹ mà các quốc gia bị tàn phá cần ngay lập tức sau chiến tranh, cả IMF và WB đều không có đủ số tiền cần thiết để cho các nước châu Âu vay. Tuy nhiên, ngay cả khi IMF và WB có thể cung cấp đủ tiền thì kết quả vẫn là các nước châu Âu phải chấp nhận tình trạng nợ nước ngoài rất lớn. Cử tri các nước này có thể sẽ chọn hệ thống cộng sản chứ không chịu đối mặt với nghĩa vụ phải trả những món nợ nước ngoài khổng lồ để tái thiết.

    Để đảm bảo chủ nghĩa cộng sản không mở rộng từ Liên Xô sang Tây Âu, Mỹ đã xây dựng Kế hoạch Marshall. Kế hoạch Marshall dự kiến cấp cho châu Âu 5 tỷ USD thông qua viện trợ nước ngoài trong 18 tháng và tổng số tiền sẽ là 13 tỷ USD trong bốn năm. (Nếu điều chỉnh lạm phát thì số tiền này tương đương với 150 tỷ USD năm 2008). Các quốc gia nhận viện trợ không cần hoàn trả số tiền nhận được từ Kế hoạch Marshall. Kế hoạch Marshall về cơ bản chính là một món quà trị giá 13 tỷ USD hàng xuất khẩu trong bốn năm cho các nước bị chiến tranh tàn phá. Món quà Kế hoạch Marshall này cho phép các quốc gia nhận viện trợ mua hàng xuất khẩu Mỹ với giá trị tương đương 2% tổng sản phẩm hàng năm của Mỹ trong vòng bốn năm từ 1947 đến 1951. Nhưng không người Mỹ nào cảm thấy mình bị lấy đi cái gì, và thực tế là Kế hoạch Marshall không đòi hỏi các hộ gia đình Mỹ phải hy sinh. Thu nhập của các hộ gia đình Mỹ tiếp tục tăng lên trong suốt thời gian thực hiện Kế hoạch Marshall.

    Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, chi tiêu quân sự của chính phủ Mỹ giảm mạnh khiến cho tình trạng thất nghiệp hậu chiến trở nên khá nghiêm trọng. Kế hoạch Marshall cho phép nước nhận viện trợ có tiền mua hàng hóa do Mỹ sản xuất và xuất khẩu đã giúp bù đắp phần chi tiêu giảm xuống này, nhờ đó tạo việc làm trong những ngành xuất khẩu của Mỹ đúng lúc có hàng triệu người trong ngành quốc phòng bị thất nghiệp và gia nhập lực lượng lao động. (Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng của người lao động có thu nhập cao sau khi bị dồn nén trong thời kỳ chiến tranh giờ đây cũng dẫn tới chi tiêu tiêu dùng tăng mạnh). Lần đầu tiên trong lịch sử, Mỹ không phải trải qua giai đoạn suy thoái nghiêm trọng do giảm chi tiêu đột ngột khi chấm dứt một cuộc chiến lớn. Mỹ và phần lớn các nước còn lại đã tận hưởng một “bữa trưa miễn phí" khi cả nước đi vay nợ lẫn nước chủ nợ đều thu được lợi ích kinh tế rất lớn từ Kế hoạch Marshall.

    Bài học rút ra từ Kế hoạch Marshall này là: khi nước chủ nợ nhận trách nhiệm chấm dứt tình trạng mất cân đối mãn tính của cán cân thương mại và thanh toán quốc tế thì kết quả thu được sẽ có lợi cho cả hai bên - nước thặng dư và nước thâm hụt. Kinh nghiệm này cho chúng ta giải pháp rõ ràng cho tình trạng thương mại quốc tế hiện nay khi Mỹ đã rơi vào thâm hụt thương mại hàng chục năm, còn những nước như Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc lại tăng trưởng nhờ thặng dư xuất khẩu.



    Tuy nhiên, đến năm 1958, mặc dù Mỹ vẫn có thặng dư xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ hàng năm đến hơn 5 tỷ USD, nhưng viện trợ chính phủ và quân sự cho nước ngoài của Mỹ đã lên đến hơn 6 tỷ USD, đồng thời còn có dòng vốn tư nhân ròng chạy ra nước ngoài trị giá 1,6 tỷ USD. Cán cân thanh toán của Mỹ sau chiến tranh có khả năng thặng dư khi dòng tiền chảy ra khỏi Mỹ nhiều hơn dòng tiền chảy vào trong nước do người nước ngoài mua hàng Mỹ xuất khẩu với mức chênh lệch là 2,6 tỷ USD.

    Các quốc gia khác bắt đầu có thặng dư cán cân thanh toán. Họ không sử dụng số tiền thặng dư để mua thêm hàng hóa của Mỹ sản xuất. Thay vào đó, họ sử dụng một phần lượng USD thặng dư để mua các tài sản có tính thanh khoản trên thị trường quốc tế, đó là vàng dự trữ của Hệ thống Dự trữ liên bang Mỹ. Đồng thời, châu Âu và Nhật Bản sau khi tái thiết cũng trở thành các quốc gia xuất khẩu quan trọng, qua đó các nước còn lại trên thế giới bớt phụ thuộc vào ngành công nghiệp xuất khẩu của Mỹ hơn.

    Riêng trong năm 1958, Mỹ đã bán ra hơn 2 tỷ USD vàng dự trữ cho ngân hàng trung ương các nước, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sang châu Âu giảm đáng kể. Kết quả là kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, và các nước còn lại cũng nhanh chóng tuột dốc theo.

    Đến thập niên 1960, các nước có thặng dư thương mại tiếp tục chuyển giá trị thặng dư thành cầu mua vàng dự trữ của Mỹ để dùng làm cỗ máy thời gian có tính thanh khoản quốc tế. Hạt giống đổ vỡ hệ thống Bretton Woods và thời hoàng kim phát triển kinh tế bắt đầu được gieo mầm khi các nước có thặng dư thương mại tiếp tục rút hết vàng dự trữ của Mỹ.

    Vào năm 1971, Tổng thống Richard Nixon tuyên bố chính phủ Mỹ sẽ không bán vàng cho các nước có đồng USD và dùng USD để mua vàng thay vì mua hàng hóa Mỹ nữa. Về thực chất, Mỹ đã đơn phương rút khỏi thỏa thuận Bretton Woods. Đến năm 1971, người ta đã lãng quên nốt những gì còn lại của giải pháp Keynes cho hệ thống tiền tệ quốc tế, trong đó nước chủ nợ nhận trách nhiệm giải quyết tình trạng mất cân đối cán cân thương mại.

    Từ đó trở đi, Mỹ có xu hướng rơi vào thâm hụt cán cân thương mại khi các nước đều theo đuổi chính sách tăng trưởng kinh tế dựa trên việc liên tục mở rộng xuất khẩu sang Mỹ - thị trường hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới. Với rất nhiều nước, đặc biệt là ở châu Á, các ngành xuất khẩu chính là xương sống chống đỡ cả nền kinh tế. Chừng nào người Mỹ còn sẵn lòng mua hàng nhập khẩu từ nước ngoài nhiều hơn lượng hàng họ xuất đi nước khác thì Mỹ còn khuyến khích các quốc gia hướng vào xuất khẩu này tăng trưởng mạnh hơn.

    Tuy nhiên, đến năm 2008, khi Mỹ trượt sâu vào cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất kể từ thời Đại Khủng hoảng thì người Mỹ cũng giảm mạnh việc mua hàng nhập khẩu. Kết quả là những nước phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu cũng nhanh chóng suy thoái theo. Ví dụ, trong quý bốn năm 2008, Nhật Bản cho biết tổng sản phẩm quốc nội của họ đã giảm đi hơn 12% vì xuất khẩu đã rơi tự do.

    Hệ thống thương mại và thanh toán quốc tế hiện tại có thể và thực sự đã đẩy mạnh tác nhân gây suy thoái trên toàn thế giới. Kế hoạch Keynes năm 1944 được xây dựng với chủ định ngăn chặn suy thoái và khủng hoảng thị trường tài chính ở một nước lan rộng sang các nước khác. Bây giờ chính là lúc chúng ta nên nghĩ cách cải cách hệ thống thanh toán quốc tế sao cho tình trạng khủng hoảng dây chuyền không xảy ra.

    Cải cách hệ thống thanh toán quốc tế

    Nếu điều chỉnh những nguyên tắc trong Kế hoạch Keynes cho phù hợp với thực tế hiện nay thì có thể xây dựng được cơ chế tiền tệ quốc tế của thế kỷ 21 - một cơ chế sẽ thúc đẩy sự thịnh vượng trên toàn thế giới, đồng thời vẫn đáp ứng được tình hình chính trị hiện tại mà không phải nhượng bộ trước những người tin vào thị trường hiệu quả. Vì như Keynes đã viết: “việc [như lý luận thông thường] cho rằng có một cơ chế [thị trường tự do] tự động nào đó sẽ nhẹ nhàng điều chỉnh giúp duy trì trạng thái cân bằng chỉ khi chúng ta tin tưởng hoàn toàn vào các giải pháp theo trường phái thị trường tự do là một ảo tưởng giáo điều, bỏ qua những bài học kinh nghiệm lịch sử thất bại vì không dựa trên một lý thuyết hợp lý"[47].

    Kể từ cuộc khủng hoảng đồng peso Mexico năm 1994 đến nay, một vài nhà hoạch định chính sách thực dụng đã nhận thấy chỉ thị trường tự do thì chưa đủ ngăn chặn khủng hoảng trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Vì vậy họ ủng hộ việc có một người nào đó đảm nhận vai trò quản lý khủng hoảng nào đó để chấm dứt hiện tượng thị trường tài chính quốc tế dần mất tính thanh khoản và để “cứu trợ” các nhà đầu tư quốc tế. Năm 1994, bộ trưởng tài chính Mỹ là Robert Rubin đã ủng hộ Tổng thống Clinton đóng vai trò người quản lý khủng hoảng, bằng cách lấy tiền của Mỹ cho Mexico vay để giải quyết cuộc khủng hoảng đồng peso, qua đó bảo vệ được tài sản của những người đã mua trái phiếu Mexico trên thị trường quốc tế.

    Năm 1997, Thái Lan, Malaysia và các nước Đông Á đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng tiền tệ tàn phá nền kinh tế. Năm 1998, vụ vỡ nợ ở Nga đã gây ra một cuộc khủng hoảng khác, dẫn tới quỹ phòng tránh rủi ro mang tính đầu cơ Quản lý vốn dài hạn (LTCM) sụp đổ - một sự kiện hẳn sẽ khiến cho thị trường cổ phiếu Mỹ sụt giảm nghiêm trọng nếu như Cục Dự trữ liên bang không có phản ứng kịp thời. (Chúng ta nên lưu ý rằng trong số những người quản lý LTCM có Myron Scholes, người đã từng được trao giải Nobel kinh tế vì đã tìm ra công thức định giá rủi ro “phù hợp” trong điều kiện thị trường tài chính hiệu quả. Tuy nhiên, công thức của Scholes đã không thể cứu được những quyết định đầu tư sai lầm của LTCM).

    Khi xảy ra khủng hoảng vỡ nợ ở Nga và LTCM sụp đổ, Tổng thống Clinton đã yêu cầu phải xây dựng một “cấu trúc tài chính mới” cho các giao dịch trên thị trường tài chính quốc tế.

    Phó Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế là Stanley Fischer cũng nhận thấy IMF không có đủ tiền để ngăn chặn cuộc khủng hoảng đang diễn ra. Fischer đề xuất rằng các nước lớn trên thế giới, cụ thể là nhóm G-7 nên có một cơ chế tạm thời, trong đó họ sẽ cung cấp thêm nguồn tài chính để hỗ trợ cho các nước đang gặp phải thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế cho đến khi các nền kinh tế này ổn định lại. Việc Fischer kêu gọi các quốc gia G-7 tạm thời hợp tác cung cấp nguồn tài chính cho các nước bị thâm hụt cũng tương tự như việc tuyển một nhóm tình nguyện chữa cháy sau khi có tiếng hét báo cháy trong một nhà hát đông người. Nếu cuối cùng lửa có bị dập tắt thì tổn thất cũng đã rất lớn. Hơn nữa, cứ mỗi lần có một loại tiền bị “cháy” thì lại cần nhóm tình nguyện chữa cháy G-7 rót thêm tính thanh khoản cho thị trường để dập lửa. Rõ ràng cần có một mục tiêu lớn hơn, đó là xây dựng hệ thống phòng cháy lâu dài, chứ không phải dựa vào việc tổ chức ra những nhóm tình nguyện viên ngày càng đông hơn cho mỗi lần khủng hoảng tiền tệ. Nói cách khác, mục tiêu chính sách phải là ngăn chặn khủng hoảng chứ không chỉ là quản lý khủng hoảng.

    Khi Tổng thống Clinton khẩn thiết kêu gọi phải có một cấu trúc tài chính quốc tế mới thì hẳn ông đã hoàn toàn nhận thấy hệ thống thanh toán hiện tại cần được thay đổi và cải thiện thường xuyên. Không may là lời kêu gọi của Tổng thống Clinton không được quan tâm vì cộng đồng quốc tế đã xoay xở thoát được khỏi khủng hoảng bằng kinh nghiệm, mặc dù một số quốc gia và công dân các nước đó đã phải chịu những tổn thất nghiêm trọng về kinh tế.

    Từ năm 2007, chúng ta lại một lần nữa gặp phải tình trạng hệ thống tài chính quốc tế bắt đầu sụp đổ. Cuộc khủng hoảng các khoản vay dưới chuẩn đã gây ra một căn bệnh truyền nhiễm, tàn phá hệ thống ngân hàng ở rất nhiều nước trong đó có Đức, Anh, Pháp, Tây Ban Nha... Bệnh truyền nhiễm này cũng khiến cho toàn bộ hệ thống ngân hàng Iceland sụp đổ, và khi tôi đang viết cuốn sách này, ngay cả hệ thống ngân hàng Thụy Sỹ vốn thường được coi là mẫu mực về tính ổn định - cũng đang rơi vào tình thế đặc biệt khó khăn. “Cấu trúc tài chính quốc tế mới” đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

    Trong thế kỷ 21, khi mọi nền kinh tế đều phụ thuộc lẫn nhau thì điều cốt yếu là phải có sự hợp tác kinh tế sâu sắc giữa các nước tham gia thương mại. Kế hoạch cải cách hệ thống thanh toán quốc tế ban đầu của Keynes có kêu gọi thành lập một Ngân hàng trung ương siêu quốc gia. Trong những bài viết gần đây[48], tôi có một đề xuất nhẹ nhàng hơn cho cấu trúc tài chính mới. Tuy nhiên đề xuất của tôi cũng dựa trên những nguyên tắc kinh tế mà Keynes đã đưa ra ở Bretton Woods. Theo tôi, không cần thành lập một ngân hàng trung ương siêu quốc gia cho cả thế giới. Mục tiêu tôi đưa ra là hướng tới đạt được một thỏa thuận với những điều kiện nhẹ nhàng hơn, dễ được chấp nhận hơn trên trường quốc tế (có xét đến điều kiện chính trị của các nước hiện nay), trong đó không nước nào phải nhường quyền kiểm soát hệ thống ngân hàng trong nước hay chính sách tiền tệ và tài khóa của mình cho một tổ chức siêu quốc gia. Mỗi nước vẫn có thể tự định đoạt được vận mệnh kinh tế sao cho có lợi nhất cho người dân của mình, chừng nào nước đó không gây tác động tiêu cực lên cơ hội việc làm và tìm kiếm lợi nhuận của các nước đối tác thương mại khác.

    Chỉ cần có một tổ chức thực hiện nghiệp vụ kế toán kép khép kín để tính “điểm số” thanh toán giữa các nước, cộng với một vài quy định được thống nhất để giải quyết tình trạng mất cân đối mãn tính cán cân thương mại và thanh toán, đồng thời ngăn chặn những giao dịch tài chính quốc tế có nguy cơ phá vỡ sự ổn định của một nền kinh tế cũng như đe dọa nền kinh tế toàn cầu.

    Tôi gọi tổ chức quốc tế mới theo kế hoạch mà tôi đưa ra là Hiệp hội Thanh toán tiền tệ quốc tế (IMCU). IMCU yêu cầu mọi hoạt động thanh toán quốc tế, dù là mua hàng nhập khẩu hay dẫn vốn từ nước này sang nước khác đều phải đi qua tổ chức này. Ngân hàng trung ương mỗi nước sẽ phải lập một tài khoản ký thác ở IMCU. Khi đó, mọi hoạt động thanh toán của các tổ chức và cá nhân ở nước A cho các tổ chức và cá nhân ở nước B sẽ phải đi qua tài khoản của ngân hàng trung ương hai nước ở IMCU. Một khoản thanh toán của một công dân nước A cho một công dân nước B, khi đi qua IMCU sẽ được ghi có vào tài khoản của ngân hàng trung ương nước B và ghi nợ vào tài khoản của ngân hàng trung ương nước A. Mặc dù quá trình này nghe có vẻ phức tạp đối với người bình thường, nhưng nó đơn giản chỉ là phiên bản quốc tế hóa của quá trình thanh toán séc mà công dân ở một bang của Mỹ, ví dụ California, trả cho người ở bang khác, ví dụ New York. Khi đó séc được thanh toán thông qua cơ chế thanh toán bù trừ do Cục Dự trữ liên bang Mỹ đặt ra.

    IMCU chính là biến thể của Kế hoạch Keynes cho thế kỷ 21. Để kế hoạch này có hiệu lực cần ít nhất tám đề xuất kỹ thuật về cách thức giải quyết mọi vấn đề tài chính quốc tế có khả năng phát sinh mà chúng ta đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, trong phần thảo luận ở đây, chúng ta không cần quá đi sâu vào chi tiết kỹ thuật. Thay vào đó, chúng ta chỉ trình bày chi tiết các nguyên tắc của giải pháp theo trường phái Keynes - cơ sở cho việc thành lập IMCU để chấm dứt tình trạng mất cân đối cán cân thương mại kinh niên là cản trở sự di chuyển vốn không lành mạnh giữa các quốc gia, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế và đầy đủ việc làm trên toàn cầu.

    Mục tiêu của IMCU là:

    1. Ngăn chặn tình trạng thiếu cầu thị trường thế giới đối với sản phẩm của các ngành công nghiệp do thiếu thanh khoản khi có một (hay nhiều) nước dự trữ quá nhiều thu nhập từ nước ngoài nhưng lại tiết kiệm, không dùng đến. Nói cách khác, IMCU nên khuyến khích chi tiêu trên toàn thế giới, đủ để tạo động lực kiếm lợi nhuận cho các ngành xuất khẩu, đảm bảo tình trạng đầy đủ việc làm trên toàn cầu.

    2. Cung cấp cơ chế tự động đặt trách nhiệm giải quyết tình trạng mất cân đối thương mại quốc tế lên những nước thường xuyên có thặng dư xuất khẩu.

    3. Đem lại cho mỗi nước năng lực giám sát, và nếu muốn thì kiểm soát được tình trạng:

    a. Vốn tháo chạy[49] cũng như vốn di chuyển qua biên giới quốc gia với mục đích tránh thuế.

    b. Chuyển thu nhập từ các hoạt động phi pháp trong nước ra nước ngoài.

    c. Đưa tiền ra nước ngoài để tài trợ cho các tổ chức khủng bố.

    Trong phần thảo luận của chúng ta ở đây, nguyên tắc quan trọng nhất là điểm (1) và (2). Bản thân hệ thống IMCU phải có một cơ chế khuyến khích bất cứ nước nào đang thường xuyên có xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu cũng sẽ chi tiêu (trước) số tiền được cộng đồng quốc tế nhất trí cho là số dư có “vượt quá” (tức phần tiết kiệm), thể hiện bằng tài sản dự trữ có tính thanh khoản quốc tế trên tài khoản của nước đó ở IMCU. Số dư có (phần tiết kiệm được từ thu nhập từ nước ngoài của một quốc gia) này chính là nguồn tài chính mà nước chủ nợ đáng lẽ có thể sử dụng để mua hàng hóa của các nước khác sản xuất, nhưng họ lại gửi ở IMCU để tăng dự trữ ngoại hối. Nguyên tắc thứ nhất ở đây là khi một nước có dư có trên tài khoản ở IMCU thì có nghĩa là số dư có này đang gây ra thất nghiệp và làm mất cơ hội kiếm lợi nhuận của các doanh nghiệp ở nhiều nơi khác trên thế giới.

    Nguyên tắc của Keynes trong trường hợp này là phải nhận thấy rằng nếu nước chủ nợ chi tiêu số dư có của họ thì khoản chi đó sẽ tạo ra cơ hội kiếm lợi nhuận và tăng việc làm cho cả thế giới, do đó thúc đẩy quá trình tạo ra đầy đủ việc làm. Giải pháp của Keynes sẽ khuyến khích nước chủ nợ chi tiêu phần dư có theo ba cách sau:

    1. Mua sản phẩm của bất cứ nước nào khác là thành viên của IMCU,

    2. Thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước thành viên IMCU khác,

    3. Viện trợ nước ngoài cho các nước thành viên IMCU bị thâm hụt, tương tự như Kế hoạch Marshall trước đây.

    Nước chủ nợ được tự do lựa chọn bất cứ kết hợp nào trong ba cách nói trên để chi tiêu phần dư có trên tài khoản ở IMCU.

    Chi phần dư vào sản phẩm của bất cứ nước nào khác là thành viên của IMCU sẽ khuyến khích các nước có thặng dư thương mại giảm được mất cân đối cán cân thương mại bằng cách mua thêm hàng hóa của nước ngoài, do đó đem lại lợi nhuận và việc làm cho các nước khác. Có nghĩa là người dân và doanh nghiệp ở các nước đang bị thâm hụt thương mại và phải vay người nước ngoài bù đắp phần chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu sẽ có thu nhập cao hơn. Thực chất, chi tiêu theo cách (1) sẽ giúp nước thâm hụt có cơ hội thoát nợ nước ngoài nhờ bán thêm được hàng xuất khẩu cho chủ nợ và có thêm thu nhập.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi những nước có dư có trên tài khoản tại IMCU phải xây dựng nhà xưởng và mua trang thiết bị ở các nước bị thâm hụt, qua đó tạo lợi nhuận, việc làm và thu nhập cho ngành xây dựng của các nước đó. Nếu nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài là nước kém phát triển hơn thì đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp họ có được cơ sở hạ tầng sản xuất theo tiêu chuẩn thế kỷ 21.

    Viện trợ nước ngoài sẽ giống như tặng “quà” cho nước bị thâm hụt để họ có thể sử dụng món quà đó làm giảm nghĩa vụ nợ và/hoặc mua thêm hàng hóa từ nước ngoài mà không phải nợ nhiều hơn.

    Cả ba cách chi tiêu nói trên đều khuyến khích nước có thặng dư chấp nhận gánh trách nhiệm cân đối lại cán cân thương mại và thanh toán quốc tế. Tuy nhiên nước có thặng dư thương mại vẫn có được quyền chủ động đáng kể trong việc quyết định cách thức điều chỉnh mà họ tin là có lợi nhất cho người dân trong nước. Nhưng ba cách chi tiêu này lại không cho phép nước có thặng dư thương mại đặt thêm gánh nặng cho nước bị thâm hụt bằng cách cho các nước này vay thêm tiền, qua đó buộc họ có thêm trách nhiệm thanh toán nợ nằm ngoài khả năng của họ.

    Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng số tiền tiết kiệm quá mức thường xuyên của nước có thặng dư dưới dạng tài sản dự trữ có tính thanh khoản quốc tế không được trở thành sức ép làm suy yếu thêm nền kinh tế của các quốc gia khác và/hoặc đặt thêm gánh nặng nợ quốc tế, bào mòn nền kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21.

    Trong trường hợp trong một khoảng thời gian nhất định, nước có thặng dư thương mại không chi tiêu hoặc viện trợ bằng số dư có bị coi là “vượt quá" thì ban giám đốc IMCU được quyền tịch thu (và tái phân phối lại cho các quốc gia đang vay nợ) phần dư có vượt quá đó. Biện pháp cuối cùng này cũng giống như một loại thuế có thuế suất 100%, đánh trên tài sản có tính thanh khoản của một nước được cộng đồng quốc tế nhất trí rằng đã vượt quá mức độ cho phép. Vì việc một nước nắm giữ dư thừa các tài sản có tính thanh khoản trong một thời gian dài hàm ý rằng một hoặc nhiều nước khác đang có thâm hụt thương mại sẽ có thất nghiệp cao, nên nếu nước có thặng dư không chi tiêu phần tài sản dư thừa đó thì việc tịch thu phần dư có quá mức và chia cho các nước đang vay nợ sẽ có lợi cho họ. Đương nhiên nước có dư có vượt quá sẽ biết rằng phần dư thừa sẽ phải chịu thuế 100% nếu không đem số tiền đó ra chi tiêu. Vì vậy, rất ít khả năng sẽ phải sử dụng đến công cụ thuế này.

    Dù áp dụng chính sách tỷ giá cố định hay thả nổi, mỗi nước đều tự do quyết định nên nhập khẩu bao nhiêu. Nhưng đôi khi một số nước rơi vào thâm hụt thương mại lâu dài đơn thuần chỉ vì đối tác thương mại của họ không hưởng thụ toàn bộ số tiền thu được - vì những nước đối tác này liên tục tiết kiệm (tích trữ) một phần thu nhập từ xuất khẩu thay vì dùng số tiền đó mua thêm hàng hóa của nước ngoài. Khi làm như vậy, các quốc gia tiết kiệm đang gây ra tình trạng thiếu hụt cầu đối với các sản phẩm mà những ngành công nghiệp toàn cầu có thể sản xuất ra.

    Với nguyên tắc của Keynes trong đó đòi hỏi nước chủ nợ phải chi tiêu phần dư có vượt quá, các nước thâm hụt sẽ không còn phải thắt lưng buộc bụng, giảm thu nhập của người dân trong nước để cố gắng giảm nhập khẩu nhằm cân bằng lại cán cân thanh toán chỉ vì các nước khác quá tiết kiệm nữa. Thay vào đó, hệ thống mới sẽ tìm ra cách giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán bằng cách tạo cơ hội cho nước bị thâm hụt được bán hàng hóa ra nước ngoài để thu lợi nhuận, qua đó tự tìm cách thoát được ra khỏi tình trạng vay nợ ngày càng tồi tệ hơn.

    Hiện tại, khi khủng hoảng tài chính thế giới đang ngày càng trầm trọng, các quốc gia buộc phải nhận thấy rằng nếu chỉ đơn thuần vá víu hệ thống hiện tại bằng cách tăng sức mạnh cho IMF và WB hoặc động viên G-7 đóng vai trò nhóm chữa cháy tình nguyện một lần nữa thì sẽ không thể giải quyết được những vấn đề ngày càng nghiêm trọng trong thương mại và thanh toán quốc tế. Trong nhiều năm, hệ thống này đã rơi vào khó khăn trong khi chúng ta chỉ vá víu IMF và WB trong nỗ lực tuyệt vọng để chấm dứt tình trạng mất cân đối cán cân thương mại và thanh toán. Thế giới đã bỏ qua một cơ hội lớn vào năm 1944 khi Mỹ bác bỏ Kế hoạch Keynes ở Bretton Woods. Hy vọng rằng chúng ta sẽ không lãng phí cơ hội đó lần nữa.

    Khi kế hoạch phục hồi của Obama năm 2009 bắt đầu có tác động tích cực lên nền kinh tế thì Mỹ có thể một lần nữa trở lại vai trò là động lực tăng trưởng cho toàn thế giới. Tuy nhiên, kết quả sẽ là Mỹ nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, và cán cân thanh toán quốc tế của Mỹ lại ngày càng thâm hụt. Với hệ thống thanh toán hiện tại thì điều đó sẽ tạo nên bầu không khí sợ hãi, cho rằng đồng USD là dự trữ ngoại hối an toàn và có tính thanh khoản cao nhất. Sự sợ hãi này chỉ làm xói mòn thêm thị trường tài chính quốc tế và đẩy nền kinh tế toàn cầu lún sâu hơn vào suy thoái.

    Nếu điều đó xảy ra thì rõ ràng là càng cần thiết phải cải cách hệ thống thương mại và thanh toán quốc tế hiện tại - nếu chúng ta không muốn làm cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng hơn. Hy vọng rằng các nhà lãnh đạo của các nước lớn trên thế giới sẽ nhận ra điều đó trước khả năng này và sự cần thiết phải áp dụng một dạng nào đó của Kế hoạch Keynes - ví dụ IMCU - nếu nền kinh tế thế giới có thể phục hồi và quay trở lại thời kỳ thịnh vượng.

    Những trường hợp cần kiểm soát vốn

    Vì tương lai là không chắc chắn nên tại bất cứ thời điểm nào cũng có thể xảy ra một sự kiện (nhanh chóng hoặc lâu dài) khiến công dân của một nước cảm thấy bất định về triển vọng đời sống kinh tế sau này của họ. Trong thị trường tỷ giá thả nổi tự do, người dân của một nước đang lo ngại về tương lai sẽ có thể chuyển tiền tiết kiệm từ hệ thống ngân hàng trong nước sang hệ thống ngân hàng một nước khắc, nơi họ tin là an toàn hơn cho số tiền tiết kiệm của họ. Số tiền được chuyển sang nước khác trong nỗ lực tìm nơi cất giữ an toàn hơn của chủ sở hữu được gọi là “vốn tháo chạy”. Nếu có đủ nhiều người cùng lúc chuyển tiền từ trong nước ra một nước được cho là an toàn hơn thì hậu quả cũng tương tự như khi mọi người đồng loạt rút tiền khỏi một ngân hàng khiến cho ngân hàng đó sụp đổ.

    Trong trường hợp người dân đồng loạt rút tiền khỏi ngân hàng thì thường chỉ cần có chính sách bảo hiểm tiền gửi là đủ để chấm dứt hiện tượng này. Không may là không thể ngăn cản dòng vốn tháo chạy ra khỏi một quốc gia để tìm nơi an toàn hơn chỉ bằng bảo hiểm tiền gửi ở ngân hàng trong nước. Ngược lại, tình trạng vốn tháo chạy - nếu quá nhiều - có thể làm cho cả nền kinh tế trong nước sụp đổ khi ngày càng có nhiều người không mua hàng hóa nội địa nữa để có tiền mua tài sản nước ngoài có tính thanh khoản. Việc này gây ra sức ép suy thoái nặng nề lên nền kinh tế trong nước, khiến chính phủ càng khó thực hiện các chính sách nhằm ổn định nền kinh tế và ngăn chặn suy thoái hoặc khủng hoảng diễn ra.

    Vì theo đề xuất về IMCU của tôi, mọi dòng vốn di chuyển qua biên giới quốc gia đều phải đi qua ngân hàng trung ương và sau đó qua IMCU nên bất cứ nước nào, nếu muốn, cũng có thể theo dõi và ngăn chặn dòng di chuyển vốn này, bằng cách chỉ cần từ chối xử lý các giao dịch ngân hàng xuyên quốc gia thông qua tài khoản ký thác của ngân hàng nước đó ở IMCU. Mỗi nước đều có thể thực hiện một chính sách hiệu quả để hạn chế vốn chạy ra nước ngoài nếu vì lý do nào đó, chính phủ cho rằng hành động ngăn chặn này là vì lợi ích cao nhất của đất nước.

    Do đó, như chúng ta đã lưu ý trong chương 6, nếu hệ thống này có hiệu lực thì chính phủ Mỹ có thể cấm các ngân hàng đầu tư thiết lập các thị trường tài chính trong nước nếu không có người tạo lập thị trường đáng tin cậy để đảm bảo tính quy luật và tính thanh khoản. Với biện pháp kiểm soát vốn này, ngành dịch vụ tài chính Mỹ sẽ không còn phải lo ngại mất lợi nhuận vào tay đối thủ cạnh tranh nước ngoài - những công ty không phải tuân theo quy định của ủy ban Chứng khoán và ngoại hối khi ủy ban cấm các công ty tài chính Mỹ thực hiện một số hoạt động nhất định trên thị trường.

    Cuối cùng, mọi sự di chuyển của các dòng tiền thu được từ các hoạt động phi pháp, vốn đi từ nước này sang nước khác để tránh thuế hay tiền kiếm được ở một nước nhưng được chuyển sang nước khác để tài trợ cho các hoạt động khủng bố quốc tế đều phải đi qua ngân hàng trung ương và IMCU. Vì vậy, mỗi nước đều có điều kiện để giám sát - nếu muốn - và ngăn chặn - nếu cần - các dòng tiền chảy ra nước ngoài nói trên. Rõ ràng đây là một đặc điểm quan trọng trong kế hoạch IMCU vì nó cho phép mỗi nước đảm bảo với mọi công dân rằng không ai có thể lợi dụng hệ thống thương mại quốc tế để trốn nghĩa vụ thuế, đồng thời các chính phủ còn hạn chế được hoạt động tài trợ cho các tổ chức khủng bố, cũng như tấn công vào lợi nhuận của hoạt động buôn bán ma túy trái phép trên thế giới.