08. trang 240-271 @hhanhh(done)

23/7/15
08. trang 240-271 @hhanhh(done)
  • 4. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

    Lợi dụng kẽ hở của pháp luật: chỉ cấm các quốc gia chứ không cấm các cá nhân sở hữu đất đai trên các hành tinh, một công dân Mỹ đã tìm cách chiếm hữu và bán đất trên sao Hỏa. Ông này đã trở nên giàu có nhờ hành vi kinh doanh có một không hai này. Tuy nhiên, về bản chất, ông ta đã thành công không phải nhờ vào việc khai thác các lợi ích thực tế từ sao Hỏa, mà là nhờ vào việc khai thác những tiềm năng to lớn từ chế định sở hữu của con người. Chính quyền sở hữu đã làm cho những miếng đất bất khả tiếp cận ở trên sao Hỏa trở thành những thứ có giá trị về mặt kinh tế.

    Những gì đúng cho sao Hỏa xa xôi thì cũng đúng cho Trái đất của chúng ta. Với nhận thức này, chúng ta sẽ thấy một trong những vấn đề lớn nhất đối với các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là sự không rõ ràng về mặt sở hữu, hay chính xác hơn là tình trạng thiếu vắng hoàn toàn về động lực của chủ sở hữu. Điều này xảy ra do việc nhân cách hóa quyền chủ sở hữu cho Nhà nước là rất khó khăn. Nhà nước bao gồm rất nhiều cơ quan, rất nhiều người, nhưng lại không là một cơ quan hay một cá nhân nào cụ thể: không hoàn toàn là Quốc hội, cũng không hoàn toàn là Chính phủ, lại càng không phải là tòa án hay viện kiểm sát. Tình trạng này nhiều khi đã góp phần biến các DNNN thành đàn bò sữa trong vườn địa đàng, ai ai cũng lăm le vắt sữa, nhưng ít ai hôm sớm chăm nom, bảo vệ. Vậy thì, cổ phần hóa các DNNN chính là nhằm khắc phục tình trạng vô chủ nói trên.

    Công bằng mà nói, chế định sở hữu là một trong những vấn đề đau đầu, nhức óc của xã hội loài người (và loài người cũng đã phải trả giá cho nó rất nhiều trong quá trình phát triển của mình). Một mặt, quyền sở hữu là động lực của các hoạt động kinh tế là phép màu đứng ở đằng sau quá trình sáng tạo ra của cải vật chất và tích lũy sự giàu có. Mặt khác, nó lại bị coi là nguồn gốc của sự phân biệt giàu nghèo và sự bất công. Và lựa chọn giữa công bằng trong nghèo đói với giàu có trong bất bình đẳng bao giờ cũng là một sự lựa chọn hết sức khó khăn. Tuy nhiên, vẫn còn một sự lựa chọn hợp lý hơn là sử dụng động lực của sở hữu để làm ra của cải vật chất và tìm cách tái phân phối sự giàu có để hướng tới sự công bằng. (Thuế thu nhập lũy tiến là một trong những cách như vậy). Có lẽ, đây là sự lựa chọn anh minh nhất.

    Như vậy, cổ phần hóa DNNN là theo đuổi sự lựa chọn thứ ba này chứ không phải là việc bán tống bán tháo tài sản của Nhà nước hoặc việc chia phần theo kiểu nghiệp đoàn. Các cổ phần cần bán được cho những người có tiền, có tri thức và có mong muốn làm giàu. Theo cách này, Nhà nước sẽ thu được một khoản tiền lớn, doanh nghiệp sẽ có động lực mới để phát triển. Đây cũng là bài học mà các nước thực hiện chuyển đổi ở Đông Âu đã trả giá giùm cho chúng ta. Thực tế của những nước này cho thấy, việc chia đều cổ phần cho những người lao động đã không dẫn tới một động lực phát triển mới, cũng như không dẫn tới sự công bằng. Do cuộc sống khó khăn, những người lao động đã nhanh chóng bán lại các cổ phần của mình (thường là với giá bèo) cho một số tư nhân, và những khối tài sản khổng lồ của toàn dân đã bị chuyển đổi một cách hợp pháp vào tay những người này. Cả Nhà nước và người dân đều mất trắng. Bán các cổ phần của DNNN đúng giá cho những người có khả năng mua và dùng tiền thu được để giúp đỡ người lao động trong việc học nghề, tìm kiếm việc làm mới, nếu cần sẽ công bằng hơn nhiều.

    Ngoài ra, cổ phần hóa các DNNN còn cần được hiểu là quá trình thu hút thêm nguồn vốn, nguồn tri thức về công nghệ và thị trường, cũng như là quá trình mở rộng mối quan hệ làm ăn.

    Cuối cùng, cổ phần hóa các DNNN là một công việc khó khăn. Ngoài những vướng mắc về mặt kỹ thuật như việc định giá, như tính kém hấp dẫn của nhiều doanh nghiệp đối với thị trường, trở lực lớn nhất sẽ là sự chống đối của những người quen "vắt sữa bò miễn phí". Tuy nhiên, với quyết tâm cao và với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, chúng hoàn toàn có thể vượt qua những khó khăn này. Cứ nghĩ mà xem, nếu sao Hỏa vẫn có thể bán được thì tại sao các DNNN lại không?

    5. Độc quyền có lợi cho ai?

    Độc quyền kinh doanh là hành vi độc chiếm thị trường. Nó rất giống với việc đá bóng một mình một sân. Vinh quang rất ít, nhưng muốn thắng bao nhiêu bàn cũng được. Điều đáng nói là với cách đá bóng như vậy trong kinh doanh, đối tượng bị "làm bàn" vô tận là tất cả khách hàng, nghĩa là ít trừ một ai trong số chúng ta.

    Trước hết, Nhà nước là đối tượng bị "làm bàn" nhiều nhất. Với tư cách là khách hàng lớn nhất của rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ, Nhà nước đang chịu thiệt thòi lớn nhất do tình trạng độc quyền gây ra. Cứ nghĩ mà xem, nếu giá xi măng cung cấp cho các công trình xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách đắt hơn 25% so với giá của các nước trong khu vực, và trong năm nay Nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ bản lên tới trên 28 ngàn tỷ đồng thì thiệt hại Nhà nước phải gánh chịu là bao nhiêu tỷ đồng? Chưa biết chừng số tiền này sẽ đủ để xây cất hàng chục ngàn ngôi nhà tình nghĩa. Thế nhưng, xi măng không phải là thứ duy nhất Nhà nước phải mua. Nhà nước còn là khách hàng siêu lớn của điện, nước, xăng dầu v.v... và v.v... Ngoài ra, khách hàng này còn mua vô số các loại hành hóa, dịch vụ khác mà giá của chúng đã bị đội lên một cách không đáng có bởi các đầu vào độc quyền.

    Đối tượng thứ hai bị "làm bàn" là các doanh nghiệp. Với giá các đầu vào thường xuyên bị đội lên bởi hành vi độc quyền, giá thành hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp cũng vì thế mà bị đội lên tương ứng. Tuy nhiên, toàn bộ rủi ro nằm ở chỗ: thị trường chưa chắc đã chấp nhận điều này. Như vậy, các doanh nghiệp chỉ còn một lối thoát duy nhất là nhanh chóng tìm cách tiết kiệm và nâng cao năng suất tương ứng để bù đắp cho sự đắt đỏ của độc quyền. Những doanh nghiệp không làm được điều này sẽ nhanh chóng bị đẩy vào tình trạng phá sản và đây có thể là những cái chết rất oan khiên, những nạn nhân không đáng có của độc quyền. Nạn nhân tiếp theo rất dễ đoán ra là khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.

    Đối tượng bị "làm bàn" thứ ba là những người tiêu dùng bình thường. Trong lúc, tuyệt đại đa số những người này được trả lương theo thị trường lao động của Việt Nam, thì những loại hàng hóa, dịch vụ nằm ngoài sự điều tiết của thị trường là những rủi ro không thể tiên liệu trước. Mức sống, cũng như thu nhập của họ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự tăng giá độc quyền mà không có nguồn bù đắp.

    Thế thì ai được lợi bởi độc quyền kinh doanh? Tất nhiên, những doanh nghiệp đang giữ vị thế độc quyền. Điều dễ hiểu là một anh thợ cắt tóc không thể ra giá trên trời vì khách hàng sẽ lập tức từ bỏ anh ta để đến với một anh thợ cắt tóc khác đòi giá rẻ hơn. Chị bán hột vịt, cô bán đậu phộng v.v... đều phải tuân theo quy luật nghiệt ngã này. Tất cả các chủ thể kinh doanh đều chỉ có một sự lựa chọn duy nhất trong một thị trường cạnh tranh là phấn đấu nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Chính điều này làm cho kinh tế liên tục phát triển, và cuộc sống của chúng ta ngày càng dễ chịu hơn. Các doanh nghiệp chiếm giữ độc quyền thì lại không phải chịu sức ép phải cải tiến và nâng cao hiệu quả không ngừng. Tệ hơn nữa, họ có thể đưa toàn bộ sự yếu kém, thua lỗ, cũng như nhu cầu tái đầu tư của mình vào giá cả. Bằng cách này, vô hình trung tất cả chúng ta đều trở thành những người bù lỗ hoặc những người mua cổ phần không được hưởng cổ tức.

    Tuy nhiên, suy cho cùng độc quyền chỉ có lợi cho một số người đang nắm quyền kinh doanh hiện nay chứ về lâu về dài chưa hẳn đã có lợi cho các doanh nghiệp độc quyền. Với quá trình hội nhập đang diễn ra nhanh chóng, không biết Nhà nước còn bảo hộ cho các doanh nghiệp này được bao lâu nữa? Và trong cuộc cạnh tranh toàn cầu không tránh khỏi, những doanh nghiệp "cớm nắng" này sẽ tồn tại ra sao?

    6. Đấu thầu không phải là đấu giá

    Điều trước tiên chúng ta có thể nói về đấu thầu là: Nó không phải là đấu giá. Đấu giá thì có thể là "đấu" để mua, hoặc "đấu" để bán. "Đấu" để mua là trả giá cao nhất để giành quyền mua (thường là một tác phẩm nghệ thuật, hay một món đồ cổ). Điều này chỉ xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. "Đấu" để bán là chào giá thấp nhất đế bán được hàng. Trong cả hai loại "đấu" này, giá cả là tiêu chí duy nhất để xác định người chiến thắng. Đấu thầu không phải như vậy. Mục đích của việc đấu thầu là mua được thứ hàng tốt nhất có thể. Đây là cuộc cạnh tranh về cái sự tốt, hơn là cái sự rẻ. Nếu đấu giá coi trọng chuyện tiền nong, thì đấu thầu coi trọng chuyện chất lượng và ai cũng biết: "Tiền nào, của ấy". Hy vọng trúng xổ số trong đấu thầu là một hy vọng ngây thơ.

    Cách thức chọn thầu hiện nay dễ làm ta liên tưởng tới một câu ngạn ngữ đại ý: Đàn ông có thể trả 2 ngàn đồng để mua thứ chỉ đáng giá 1 ngàn đồng mà họ cần; đàn bà lại có thể trả 1 ngàn đồng để mua thứ đáng giá 2 ngàn đồng mà họ không cần. Câu ngạn ngữ này chưa chắc đã đúng trong cuộc sống, nhưng nó lại mô tả khá chính xác cái tạm gọi là (xin lỗi quý bà, quý cô) "tư duy đàn bà" của một số hội đồng chọn thầu các công trình giao thông, xây dựng hiện nay.

    Vấn đề của việc chọn thầu cũng giống như vấn đề của cuộc sống. Trong cuộc sống, cái chúng ta cần thường không rẻ, cái rẻ thường chúng ta không cần. Cách hành động hợp lý là cố gắng mặc cả và lựa chọn để mua được cái đáp ứng tốt nhất có thể nhu cầu của chúng ta, hơn là nhắm mắt mua cái có giá rẻ. Một nhà hát chèo không ai dám bước chân vào, một con đường xe không thể đi được, cho dù giá thấp bao nhiêu cũng chỉ là một sự lãng phí mà thôi.

    Bản chất sâu xa của việc đấu thầu là tìm phương án tối ưu cho sự cân đối giữa cái chúng ta cần và cái chúng ta có thể. Cái chúng ta cần được thể hiện trong những yêu cầu kỹ thuật đối với hàng hóa, dịch vụ. Cái chúng ta có thể - trong số tiền mà chúng ta có để mua hàng hóa, dịch vụ. Tương quan giữa cái chúng ta cần và cái chúng ta có thể là nguồn gốc của mối tương quan giữa chất lượng và giá cả. Đến lượt mình, tương quan này được cụ thể hóa bằng tỷ lệ số điểm dành cho phần kỹ thuật và cho phần giá cả của gói thầu. Muốn tiết kiệm, bạn có thể nâng tỷ lệ điểm dành cho phần giá lên. Muốn bảo đảm chất lượng, bạn hành động theo cách ngược lại - nâng tỷ lệ điểm cho phần kỹ thuật. Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, số điểm dành cho phần kỹ thuật thường chiếm 70 - 75% tổng số điểm chấm thầu. Điểm kỹ thuật được chia ra cho rất nhiều tiêu chí cụ thể: cho uy tín của công ty, cho giải pháp kỹ thuật, cho đội ngũ kỹ sư, cho loại thiết bị và công cụ được sử dụng, cho quy trình công nghệ, cho quy trình kiểm tra chất lượng v.v... Việc phân chia điểm càng chi tiết, thì hoạt động chấm thầu càng chính xác và có chất lượng. Một nhà thầu phải đạt được một số lượng điểm chuẩn về mặt kỹ thuật mới được xem xét, chấm điểm phần giá cả. Trong nhiều trường hợp, phần hồ sơ dự thầu về giá phải được đóng gói và niêm phong trong một phong bì tách riêng khỏi hồ sơ về kỹ thuật. Điều này giúp bảo đảm việc đánh giá gói thầu về mặt kỹ thuật được khách quan, không bị yếu tố giá rẻ tác động. Một chủ thầu để lẫn hồ sơ thầu về giá trong phong bì của hồ sơ về kỹ thuật sẽ bị loại vì phạm quy. Khi một chủ thầu không đạt số điểm chuẩn tối thiểu về kỹ thuật (thông thường là phải đạt 65 - 70% tổng số điểm kỹ thuật), thì coi như bị loại, và hồ sơ về giá sẽ không bao giờ được mở ra.

    Số điểm dành cho phần giá sẽ được tính như thế nào? Trước hết điểm dành cho phần giá chỉ chiếm khoảng 1/4 tổng số điểm chấm thầu. Đây là lý do tại sao giá cả không bao giờ là yếu tố quyết định trong một cuộc đấu thầu. Số điểm cao nhất về phần giá sẽ mặc nhiên thuộc về chủ thầu chào giá thấp nhất. Số điểm của các chủ thầu khác sẽ được tính theo công thức: Số điểm của một chủ thầu bất kỳ = tổng số điểm của phần giá x thương số giữa giá chào thấp nhất với giá chào của chủ thầu đó. Đây là công thức được Ngân hàng thế giới và các tổ chức quốc tế áp dụng trong việc đánh giá thầu. Bạn sẽ thấy, theo cách tính này, sự chênh lệnh về điểm ở phần giá sẽ không nhiều.

    Nhà thầu thắng cuộc là nhà thầu đạt được số điểm cao nhất (chứ không phải nhà thầu đạt trên 70% yêu cầu về kỹ thuật và có giá cả thấp nhất). Tổng số điểm một nhà thầu nhận được sẽ bằng số điểm kỹ thuật + số điểm giá cả.

    Cách thức tổ chức đấu thầu mà tác giả đã trình bày ở trên là theo thông lệ quốc tế. Chẳng ai bắt được chúng ta phải làm theo các nước cả, tuy nhiên, đây là một quy trình khá chuẩn. Với một hội đồng chấm thầu trung thực, khách quan và có trình độ chuyên môn cao, quy trình này sẽ là sự bảo đảm về chất lượng cho việc chọn thầu. Những công ty không có năng lực, những công ty chỉ biết phá giá theo kiểu "uống thuốc độc" sẽ không bao giờ thắng thầu trong một quy trình chọn thầu như vậy.

    Cuối cùng, đổi mới cách thức tổ chức đấu thầu là nhiệm vụ quan trọng và thiết thực của chương trình cải cách hành chính. Một quy trình chọn thầu khoa học và minh bạch sẽ góp phần khắc phục sự lãng phí và tệ tham nhũng. Không gì vô vọng bằng việc chúng ta vẫn tiếp tục dành hợp đồng cho các công ty bỏ giá thấp một cách không bình thường và sau đó cho phép họ thay đổi thiết kế để bổ sung kinh phí. Cách làm này chưa biết chừng sẽ biến việc đấu thầu thành một cuộc trình diễn tốn kém mà chẳng để làm gì.

    7. Bán đấu giá quyền sử dụng đất

    Muốn xác định giá trị thực của một tài sản thì cách làm đáng tin cậy nhất là tổ chức bán đấu giá tài sản đó trên thị trường. Thị trường thay đổi, giá trị thực của thời điểm này, có thể sẽ không thực cho thời điểm khác. Tuy nhiên, tại một thời điểm cho trước, mức giá cao nhất được trả chính là giá trị thực mà chúng ta tìm kiếm.

    Sử dụng cách làm xưa cũ này để bán quyền sử dụng đất không phải là việc khám phá ra châu Mỹ. Tuy nhiên, nó đánh dấu một bước tiến dài trong cách thức quản trị tài sản quốc gia ở đất nước ta. Dưới đây là những điều lợi dễ thấy của cách làm này:

    Một là, góp phần khắc phục tình trạng xin - cho trong việc phân bổ các nguồn lực của quốc gia. Mà đã xin - cho thì khó tránh khỏi những tiêu cực đi kèm như chạy chọt, hối lộ, tham nhũng và bất công.

    Hai là, tối ưu hóa giá trị kinh tế cũng như giá trị sử dụng của các tài sản quốc gia. Bằng việc bán đấu giá, quyền sử dụng đất sẽ được trao vào tay những người chủ phù hợp nhất: những người không chỉ có mong muốn, mà còn có khả năng. Của dân cũng như của Nhà nước, đất đai được sử dụng đạt hiệu quả cao nhất sẽ góp phần làm nên sự giàu có chung của cả quốc gia.

    Ba là, Nhà nước có được một nguồn thu lớn để phát triển cơ sở hạ tầng công cộng, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, y tế và trợ giúp cho người nghèo. So với việc chia đều (mà chúng ta chưa bao giờ làm được), đây là cách thức bảo đảm công bằng xã hội thực chất hơn. Việc nguồn kinh phí khổng lồ này có thể phục vụ các mục đích phát triển hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào năng lực quản trị quốc gia của chúng ta. Nhưng đây lại là một câu chuyện khác.

    Bốn là, bảo đảm sự minh bạch trong việc chuyển giao các tài sản quốc gia. Trong khi ai ai cũng cần có đất, việc tại sao giao đất cho đối tượng này, mà lại không giao cho đối tượng kia là điều rất khó giải trình. Chuyển giao quyền sử dụng đất cho người trả giá cao nhất là cách làm không chỉ sòng phẳng nhất, mà còn không để lại những khoảng tối cho nghi ngờ và suy diễn.

    Năm là, khắc phục tính chất hai mặt của đời sống xã hội: nói là đền bù nhưng thực chất là mua; nói là cấp đất nhưng không chi sẽ khó lòng có đất... Một cuộc sống thực là hết sức cần thiết để dân tộc ta vượt qua những rủi ro không đáng có và hội nhập với thế giới.

    Tuy nhiên, đã tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất thì phải tiến hành công việc này theo đúng luật chơi. Cách làm nửa vời sẽ tiếp tục để lại những khoảng trống cho tiêu cực và tham nhũng. Ví dụ, nếu giá trị thực của quyền sử dụng đất ở tại xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội tại phiên đấu giá quyền sử dụng đất ngày 19/7/2003 là 21,3 triệu đồng/m2 thì không nên bán với giá 16,6 triệu đồng/m2. Ma lực của sự chênh lệch này chưa biết sẽ dẫn tới những tiêu cực gì.

    Cuối cùng, luật chơi quan trọng số một của đấu giá là công khai, minh bạch. Thông tin phải được cung cấp đầy đủ nhất và kịp thời nhất cho bất cứ ai muốn tham gia.

    8. Để đất đai mang lại sự giàu có

    Tư bản là tiền đẻ ra tiền. Bất động sản là đất đai (và các công trình trên đó) sinh ra lợi nhuận. Những điều này xảy ra dưới tác động của thị trường. Như vậy, muốn đất đai mang lại sự giàu có, chúng ta cần phải có thị trường bất động sản.

    Ở nước ta, "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu". Trong trường hợp này, đất đai được gọi là "tài nguyên quốc gia". Mà tài nguyên thì không thể trực tiếp trở thành hàng hóa. Thế nhưng, quyền sử dụng đất lại là một câu chuyện khác. Quyền này hoàn toàn có thể trở thành tài sản và hoàn toàn có thể mua bán, trao đổi được như một thứ hàng hóa ở trên thị trường.

    Như vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các nhà làm luật là đề ra được các quy chuẩn và thủ tục cần thiết để "đóng gói" quyền sử dụng đất thành một loại hàng hóa thật sự. Chúng ta cũng không nhất thiết phải tranh cãi với nhau quá nhiều về quyền sở hữu đất đai. Chế định sở hữu là một thành tựu vĩ đại của tư duy pháp lý La Mã. Tuy nhiên, những gì đúng cho cả ngàn năm trước đây, thì không nhất thiết sẽ đúng cho ngày hôm nay khi thế giới đã hoàn toàn thay đổi. Với tài sản vô hình, loại tài sản quan trọng nhất trong nền kinh tế hiện đại (như quyền tác giả, bản quyền, mối quan hệ với khách hàng v.v...), chế định sở hữu chỉ là một thứ đồ cổ, một công cụ pháp lý vụng về và kém hiệu năng. Pháp luật về quyền tài sản, đặc biệt là quyền tài sản trí tuệ và tài sản tri thức mới là cái cần được phát triển và ứng dụng trong thế giới hôm nay.

    Để biến quyền sử dụng đất thành một thứ tài sản trao đổi được trên thị trường, có mấy việc quan trọng cần làm:

    Một là, cải tiến một cách cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hàng chục năm qua, ở các thành phố, chúng ta mới chỉ cấp được khoảng trên dưới 20% sổ đỏ cho dân (một sự chậm trễ không thể nào biện hộ!). Điều này xảy ra có thể do những quy định pháp lý hiện hành phiền hà, rối rắm và bất khả thi, hoặc do năng lực hạn chế và sự tiêu cực của đội ngũ quan chức làm địa chính. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này cần làm rõ đâu là nguyên nhân chính và tìm cách loại bỏ. Về bản chất, cấp sổ đỏ chủ yếu là xác nhận quyền sử dụng đất thực tế mà người dân đang có, chứ không phải là việc ban phát đất đai. Vậy thì, việc này cần phải được làm ngay khi không có tranh chấp. Không thể có một thị trường bất động sản phát triển, nếu 80% lượng hàng hóa không đủ điều kiện tham gia các giao dịch chính thức.

    Hai là, xây dựng một hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất phát triển và hiện đại. Quyền sử dụng đất của các chủ thể khác nhau phải được thể hiện trong đó với những thông tin đầy đủ nhất. Điều này sẽ góp phần làm hiển thị giá trị của từng khối bất động sản nhằm phục vụ cho các giao dịch như mua bán, cho thuê, thế chấp v.v... Và đất đai, nhà cửa nhờ đó mà "có một cuộc sống song song với tư cách là tư bản nằm bên ngoài thế giới vật lý" (Hermando De Soto). Đây chính là cơ sở quan trọng nhất để đất đai mang lại sự giàu có cho chúng ta! Như vậy, trong Luật Đất đai (sửa đổi), Quốc hội cần giao công việc này cho một cơ quan chuyên môn và cung cấp đầy đủ tài chính cho cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ. Với công nghệ thông tin hiện đại, đây là một công việc hoàn toàn có tính khả thi.

    Đất đai là tiềm lực lớn nhất của đất nước ta. Phải xây dựng mọi cơ sở pháp lý cần thiết để hiện thực hóa tiềm lực to lớn này.

    9. Bất động sản: Những tai biến của việc không có thị trường

    Trái ngược với mọi dự đoán của các nhà nghiên cứu và cố gắng của các cơ quan quản lý, giá nhà, đất ở các thành phố, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, vẫn tiếp tục tăng cao, một sự "liên tục phát triển" "ngoạn mục" chưa từng thấy. Thị trường này đang phát ra cho chúng ta tín hiệu gì đây?

    Thông thường, sự đắt đỏ là tín hiệu của tình trạng khan hiếm. Phải chăng thị trường bất động sản đang mách bảo chúng ta rằng quan hệ cung - cầu đang bị mất cân đối nghiêm trọng: cầu quá lớn mà cung thì quá nhỏ?

    Có vẻ không phải như vậy. Nếu có dịp dạo quanh các khu nhà cao tầng mới xây như Linh Đàm, Định Công v.v..., bạn sẽ thấy rất nhiều căn hộ bị bỏ không. Các chủ nhà đã mua và đóng cửa để đấy. Họ có nhu cầu mua, nhưng hoàn toàn không có nhu cầu ở. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với rất nhiều khu đất được phân lô để xây nhà ở. Như vậy, cầu không phải là nguyên nhân của việc tăng giá. Cơ chế thị trường, "bàn tay vô hình" của Adam Smith đã không giúp được gì cho chúng ta ở đây. Trên thực tế đây là lĩnh vực chúng ta đang thiếu một "bàn tay vô hình", nhưng lại thừa quá nhiều "bàn tay hữu hình".

    Theo lý luận của Adam Smith, thị trường phát ra tín hiệu về sự khan hiếm bằng cách tăng giá. Khi giá tăng, các nhà kinh doanh sẽ nhanh chóng nhảy vào đầu tư để khai thác cơ hội làm giàu "trời cho". Điều này sẽ đẩy cung lên và kéo giá giảm xuống. Với sự thiên tài của "bàn tay vô hình", thị trường luôn luôn đạt tới sự cân đối giữa cung và cầu. Cơ chế điều phối giản dị và hiệu năng này rõ ràng đã không vận hành ở ta, ít nhất là trong lĩnh vực nhà đất.

    Trở lại với việc giá nhà đất tăng cao. Nhiều người cho rằng giá bất động sản tăng cao là do "người thì cứ đẻ ra mãi, còn đất thì không thể đẻ ra được". Lập luận này mới nghe thấy có lý. Tuy nhiên, mọi nguồn lực trên Trái đất này đều được kinh tế học coi là nguồn khan hiếm. Không có bất cứ một loại nguồn nào là vô tận cả, từ dầu lửa, than đá đến nước, không khí... "Người thì cứ đẻ ra mãi, còn dầu lửa thì không thể đẻ ra được", thế nhưng cứ hễ OPEC tăng sản lượng khai thác (tăng cung), giá dầu lửa trên thế giới sẽ lập tức giảm xuống. "Người đẻ, đất không đẻ" rõ ràng không phải là một lập luận đáng tin cậy.

    Giá cả nhà đất tăng đột biến có lẽ chủ yếu do đầu cơ. Với lãi suất ngân hàng thấp, thị trường vốn không phát triển, việc tham gia thị trường khó khăn và rủi ro trong kinh doanh cao, lượng tiền dư thừa trong dân đang được đầu tư chủ yếu vào nhà đất. Thêm vào đó, lợi nhuận khổng lồ do những cơn sốt triền miên mang lại và niềm tin ngây thơ vào sự chắc ăn của hình thức đầu tư này (nhiều người đã quên mất sự xuống giá thảm hại của bất động sản trong nửa cuối của những năm 1990) là những thứ "dầu" đổ thêm vào ngọn lửa đam mê bất tận về nhà đất, hình thành nên một thứ "cầu" kỳ lạ: cầu đầu tư vào nhà đất. Thứ cầu "biến đổi gen" và khổng lồ này chính là cái đã đẩy giá nhà đất lên trời.

    Hậu quả của cơn sốt nhà đất thật là nghiêm trọng. Những nạn nhân trước tiên (và bao giờ cũng vậy) là những người nghèo. Ước mơ cải thiện nhà ở của hàng vạn người có thu nhập thấp, sống chui rúc trong các khu phố ổ chuột đang ngày càng trở nên xa vời. Trong thời kỳ Đổi mới, thu nhập của những người này có được nâng lên một bước, tuy nhiên, sự nâng lên này là không thể so sánh được với sự lên giá của nhà đất. "Đói ăn vụng, túng làm liều", các hiện tượng tiêu cực như tình trạng cơi nới nhà cửa bất chấp quy hoạch, việc lấn chiếm đất công và sự xuất hiện của các xóm liều có phần do giá nhà đất quá cao.

    Nạn nhân tiếp theo là các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng công cộng của Nhà nước. Chỉ cần nhớ lại dự án cải tạo không thành tuyến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa nối với sân bay Tân Sơn Nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy số tiền đền bù để giải phóng mặt bằng có thể lớn đến chóng mặt (hơn 2 ngàn tỷ đồng so với số tiền để cải tạo con đường chỉ khoảng mấy trăm tỷ đổng). Với các chi phí đền bù như vậy, việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông công cộng, việc xây dựng trường học, bệnh viện ở các thành phố lớn là hoàn toàn bế tắc. Không một ngân sách nào có thể chịu đựng nổi. (Trong lúc, việc đền bù để giải phóng mặt bằng chỉ được người dân chấp nhận nếu giá đền bù tương ứng với giá thị trường, điều quan trọng không phải là tìm cách thương lượng một mức đền bù thấp hơn, mà là tìm cách hạ nhiệt của thị trường bất động sản).

    Nạn nhân thứ ba là các doanh nghiệp. Giá đất quá cao sẽ rất khó khăn cho việc thuê đất, đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng nhà xưởng. Hậu quả tiếp theo là giá thành sản phẩm sẽ bị đội lên. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ bị giảm sút.

    Nạn nhân sau cùng sẽ xuất hiện khi thị trường bất động sản nhân tạo của chúng ta đổ vỡ. Một số lượng tiền bạc khổng lồ của xã hội đã được đầu tư vào nhà đất. Tuy nhiên, giá trị thổi phồng của bất động sản có thể chỉ là một giá trị ảo. Khi nhà đất trở về với giá trị thực của chúng, nhiều người sẽ nhận ra rằng, phần lớn tiền bạc của họ đã đội nón ra đi.

    Để vượt qua những bất trắc nói trên của con sốt nhà đất, điều quan trọng là phải hình thành được thị trường bất động sản của nước ta càng sớm càng tốt. Trong một thị trường vận hành theo quy luật của cung - cầu, mọi thứ sẽ trở về với giá trị thật của chúng. Tuy nhiên, cũng như các phần mềm máy tính, để có thể giao dịch được trên thị trường, đất đai phải được "đóng gói" thích hợp. Nghĩa là, trước hết, các bản đồ và hồ sơ địa chính với sự chứng nhận quyền sử dụng đất phải được hoàn thành nhanh chóng. Đây là một trong những điều quan trọng nhất mà việc sửa đổi Luật Đất đai cần hướng tới. Không thể có một thị trường, mà trong đó người ta không biết sẽ mua bán loại hàng hóa gì.

    10. Quy hoạch theo phong trào?

    Các phiên chất vấn rồi cũng qua đi. "Lời nói gió bay", phấn khởi thì vẫn còn đọng lại. Điều đáng phấn khởi nhất là sự khẳng định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước toàn thể quốc dân đồng bào rằng ở ta không có hiện tượng quy hoạch theo phong trào và cũng không có chuyện quy hoạch sai.

    Sự khẳng định này chắc chắn đã giúp cho các vị đại biểu Quốc hội (và tất cả chúng ta) trút bỏ được gánh nặng của nỗi lo lắng không đâu về những lãng phí khổng lồ liên quan đến công tác quy hoạch, chính xác hơn, đến sự yếu kém của nó.

    Công bằng mà nói, sự lo lắng của các vị đại biểu Quốc hội không phải là không có cơ sở. Cứ thử nhìn vào những chiếc cầu vượt được xây dựng dọc theo đường cao tốc số 5 Hà Nội - Hải Phòng thì bạn sẽ thông cảm ngay với sự lo lắng này. Rõ ràng, những chiếc cầu này được quy hoạch để làm gì là điều không dễ đoán ra: để trang trí thì chúng quá thô kệch; để vượt đường cao tốc thì chẳng thấy bóng dáng một ai qua lại trên đó. Hay việc trồng dứa ở tỉnh Thanh Hóa chẳng hạn. Dứa đã được trồng bạt ngàn và đã đến mùa thu hoạch, thế nhưng nhà máy chế biến thì lại chẳng thấy đâu. Việc dứa chế biến xong thì bán cho ai chắc còn là chuyện xa vời hơn nữa. Những quy hoạch nho nhỏ như nói ở trên thấy đã khó đúng, không biết những quy hoạch rất lớn, rất tổng thể thì sẽ ra sao?

    Thực ra, có hai cơ chế điều chỉnh sự phát triển của một đất nước: Cơ chế kế hoạch hóa và cơ chế thị trường. Cơ chế kế hoạch hóa có ưu điểm là nó giúp chúng ta hoạch định nền sản xuất theo ý muốn của mình. Tuy nhiến, nếu chúng ta không có ý định phân phối những sản phẩm làm ra, mà lại muôn bán chúng như hàng hóa ở trên thị trường thì rủi ro sẽ rất lớn. Đơn giản, ý muốn của chúng ta chưa hẳn đã là ý muốn của thị trường. Thị trường muốn và không muốn rất nhiều thứ. Gắn với điều này là vô vàn những cơ hội và vô vàn những rủi ro. Điều đáng băn khoăn nhất là kế hoạch hóa (đặc biệt là theo mô hình tập trung, quan liêu, bao cấp) không phải là công cụ hiệu năng để nắm bắt những cơ hội vụt đến và vụt trôi qua, cũng như để quản trị những rủi ro tồn tại ở rất xa những chiếc bàn giấy. Đó là chưa nói đến sự tách biệt hoàn toàn giữa những người hưởng lợi (nếu như trường hợp ngược lại không xảy ra). Thế nhưng, nắm bắt các quy luật của thị trường, các biến động của cung cầu để phát triển sản xuất kinh doanh lại không phải là thế mạnh của các nhà quy hoạch. Các nhà kinh doanh làm việc này giỏi hơn. Ngoài ra, họ còn bị ràng buộc bởi lợi ích và trách nhiệm. Và kinh doanh bằng tiền của mình thì sự ràng buộc này càng chặt chẽ hơn kinh doanh bằng tiền của Nhà nước.

    Thị trường có thể câm lặng với tất cả những gì chúng ta sản xuất ra. Chỉ có điều mỗi cơ chế đều có những ưu điểm và khuyết điểm nhất định. Thực ra, khi đã chuyển sang cơ chế thị trường (cho dù có sự quản lý của Nhà nước), việc quy hoạch thay thị trường là một việc làm khó khăn. Theo cách làm của chúng ta hiện nay, những người làm kế hoạch thường phải chịu sức ép rất lớn từ các địa phương. Lý do là các nhà máy lớn thường đưa lại những khoản thu rất lớn cho các địa phương, vì vậy một địa phương có nhà máy bia thì địa phương khác cũng muốn có. Tại sao tỉnh A được xây nhà máy đường mà tỉnh chúng tôi lại không? Sức ép này rất lớn còn do những lợi ích mà các nhà máy có thể mang lại cho các địa phương.

    11. Không thể đoán trước - khó có thể kinh doanh

    Cách hành xử không thể đoán trước của chính quyền là rủi ro rất khó khắc phục trong chuyện làm ăn. Đối với bà Trần Thị Huệ Khanh quê ở thành phố Long Xuyên, tinh An Giang (xem: Kinh doanh và quyền... của tác giả Hoàng Đăng Tý, báo Người đại biểu nhân dân, số 52, ngày 25/9/2002), thì đó là một tai họa.

    Câu chuyện có thật này được kể như sau: Năm 2001, bà Trần Thị Huệ Khanh xin kinh doanh nhà hàng nổi, và được Sở Giao thông Vận tải, Sở Thương mại, phòng Quản lý Đô thị đồng ý; ủy ban nhân dân tỉnh cho phép (Công văn số 367/CV-UB). Bà Khanh đã đầu tư vào dự án kinh doanh này 3 tỷ đồng bằng cách bán nhà, bán đất và vay nợ ngân hàng. Gần đến ngày khai trương, ủy ban nhân dân tỉnh gửi thêm cho bà một công văn nữa. Công văn này ra lệnh: "Dừng việc triển khai kinh doanh dự án này vì vấn đề môi sinh, môi trường và cảnh quan thành phố". Cách hành xử không thể đoán trước được này của chính quyền đã đẩy bà Khanh vào tình trạng phá sản hoàn toàn. Gần hai năm qua, khổ chủ đã chạy khắp các cơ quan Nhà nước để tìm công lý. Văn phòng Quốc hội đã 3 lần gửi công văn, Văn phòng Chính phủ gửi 2 lần, đề nghị chính quyền địa phương xem xét, giải quyết khiếu nại của bà Khanh. Và cách hành xử không thể đoán trước lại xảy ra: chính quyền địa phương không có ý kiến trả lời.

    Câu chuyện về sự rủi ro của công dân Trần Thị Huệ Khanh nói lên rất nhiều điều. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ xin trao đổi về những điều liên quan đến môi trường kinh doanh.

    Trước hết, trong một xã hội phát triển, cách hành xử của chính quyền phải đoán trước được. Bỏ qua những chuyện cao xa về quyền "mưu cầu hạnh phúc" và khả năng hoạch định tương lai của người dân, nó là phần cấu thành quan trọng nhất của một môi trường kinh doanh lành mạnh. Làm ăn thì phải tính toán, làm giàu càng phải tính toán nhiều hơn. Tuy nhiên, không ai có thể tính toán gì được, khi ẩn số về cách hành xử của chính quyền vẫn còn bỏ ngỏ.

    Để khắc phục khiếm khuyết nói trên, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Theo hướng này, cách hành xử của chính quyền đang được pháp luật điều chỉnh ngày một chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn quá độ, sự "tùy hứng" vẫn còn xảy ra dưới nhiều hình thức. Dưới đây xin được kể ra một vài hình thức cụ thể:

    Một là, thay đổi quyết định một cách đột ngột. Ví dụ: Quy hoạch năm trước, năm sau có thể bị điều chỉnh; đường hai chiều có thể bị chuyển thành một chiều vào ngày hôm sau và ngược lại v.v... Ví dụ cụ thể nhất là về cách thức thay đổi quyết định đối với dự án kinh doanh của bà Khanh. Hậu quả của việc thay đổi quyết định này, có lẽ, không cần phải bình luận gì thêm.

    Hai là, ban hành quyết định không tính đến thì hiệu. Ví dụ quyết định về việc đăng ký lại xe máy ở thành phố X (quyết định này đã bị cấp trên bãi bỏ); quyết định về chế độ đội mũ bảo hiểm bắt buộc (bị hủy bỏ một phần và ít có hiệu lực trên thực tế). Những quyết định không tính đến thì hiệu thường đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng cười ra nước mắt: Chạy mãi mới có được quota, nhưng chưa kịp ký hợp đồng thì đã có lệnh cấm nhập khẩu.

    Ba là, các quyết định không được thực hiện một cách nhất quán. Xin lấy lại ví dụ về việc đội mũ bảo hiểm bắt buộc. Được khích lệ bởi quyết tâm của chính quyền áp đặt việc đội mũ, nhiều doanh nghiệp sản xuất mũ xe bảo hiểm đã huy động vốn đầu tư mở rộng sản xuất. Họ nhắm vào một thị trường mũ bảo hiểm hết sức to lớn. Tuy nhiên, đây chỉ là một thị trường hoàn toàn ảo, nếu chính quyền hành động theo cách "đánh trống, bỏ dùi".

    Bốn là, các quyết định không tạo ra tiền lệ. Ví dụ, nhà lỡ xây có thể được hợp thức hóa. Nhưng chớ vì thế mà bạn xây nhà của mình theo cách đó, vì nó có thể bị phá bỏ. Việc kinh doanh nhà hàng nổi được cho phép ở khắp nơi trong nước đã không tạo ra tiền lệ cho bà Khanh.

    Vấn đề thậm chí không nằm ở sự khó tính của chính quyền. Nếu việc không cho phép kinh doanh nhà hàng nổi là điều đoán trước được, bà Khanh đã có thể: a. Không phải chạy lo các thủ tục, nhờ vậy mà tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền của. b. Lựa chọn hình thức kinh doanh khác phù hợp hơn. Với 3 tỷ đồng, người ta thường có khá nhiều cơ hội để lựa chọn.

    Sự đoán trước được của chính quyền là một thuộc tính của pháp quyền. Điều này đạt được nhờ vào những yếu tố sau đây:

    1. Pháp luật xác lập một hành lang chặt chẽ và tương đối hẹp cho việc hành xử của chính quyền. "Các công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, nhưng các quan chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép." (Nhân đây, có vẻ như pháp luật của nước ta không cấm việc kinh doanh nhà hàng nổi). Pháp luật càng cho một chính quyền ít phép bao nhiêu, tính đoán trước được của chính quyền đó càng cao bấy nhiêu và ngược lại.

    2. Ban hành quyết định phải dựa trên những nguyên tắc và thủ tục được xác định trước. Đồng thời, những nguyên tắc và thủ tục đó là không thể bị sửa đổi "giữa cuộc chơi". Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc ban hành quyết định là bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lý. Đối chiếu với nguyên tắc này, cách ban hành quyết định đối với bà Khanh là rất khó biện minh.

    3. Xác lập chế độ trách nhiệm của chính quyền đối với quyết định của mình. Ở đây, ngoài trách nhiệm về chính trị, về kỷ luật, về hành chính và tài chính, công luận thường coi trọng trách nhiệm giải trình.

    4. Bảo đảm tính minh bạch trong việc ban hành quyết định. Người dân phải có quyền tiếp cận các thông tin, cũng như các tư liệu, số liệu là cơ sở cho việc quyết định.

    5. Bảo đảm sự tham gia của người dân. Bà Khanh nên được tham khảo ý kiến và tốt hơn hết, được tham gia bàn bạc để cùng chính quyền xử lý vấn đề. Suy cho cùng, nếu quyết định tại Công văn 367/CV-UB là sai trái, cần phải hủy bỏ và thay thế bằng một quyết định khác thì bà Khanh đâu phải là người có lỗi.

    Rút cuộc, việc bà Khanh đã không tìm được cách nào để giải quyết nỗi oan của mình sau gần hai năm gõ cửa các cơ quan Nhà nước đang nói lên một vấn đề rất lớn của môi trường kinh doanh. Đó là vấn đề công lý. Hệ thống công lý hiệu năng, nhanh nhạy và dễ tiếp cận được coi là phần cấu thành không thể thiếu của một môi trường kinh doanh lành mạnh. Tuy nhiên, đây là một vấn đề quá to tát đối với tác giả, cũng như phần viết này.

    12. Tư nhân cũng là quốc dân

    Quá trình đổi mới diễn ra trước hết trong đầu và trong tim chúng ta. Với nhận thức ngày càng sáng tỏ và con tim ngày càng nồng ấm, xã hội ta đã bắt đầu thay đổi cách nhìn nhận và cư xử đối với thành phần kinh tế tư nhân. Hội nghị sơ kết 4 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp (3 - 4/11/2003) diễn ra tại Hà Nội, có lẽ, đã thật sự đánh dấu thời khắc quan trọng này của quá trình đổi mới.

    Về nhận thức, vai trò quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân đã được ghi nhận. Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Kinh tế tư nhân từ xuất phát điểm không có gì đến nay đã chiếm 40% GDP (tổng sản phẩm trong nước), cao hơn cả doanh nghiệp Nhà nước (chỉ chiếm khoảng 38% GDP)" (Báo Tuổi trẻ, ngày 4 tháng 11 năm 2003).

    Từ khi Luật Doanh nghiệp được ban hành đến nay đã có thêm 75.000 doanh nghiệp tư nhân ra đời với số vốn đăng ký gần 10 tỷ USD. Tuy nhiên, thành tựu đáng ghi nhận nhất vẫn là các doanh nghiệp này đã tạo thêm 2 triệu việc làm mới. Đối với một quốc gia, sự phát triển và thịnh vượng được xác định bằng tỷ lệ người dân có việc làm và có thu nhập hơn là số tiền lãi thu được của các công ty. Cũng tương tự như vậy, trong nền kinh tế thị trường, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi chính sách kinh tế là giải quyết việc làm hơn là hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất. Tiền của tách khỏi con người không có nghĩa gì đối với thiên chức của Nhà nước. Vậy thì, không biết Nhà nước đã giúp được những gì cho các doanh nghiệp tư nhân, nhưng rõ ràng các doanh nghiệp này đã giúp Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mình là giải quyết việc làm. (Cũng cần nói thêm rằng, trong cùng thời gian, các doanh nghiệp Nhà nước hầu như không thu hút thêm được một số lượng lao động đáng kể nào, mặc dù vẫn sử dụng phần lớn các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước).

    Ưu thế dễ nhận thấy của thành phần kinh tế tư nhân là động lực của lợi ích tồn tại 24/24 giờ trong ngày. Trong lúc đó, động lực này là lúc có, lúc không (mà thường không thì nhiều hơn là có) đối với thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể) thậm chí đối với cả các quan chức hành chính. Mà con người thiếu động lực thì cũng giống như chiếc xe ô tô đồ chơi Trung Quốc thiếu pin - cả hai phải có ai đó đẩy thì mới chịu chuyển động. Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường, các cơ hội tồn tại rất xa bàn giấy và chúng thoắt đến, lại thoắt đi. Chỉ có những ông chủ dám chấp nhận rủi ro và quyết đoán mới có thể chớp lấy cơ hội để làm giàu. (Làm giàu, suy cho cùng là khả năng hiện thực hóa các cơ hội tồn tại trên thị trường). Những phẩm chất này thường chỉ có ở những người phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của cá nhân mình.

    Về mặt tình cảm, các nhà doanh nghiệp tư nhân đã bắt đầu được xã hội tôn vinh. Thái độ của xã hội đối với các nhà doanh nghiệp phản ánh những thay đổi sâu sắc trong hệ thống giá trị của chúng ta. Mặc dù, những người thích "làm quan" có vẻ như vẫn đang chiếm đa số, dư luận xã hội và báo giới đã thường xuyên đứng về "phe" của các nhà doanh nghiệp tư nhân.

    Tuy nhiên, công bằng mà nói, được xã hội chấp nhận thì không hẳn mọi vấn đề đã ở phía sau lưng. Trong bước phát triển mới, các doanh nghiệp tư nhân sẽ còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách.

    Về mặt chủ quan, các doanh nghiệp tư nhân nói chung còn khá nhỏ bé, chưa có kinh nghiệm và truyền thống kinh doanh, tâm lý làm ăn chụp giật, làm dối, làm ẩu vẫn còn phổ biến.

    Về mặt khách quan, khả năng tiếp cận vốn, tiếp cận thông tin, tri thức và thị trường vẫn còn hạn chế. Môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh và minh bạch vẫn cần phải có thêm thời gian để hình thành. Đó là chưa nói tới những khó khăn kiểu "biết rồi khổ lắm nói mãi" về cơ chế giải quyết tranh chấp và bảo đảm việc thực hiện hợp đồng.

    Khó khăn thì còn nhiều, nhưng sự ủng hộ của xã hội thì đã có: tư nhân cũng là quốc dân. Và đó là điều kiện quan trọng nhất cho bước phát triển mới của thành phần kinh tế tư nhân.

    13. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

    Kinh doanh thực chất là khai thác các nhu cầu của con người: các nhu cầu đang có, các nhu cầu sẽ có và các nhu cầu có thể tạo ra. Bạn không thể bán máy tính trên sao Hỏa, đơn giản vì trên đó không có nhu cầu. Như vậy, sự giàu có của các doanh nghiệp, suy cho cùng là do khách hàng tạo ra. Những khách hàng này - già trẻ, trai gái tập hợp nhau lại thành xã hội. Và vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đặt ra là trên cơ sở của mối quan hệ như vậy.

    Thực ra, trong cuộc sống chúng ta đều là những nhà cung ứng và đều là những khách hàng của nhau. Ngày nay, ít ai vừa có thể sản xuất phần mềm máy tính, vừa có thể nuôi bò lấy sữa và làm ra pho mát. Bán phầm mềm máy tính để mua sữa và bán sữa để mua phần mềm máy tính (hoặc các sản phẩm được tạo ra nhờ sử dụng phần mềm máy tính) vì vậy là một sự cần thiết khách quan. Cho dù, các quan hệ xã hội là nhằng nhịt và nhiều khi mất mối, con người vẫn phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình này. Như vậy, trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với xã hội cũng chính là trách nhiệm đối với bản thân mình.

    Xã hội không tồn tại bên ngoài những cá thể hợp thành. Những cá thể đó là tất cả chúng ta, trong đó có các doanh nhân. Chúng ta có thể biến đổi xã hội, nhưng đồng thời cũng chịu sự tác động sâu sắc của xã hội. Trong một xã hội "trọng nông, ức thương", doanh nhân là những người lép vế. Trong một xã hội bao cấp, doanh nhân bị trói chân tay và không thể tiếp cận thị trường. Một xã hội tồn tại theo nguyên tắc của pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng sẽ bảo đảm được quyền tự do, dân chủ cho tất cả mọi người, trong đó có quyền tự do kinh doanh của các doanh nhân. Xây dựng và củng cố một xã hội như vậy là trách nhiệm của tất cả mọi người và của cả các doanh nhân. Đó cũng là một khía cạnh về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

    Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau.

    Trước hết, đó là trách nhiệm xã hội về môi trường. Môi trường sống trong lành là nhu cầu đầu tiên và quan trọng nhất của con người. Tuy nhiên, cứ nhìn vào dòng nước đen đặc và hôi nồng của sông Tô Lịch hay bầu không khí đầy bụi và khói của Hà Nội, chúng ta sẽ thấy nhu cầu đầu tiên đang bị hy sinh cho những nhu cầu thứ ba, thứ tư gì đấy. Và trong phổi của tất cả chúng ta, của cả các doanh nhân, bụi bám như bồ hóng bám trên gác bếp. Chúng ta sẽ biến mất khỏi hành tinh này sau dăm bảy thế hệ nữa, nếu quá trình hủy hoại môi trường sống không bị chấm dứt và không bị đảo ngược. Trong cái việc đưa sức khỏe và tương lai ra làm vật tế thần cho lợi nhuận và phát triển này, doanh nghiệp đóng một vai trò rất lớn. Phần lớn các chất thải không thể phân hủy là do hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra. Vậy trách nhiệm xã hội đầu tiên của các doanh nghiệp là không kinh doanh trên sự tổn hại của môi trường.

    Hai là, trách nhiệm đạo lý. Đây là thứ trách nhiệm được điều chỉnh bởi lương tâm. Chẳng ai có thể bắt buộc các doanh nghiệp phải bỏ tiền ra để xây nhà tình nghĩa hoặc lớp học tình thương, ngoài những thôi thúc của đạo đức; tuy nhiên, nếu "Thương người như thể thương thân" là đạo lý sống ở đời, và nếu đạo lý đó ràng buộc mọi thành viên trong xã hội, thì nó không thể không ràng buộc các doanh nhân. Ngoài ra, một xã hội nhân bản và bác ái là rất quan trọng cho hoạt động kinh doanh, bởi vì trong xã hội như vậy, sự giàu có sẽ được chấp nhận. Thiếu điều này, động lực của hoạt động kinh doanh sẽ bị tước bỏ.

    Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện trước hết qua việc đóng thuế. Các doanh nghiệp đóng thuế không phải chỉ để nuôi Nhà nước, mà là để Nhà nước có nguồn kinh phí chăm lo cho các nhu cầu của xã hội. Về co bản, các doanh nghiệp tạo ra của cải, Nhà nước tạo ra sự công bằng. Nhưng của cải phải có trước, sự công bằng mới có thể xảy ra. Nếu chúng ta chỉ được hưởng sự công bằng về nghèo khổ, thì điều đó chẳng an ủi được gì nhiều.

    Những đóng góp ngoài thuế của các doanh nghiệp đều thật sự là những đóng góp của lương tâm. Trong đa số các trường hợp, những đóng góp này mang lại sự hài lòng lớn hơn cho các doanh nhân bởi vì họ đã chi tiền cho những việc mà họ cho là cần thiết. Đối với những khoản tiền đóng thuế không phải lúc nào các doanh nhân cũng nhận được sự hài lòng như vậy. Để kết hợp việc giải quyết các nhu cầu xã hội với sự hài lòng của các doanh nhân, nhiều nước trên thế giới đã tìm cách miễn giảm thuế cho các doanh nhân, nếu họ có những đóng góp ngoài thuế cho xã hội. Cách làm này còn tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ hình thành và phát triển. Và đó là nền tảng của một xã hội công dân vững mạnh.

    14. Lương trong kinh tế thị trường

    Trong nền kinh tế thị trường, lương chính là số tiền được chi trả để mua sức lao động (lao động trí óc và lao động chân tay). Số tiền này thường dao động theo quy luật của cung cầu về lao động.

    Trong một thị trường thì có người bán và người mua. Khả năng mặc cả giữa những người này với nhau là yếu tố quyết định đối với mức lương thực tế được hình thành. Người mua không thể trả giá vượt quá khả năng chi, người bán không thể đồng ý với mức thấp hơn sự xứng đáng của mình. Nhu cầu của thị trường và quan hệ cung - cầu về lao động chính là những nhân tố quyết định giá cả của sức lao động. Những loại hình lao động khan hiếm sẽ được mua với giá cao, những loại hình dư thừa sẽ được mua với giá thấp, thậm chí không có ai mua. Đây là quy luật của thị trường lao động. Cải cách tiền lương chính là điều chỉnh chính sách tiền lương nhằm phản ánh được các quy luật này. Tuân theo quy luật của thị trường sẽ giúp chúng ta bảo đảm được tính năng động và sự tương thích của lực lượng lao động Việt Nam trong quá trình hội nhập và cạnh tranh toàn cầu.

    Đối với thành phần kinh tế tư nhân và các xí nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, các quy luật của thị trường lao động sẽ được tuân thủ một cách tự nhiên (nếu các thiết chế hành chính không ngăn cản điều này). Vấn đề đặt ra là lương cho hệ thống công chức và cán bộ sẽ được xử lý như thế nào. Và đây là lãnh địa mà các nhà cải cách sẽ phải đối mặt với không ít những khó khăn.

    Trước hết, đó là sức ì của tư duy và tâm lý "sống lâu lên lão làng". Chuyển từ một hệ thống mà lương được trả căn cứ vào quá trình "phấn đấu" và sự "cống hiến" sang một hệ thống dựa vào sự đánh giá của thị trường là điều không dễ. Chúng ta có thể đồng ý với nhau là người giỏi thì phải được trả lương cao, nhưng sẽ rất khó chấp nhận việc một người chỉ đáng bậc con cháu lại được hưởng mức lương cao hơn cha chú. Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem: Một kỹ sư tin học trẻ tuổi được các công ty trả lương 5-6 triệu đồng/tháng, thì các cơ quan Nhà nước không thể tuyển đụng với mức lương 280 - 500 ngàn đồng/tháng được. Tiền nào của ấy là quy luật nghiệt ngã của kinh tế thị trường. Với một mức lương quá thấp so với giá lao động thực tế trên thị trường, Nhà nước sẽ có được một đội ngũ công chức như thế nào là điều không nói ra thì ai cũng biết.

    Hai là, khả năng chi trả của Nhà nước. Tiền lấy ở đâu ra có thể là câu hỏi dẫn mọi cố gắng cải cách vào ngõ cụt. Tuy nhiên, có vẻ như tiền là cái không bao giờ đủ và không bao giờ dư thừa. Điều quan trọng không chỉ là tìm cách tận thu và mở rộng các nguồn thu, mà là xác định rõ đâu là lĩnh vực Nhà nước cần phải chi. Những việc mà thị trường và xã hội làm tốt hơn thì không biết Nhà nước có nên tham gia quá sâu vào không? Một thực tế là ngân sách Nhà nước có lớn bao nhiêu thì cũng nhỏ hơn tổng thu nhập của toàn xã hội rất nhiều. Thế thì Nhà nước không thể làm thay xã hội.

    Tiền tệ hóa sự bao cấp cho các quan chức cũng là một cách để có thêm kinh phí cho cải cách tiền lương, đồng thời tiết kiệm cho ngân sách. Một cách khác là chuyển thẳng vào lương các khoản chi tiêu lòng vòng với mục đích thiện ý là bổ sung thu nhập và hậu quả bất ý là tạo ra sự bất bình đẳng.

    Ba là, chính sách đối với những người về hưu và các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Rõ ràng, đây không phải là những người đang làm công ăn lương, nên không phải đối tượng trực tiếp của việc cải cách tiền lương. Tuy nhiên, vì hai lẽ mà công cuộc cải cách không thể không chú ý đến các đối tượng này: lẽ thứ nhất là công bằng xã hội; lẽ thứ hai là việc tăng lương sẽ ảnh hưởng đến sức mua của những người về hưu và các đối tượng chính sách.

    15. Phá sản và chế tài

    Giống như trong một cơ thể sống hàng triệu triệu tế bào liên tục sinh ra và chết đi, trong một nền kinh tế thị trường, hàng ngàn vạn các doanh nghiệp liên tục được thành lập và phá sản. Sinh - tử, thành lập - phá sản là những quy luật bất diệt của cuộc sống và của thị trường. Nếu chúng ta tin vào một trong những quy luật cơ bản nhất của triết học - quy luật phủ định của phủ định, thì phá sản là một sự phủ định cần thiết để kinh tế có bước phát triển cao hơn. Như vậy, phá sản là một hiện tượng không chỉ bình thường, mà còn lành mạnh. ("Sự bất tử" của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ mới chính là điều không bình thường và không lành mạnh).

    Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 94, Dự Luật Phá sản, thì mọi chuyện không đơn giản như đã nói ở trên. Để xảy ra phá sản là lôi thôi to. Chế tài được áp dụng đối với ban lãnh đạo của các doanh nghiệp Nhà nước, cũng như của các doanh nghiệp dân doanh là khá nghiêm khắc. Những cá nhân có liên quan trong ban lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước sẽ bị cấm đảm nhận các chức vụ quản lý; trong doanh nghiệp dân doanh sẽ phải nghỉ kinh doanh trong vòng từ 1 - 3 năm. Cho dù những chế tài này sẽ không bị áp dụng trong trường hợp bất khả kháng, chúng vẫn có thể làm tê liệt khả năng chấp nhận rủi ro của các doanh nhân, đặc biệt là trong khu vực dân doanh. Kinh doanh là phải chấp nhận rủi ro. Rủi ro càng cao thì lợi nhuận cũng càng cao. Chấp nhận rủi ro đồng nghĩa với việc chấp nhận khả năng bị phá sản. Trong trường hợp này, phá sản được sinh ra là để cung cấp sự kết thúc cho một cố gắng không may và tạo điều kiện cho một cố gắng mới có thể may mắn hơn được bắt đầu. Vậy thì trừng phạt các doanh nhân sẽ không giúp gì được cho quá trình này nếu không nói là ngược lại.

    Thực ra, việc một doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản trong nhiều trường hợp có thể nằm ngoài tầm kiểm soát của ban lãnh đạo, ví dụ, thị trường cho sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp không còn hoặc biến động bất thường của thị trường thế giới (đây là điều đang xảy ra ngày càng thường xuyên hơn)... Thậm chí, việc các doanh nghiệp cạnh tranh tỏ ra tài giỏi và may mắn hơn cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản. Thắng thua trong một cuộc cạnh tranh là chuyện bình thường, điều đáng phải băn khoăn là việc những người thua cuộc lại bị trừng phạt bổ sung.

    Như vậy, việc áp dụng chế tài trong pháp luật về phá sản là điều cần được cân nhắc một cách thận trọng. Chế tài chỉ nên được áp dụng vì những hành vi có lỗi dẫn đến sự phá sản hơn là vì sự phá sản chung chung. Và những hành vi gì sẽ bị áp dụng chế tài cũng cần phải được quy định rõ trong dự luật. Có lẽ, trước hết, đó là những hành vi gian lận, khinh suất và cẩu thả.