08. Trang 128 - 144 @mist (soát xong)

11/7/17
08. Trang 128 - 144 @mist (soát xong)
  • Còn công-việc thường của viện Hàn-lâm là soạn một bộ « Pháp văn đại tự-điển », định nghĩa tường các tiếng quốc-âm, để làm khuôn-mẫu cho quốc-văn. Việc này là việc lâu dài, làm đi làm lại nhiều lần, đã từng có xuất-bản, nhưng vẫn chưa nhất-định, vì tiếng nói thay đổi luôn.

    Ở hội Hàn-lâm vui nhất là ngày tiếp các ông Hàn mới. Khi nào trong bốn mươi ông bất-tử có ông bất-hạnh mất đi, thì hội tuyển-cử một người khác vào thay. Người nào ứng-cử phải làm giấy tình-nguyện, rồi toàn-viện bỏ phiếu bầu. Được bầu rồi thì định ngày làm lễ tiếp. Lễ ấy trọng-thể lắm. Thật là lúc vinh-dự nhất trong một đời văn-sĩ, như bên ta lúc ông Nghè vinh-qui bái-tổ vậy. Không gì vẻ-vang bằng được « đứng nói dưới mái tròn » (mái tròn là mái nhà chính-đường trong viện Hàn-lâm). Ông Hàn-lâm mới mặc phẩm-phục, đeo gươm, đọc một bài diễn-thuyết để cảm ơn viện đã bầu mình và tán dương sự-nghiệp văn-chương ông Hàn-lâm cũ mình đến thay. Bài diễn-văn ấy thường dài lắm, lời-lẽ bóng-bẩy, ý-tứ sâu-xa và giọng-điệu hùng-hồn. Kế đến ông chủ-tịch đứng lên đọc một bài đáp lại, cũng dài như vậy, vừa khen người cũ, vừa mừng người mới.

    Những lời khen ấy cũng khéo lắm. Như Emile Faguet năm 1910 tiếp René Doumic vào thay chân Gaston Boissier (1), bắt đầu bài diễn-thuyết như sau này :

    « Thưa ngài, giáo-sĩ Tallemant cũng có chân hội ta đây, ngày xưa có tiếng là người diễn-thuyết ở Hàn-lâm giỏi lắm. Bởi thế nên khi De Boze khen Tallemant có câu nói rằng: « Tiên-sinh tả những người chết trong hội ta khéo cho đến nỗi có lúc mong cho thường có dịp luôn để nghe tiên-sinh nói ». De Boze nói câu ấy nghĩ mình không có quan hệ vào đấy. Tôi đây không dám tự nghĩ như vậy ; nên không dám khen ngài câu ấy. Chỉ xin nói rằng trong bài diễn thuyết mới rồi ngài đã tả Boissier tiên-sinh như tiên-sinh ước được tả như thế, lời bình-dị như văn Hi-lạp, nghiêm-trang như giọng La-mã, lại thêm cái cảm-tình con nhà Đại-Pháp nữa…… »

    Ông Doumic bấy giờ mới góa vợ. Phu-nhân vốn là một người thông-tuệ. Trong bài diễn-thuyết ông Faguet nói về phu-nhân mấy lời rất khéo mà rất cảm động:

    « … Khi vào học trường Cao-đẳng Sư-phạm thì ngài đã đính-hôn với một cô con gái con nhà danh-giá… Đến khi tốt-nghiệp ở trường ra,

    __________________

    (1) Emile Faguet và René Doumic là hai nhà phê-bình văn-học có tiếng. Gaston Boissier là nhà sử-học có làm nhiều sách về cổ sử La-mã.


    mới kết duyên với người tri-kỷ. Phu-nhân thật là người trí-tuệ thông-minh, có tài-bộ, có tính-tình, học rộng, cảm sâu. Từ khi ấy cho đến cái tang mới rồi, đau-đớn cho ngài mà buồn-bã cho cả chúng tôi, ngài không từng viết một dòng mà không trình cho phu-nhân đọc trước, không từng soạn một quyển sách hay một bài văn mà không hỏi ý phu nhân, không từng sáng-nghĩ ra một tư tưởng gì mà phu-nhân không được biết, không từng thảo một bài diễn-thuyết mà trước khi ra diễn lại không diễn riêng cho phu-nhân nghe.

    « Trong bấy lâu, ngài thật đã được hạnh-phúc hoàn-toàn. Ngài được hạnh-phúc ấy ở trong chốn gia-đình. Ngài được hạnh-phúc ấy vì chính tự ngài đã đem lại ; lại vì một người nữa cùng đem lại với ngài. Ở đời này chỉ có hạnh-phúc ấy là đích-đáng. Nay ngài đã phải đọc đến câu tuyệt-ngôn của Louis Veuillot : Ôi ! Chúa tôi, xin Người cất cho tôi cái tuyệt-vọng mà để cho tôi cái bi-ai » (1), thì ngài phải so-sánh cảnh xum-hiệp khi xưa với cảnh vắng-vẻ bây giờ, mà còn nên cảm

    _________________________

    (1) Mất người yêu là cái sầu vô-hạn. Sầu ấy nên giữ mãi trong lòng như mối kỷ niệm trăm-năm. Nhưng sầu mà đến thất-vọng thì không gì hại bằng. Đạo Thiên-chúa dạy người ta càng khổ lại càng thêm hy-vọng, hy-vọng là thuốc chữa linh-hồn cho người đời. Câu này là nói buồn không bao giờ nguôi được, mà cũng không nên cho nguôi đi, chỉ cầu cho khỏi thất-vọng mà thôi.


    ơn vì đã được hưởng bấy nhiêu sự vui thú ngon-lành mà trong-sạch, cảm ơn vì sự đau-đớn này nữa, vào một người như ngài thì lại càng làm cho kiên-nghị thêm lên, khiến cho thêm yêu mến những lẽ cao-thượng ».

    Lời an ủi khôn-khéo mà thiết-tha, người nghe cầm lòng sao được ! Thật là những lời tự trong lòng mà ra, tất cảm sâu đến lòng người. Văn-chương đã đến bậc cảm-động ấy, là văn chương-tuyệt hay vậy.

    Lại mấy câu kết như sau tả cái không-khí riêng của hội Hàn-lâm cũng khéo lắm :

    « Thôi, nói rút lại thì xin ngài vui lòng mà vào hội với chúng tôi, chúng tôi đây mong đợi ngài cả. Mời ngài vào trong nhà này là nơi chúng tôi vẫn ước-ao ngài ; ngài không sợ lạ, vì xưa nay tuy ngài chưa ngồi cùng với chúng tôi, nhưng sách-vở ngài thay mặt ngài ở đây đã lâu rồi. Ngài vào với chúng tôi rồi ngài sẽ biết cái nhà này cũng dễ chịu, không phải chỉ những ngày tiếp khách như ngày hôm nay -- cái đó đã cố-nhiên rồi -- nhưng ngày thường cũng vậy. Ngài sẽ thấy những tay biện-sĩ sành nghề hùng biện đến nỗi biết nói giản-dị như người thường, thông-thạo các khóe ăn nói đến nỗi nói chuyện không biết cái cầu-kì là cái gì. Ngài sẽ thấy những nhà khoa-học có tài văn-chương đến nỗi nhà văn trông thấy phải ghen mà nói : « Cái người này là người nào, họ viết phấn trắng lên trên bảng đen, mà họ lại viết mực đen lên trên giấy trắng giỏi hơn mình ?» Ngài sẽ thấy những người lúc thủa trẻ đã vui chơi mà làm qua những chức Thượng-thư Tướng-quốc rồi từ đấy lưu-tâm về những việc trước-thuật quan-trọng hơn, lấy cái kinh-lịch bình-sinh mà gây cái « lạc quan chủ-nghĩa » để xét-đoán việc đời. Ngài sẽ thấy những văn-sĩ làm vẻ vang cho nước Pháp ta trong thế-giới, những nhà ấy cũng không hẹp gì mà coi bọn « phê-bình » ta vào bậc văn-sĩ. Nói rút lại thì cái nhà này dễ chịu lắm. Chúng tôi đãi nhau thường đối nghĩa đồng-liêu làm tình bè bạn, thật như trong triết-học gọi là « dung-hòa sự mâu-thuẫn » vậy. Cái nhà này có triết-lý lắm, thưa ngài ».

    Những bài diễn-thuyết như bài đó thật như văn tây gọi là « bữa tiệc văn-chương », khoái chá người đời.

    Từ khi có việc chiến-tranh đến giờ, viện Hàn-lâm không làm lễ tiếp những hội-viên mới, muốn để đến ngày chiến-thắng cho lễ được trọng-thể hơn. Nhưng cuộc chiến-tranh diên-man ra mãi, nên năm nay đã định bắt đầu làm lễ tiếp những ông được bầu. Trong số đó có ba người trứ-danh nhất, ai cũng biết, là Lyautey, Boutroux và Bergson. Lyautey là một bậc võ-tướng, văn võ kiêm-toàn, trước làm thống đốc Maroc, đầu năm nay sung chức lục-quân tổng-trưởng ; mưu-lược giỏi, văn-chương tài. Boutroux và Bergson thì là hai nhà triết-học nhất nhì trong thế-giới, lại thêm hai tay văn-học tuyệt-luân. Hội Hàn-lâm nước Pháp sắp đãi thiên-hạ mấy « bữa tiệc văn-chương », như xưa nay chưa từng có nhiều lần như vậy.

    (1917)​


    NGHĨA GIA-TỘC
    (Bình-luận tiểu-thuyết)


    Một danh-sĩ đã có câu nói rằng : Công việc người ta ở đời ví như con trẻ đánh thia-lia. Hòn cuội mới rơi xuống nước thành một cái quầng nhỏ trên mặt nước, rồi cái quầng nhỏ ấy lan ra mà thành một cái quầng lớn hơn, cái quầng lớn ấy lại lan thành cái lớn hơn nữa, cứ thế mãi cho đến khắp mặt ao.

    Nghĩa là người ta ở đời không phải sáng một mình ; phàm việc gì, dù nhỏ đến đâu, cũng có quan hệ đến kẻ khác, ba-cập ra ngoài như cái thia-lia trên mặt nước vậy. Đó là cái nghĩa liên-lạc sâu nó buộc người ta với nhau thành từng đoàn-thể, để cùng nhau mà gánh vác việc đời.

    Đoàn-thể nhỏ nhất, mạnh nhất, bền nhất, hợp với lẽ thiên-nhiên hơn cả là gia-đình. Trong một nhà, cha con, anh em, vợ chồng, đều liên-lạc với nhau, sống để giúp-đỡ, bênh-vực, phù-trì lẫn nhau. Cho nên nước nào từ xưa đến nay, cũng lấy nghĩa gia-tộc làm trọng.

    Nhưng ngày nay khoa-học tấn-tới, nhân-trí mở-mang, nhân-tâm thế-đạo cũng theo thời-thế mà thay-đổi đi nhiều. Lòng người khao-khát tự-do, như muốn phá-đổ cả những chế-độ cổ đời trước. Gia-tộc chính là một chế-độ cổ, có từ khi loài người mới biết họp thành xã-hội. Chế-độ ấy có chịu được phong-trào mới đời nay không ? Có thể duy-trì được nữa không ? Hay sắp đến ngày phá-hoại ?

    Henry Bordeaux làm bộ tiểu-thuyết Les Roquevillards (Chuyện nhà Roquevillards), chủ-ý xét về vấn-đề ấy. Ông là một nhà văn có tiếng ở nước Pháp, làm sách thường lấy cái mục-đích duy-trì phong-tục. Nên tiểu-thuyết của ông chính là bài luân-lý diễn ra sự thực, có cái khí-vị hồn-hậu, không giống những sách văn-chương có hay hơn mà ý-nghĩa kiêu-bạc như phần nhiều sách tiểu-thuyết ngày nay. Ông không những làm sách, lại còn vận-động để thực-hành chủ-nghĩa nữa. Thấy nghĩa-gia tộc ngày một suy đồi, ông có xướng-lập ra một hội đặt tên là Le Foyer ( « Gia-tộc bảo-tồn hội » ), làm nơi họp-tập, mời các sĩ-phu trong nước diễn-thuyết về các vấn-đề xã-hội. Hội ấy cũng có ảnh-hưởng trong việc giáo-dục giai-cấp trung-lưu trong nước.

    Bộ tiểu-thuyết bàn đây, tuy xuất-bản đã lâu, nhưng ý-nghĩa vẫn còn hợp thời. Đại-lược chuyện như sau này.

    Họ Roquevillards là một cựu-tộc ở đất Savoie. Đời đời giữ chức trọng về việc hình cùng việc quân. Có tiếng trong một xứ là nhà thế-gia nền-nếp. Khi bắt đầu chuyện này thì ông François Roquevillard là trưởng một chi thứ đã sáu mươi tuổi. Ông làm luật-sư ở tòa-án Chambéry đã hơn ba mươi năm, lại vừa giữ nghiệp nhà quê, làm ruộng trồng nho. Sinh được năm người con : con trai cả làm quan ba lục-quân đóng ở thuộc-địa, con trai thứ nhì mới đỗ tiến-sĩ luật ở Paris về, tập-sự ở nhà luật-sư Frasne. Còn ba người con gái thì một người lấy chồng cùng tỉnh ấy, một người đi tu làm khán-hộ ở nhà-thương Hà-nội, con gái út ở nhà đã có người giạm hỏi. Ông bà song-toàn, một nhà vui-vẻ. Ông tính cương trực, thiết-tha giữ nền-nếp tổ-truyền. Bà hiền từ một lòng thương con yêu chồng. Cả nhà hòa-mục, lạc-thú nào bằng.

    Bỗng đâu xảy ra một việc, tan-nát cửa nhà. Người con trai thứ tên là Maurice từ khi ở Kinh-đô về tập-sự tại nhà luật-sư Fransne, đã được ngót nửa năm. Luật-sư có bà vợ vốn đa-tình, khi trước vì ép-uổng mà lấy ông, nhưng lòng chẳng ưa lòng, nên vẫn khao-khát nỗi lòng. Vậy bà chủ với thày tập-sự không bao lâu sinh mến nhau, rồi đến mê nhau. Ông bà Roquevillard xem ý biết sự nguy-hiểm cho con, muốn tìm cách ngăn-giữ, nhưng nước đã đến chân, không sao được nữa. Nhân một hôm luật-sư đi xa có việc, anh chị rắp nhau trốn sang Ý-đại-lợi để phỉ tình loan-phượng. Khi đi bà luật-sư có lấy của chồng mười vạn quan để tiêu-dùng ở đất khách. Thầy tập-sự cũng vấu-viu chỗ nọ chỗ kia được mấy nghìn quan để cùng đi. Nguyên cái mười vạn quan ấy là duyên-do thế này : khi luật-sư lấy bà thì bà nhà nghèo sa-sút, không có tiền « đốt », nghĩa là của hồi-môn. Nhưng ông mê nhan-sắc bà, không vị cớ ấy mà không lấy. Trong luật có điều vợ chồng có phép cho của nhau, vậy bà không có « đốt » thì ông cho « đốt », để trước pháp-luật hai bên bình-đẳng ăn-ở về sau cho dễ. Khi làm hôn ước ông viết cho bà mười vạn làm của riêng. Cứ theo luật thì tiền ấy cũng coi như của riêng người vợ, trừ khi li-hôn mới hoàn lại người chồng. Bởi vậy bà vẫn cho tiền ấy là của bà, muốn lấy lúc nào cũng được. Khi đi cứ đem đi, tưởng quyền mình được thế, không ngờ có thể sinh sự về sau được. Hôm sau luật-sư về thấy vợ mất tiền mất, căm-tức lắm. Pháp-luật sẵn trong tay, nghĩ ngay kế báo-thù quân bất-lương một cách thật đau. Nhưng cứ luật thì vợ ăn trộm của chồng không phải là tội. Vậy đành không làm gì được vợ, phải lập mưu hại riêng một anh nhân-ngãi. Song tội quyến-dụ vợ người cũng chưa là tội nặng, phải làm thế nào cho người ta nghi rằng cái mười vạn quan ấy, chính tay anh nhân-ngãi ăn trộm, vừa dỗ vợ chủ, vừa cướp tiền chủ thì mới thành án to được. Nghĩ được kế, liền phát đơn thưa ngay. Tòa-án xử Maurice Roquevillard một năm tù, nhưng vắng mặt làm án khuyết-tịch.

    Sự-tình như thế, nghĩ đến nhà Roquevillard mới xót-sa. Tiếng-tăm ấy đợi đến bao giờ cho tắt ! Ô-danh nầy rửa đến bao giờ cho sạch ! Thế là công-nghiệp ông cha, mấy đời danh-dự, nhất-đán ra tro cả, chỉ vị một cớ con dại, mắc tiếng vu-oan. Dù thế nào cũng phải gỡ được án này mới nghe ! Dù thế nào cũng phải vớt lại tiếng thơm một họ, giữ lấy hương-hỏa tinh-thần của tổ-tiên đời trước để lại mà vì án oan nầy có cơ nguy-vong mất. Không phải rằng sợ hình-ngục khổ cho một người, nhưng sợ tiếng-tăm hại đến một họ. Vì vậy suốt một nhà nhất-tâm để cứu lấy một người, ai nấy đều quên lợi-hại riêng, chỉ nghĩ vận-mệnh chung. Bà mẹ vốn yếu-đuối, nghe tin như sét đánh ngang tai, nửa thương nỗi con, nửa cực nỗi nhà, không được mấy lâu tạ-thế. Người anh cả coi binh ở thuộc-địa, xin đổi đi đóng nơi hiểm-yếu, để mau lập công-danh, rửa tội cho em, chuộc tiếng cho nhà. Sau chẳng may vì lam-chướng mắc bệnh chết ở rừng Phi-châu. Người em gái bên giường mẹ chết, tình-nguyện không đi lấy chồng, để lấy danh-tiết tu-hành, lấy công-nghiệp từ thiện bồi-dưỡng cho linh-hồn tổ-tôn. Ông cha thì không hề một chút ngã lòng, gặp hoạn-nạn lại càng tin công-đức tổ-tiên. Chắc rằng con vô-tội, hết sức cứu ; khánh-kiệt gia-tài để đền người độc-ác, hết tài hùng-biện cho vẹn tình máu-mủ. Sau phá được án-oan, rửa được tiếng cho nhà.

    Maurice Roquevillard nghe tin mẹ chết để tình-nhân ở Ý-đại-lợi mà về. Cha cãi cho được trắng án. Nhưng anh trẻ tuổi này cũng đáng khen thay ! Cách cử-động thật ra con giòng cháu giống : khi ở Ý-đại-lợi về, biết đầu đuôi kẻ thù vu oan cho mình, nếu chỉ cãi lên một câu rằng không phải mình lấy mười vạn quan, là đủ đổi cái án lừa chủ ra cái án lừa chồng, mà mình khỏi mắc tội. Nhưng nhất-định không chịu nói, không chịu tố-cáo tình-nhân, không chịu để tiếng xấu cho người yêu, thậm-chí cấm luật-sư cãi án không được đọc đến tên phu-nhân. Thế mới là loài tình-chủng, thế mới là giòng hiệp-khách. Người ấy thật là đáng cha ấy, mẹ ấy, anh ấy, em ấy. Cách ăn ở cao-thượng như thế, thì tội gì mà chẳng chuộc được, phương-chi là « tội tình » !

    Kết-luận chuyện này là ở mấy câu cha bảo con khi mới ở ngục ra, đi thăm mồ mẹ :

    « Con ơi ! Bây giờ cha già rồi. Con sắp đến ngày phải nối nghiệp cha. Hôm nay ta có cái trách-nhiệm nói cho con nghe, con phải nghe ta. Con đừng cảm-động. Chốn này là hình-ảnh chốn thiên-niên. Lòng thờ người chết, ấy là nghĩa đời người bất-diệt đấy. Nếu quá-khứ với tương-lai không đặt cho đời người ta có nghĩa, thì đời người là cái gì ? Khi con theo đuổi phận riêng của con, là con quên cái nghĩa chung đó. Không có phận đẹp nào riêng cho một người, có nô-lệ mới có thanh-cao. Người ta hoặc thờ nhà, thờ nước, thờ trời, thờ mỹ-thuật, thờ học-vấn, thờ một lý-tưởng gì. Xấu-hổ cho kẻ nào chỉ biết thờ mình ! Như con thì con được nhờ ta, nhưng con cũng phải lụy ta. Cái danh-dự con người ta, là biết chịu lụy vậy…

    « Con ơi, người lương-thiện với người bất-lương cách nhau không mấy tí. Tình-dục thì xóa bỏ cái rào cách ấy đi, mà gia-tộc thì làm cho nó vững bền lạị. Song, con ơi, dù đến lúc này cha cũng không trách ái-tình, nếu con biết hiểu rõ ái-tình là gì. Ái-tình ấy, là lòng ta hi-vọng đến cái gì cao hơn ta. Con phải giữ lấy mối hi-vọng ấy ở trong lòng. Hi vọng ấy là của con. Đến trước những việc hay, đứng trước cảnh tạo-vật, nếu con biết vững lòng can-đảm mà theo số-mệnh, thì con sẽ thấy sẵn mối hi-vọng ấy ở trong lòng. Con chớ có đánh lạc nó, con chớ nên đánh lạc nó nữa. Trước khi thương yêu một người đàn-bà, con phải nghĩ đến mẹ con, phải nghĩ đến chị con, phải nghĩ đến cái hạnh-phúc trời đã dành cho con cũng được một đứa con gái mà dạy. Khi ta sinh con, cùng anh con, chị con, em con, ta mừng lắm. Ta hết sức che-chở cho các con. Đến khi ta chết thì con sẽ thấy như bức tường đổ, mà phải ra đối-diện với đời. Đến bấy giờ con mới biết lời ta nói là phải. »

    *
    * *​

    Xem như chuyện trên này thì gia-tộc ở các xã-hội Âu-châu đương qua một bước nguy-cơ, đương phải chống-đối với phong-trào tự-do phóng-túng đời nay. Phong-trào ấy chỉ vụ cầu sự lợi-lạc, sự sung-sướng của mỗi người, lấy nhân-thân một người làm trung-tâm thế-giới. Tức gọi là « cá-nhân chủ-nghĩa ».

    Ham chủ-nghĩa cá-nhân phần nhiều là những người xu-phụ thời-thế, thường không có căn-bản gì, mà phẩm-hạnh cũng kém. Không có căn-bản cho nên dễ theo thời mà dễ đổi. Phẩm-hạnh kém cho nên chỉ duy-kỷ mà không vị-tha.

    Nhưng ngoài những kẻ ăn xổi ở thì ấy, phàm người hữu-tâm về thế-đạo đều biết rằng gia-đình là cái cửa bể kín-đáo để cứu bọn ta trong buổi ba-đào này. Ngày nay tôn-giáo mỗi ngày một suy, triết-lý không gì bằng-cứ, nhân-tâm không biết lấy đâu làm bờ-bến. Nếu không có gì làm qui-tắc thì lòng người phất-phơ, xã hội nguy-hiểm. Đoái đi xét lại, duy có gia-đình là còn có thể duy-trì cho xã-hội được. Nếu biết gây-dựng cho bền-chặt, trên liền-tiếp nối người đời trước, dưới mở đường cho người đời sau, lấy tình sâu nghĩa nặng mà ràng-buộc nhau, chung-đúc thành một khối thiên-nhiên, thì thời-thế nào mà suy-di được, phong-trào nào mà lay chuyển được !

    Dưới đáy bể thường có hàng ức hàng triệu những giống vật rất nhỏ tụ nhau lại mà lâu dần thành từng cây san-hô, sóng đánh cũng không đổ được. Gia-đình phải là cây san-hô trong bể sinh-hoạt đời nay.

    (1917)

    :rose: