09. trang 271-301 @hhanhh(done)

23/7/15
09. trang 271-301 @hhanhh(done)
  • 16. Mua bán thông tin

    Thông tin là thứ có thể mua bán được và nhiều người đang sống bằng chính cái nghề mua bán các con số và các ký tự như vậy. Không tin bạn cứ tới Cửa Nam và một vài ngã tư khác của Hà Nội sau giờ xổ số kiến thiết thủ đô quay số trúng thưởng, một loạt đồng bào tay cầm những tờ giấy bé xíu sẽ nồng nhiệt vẫy gọi cứ như bạn chính là Đoàn quân giải phóng Thủ đô ngày nào. Tuy nhiên, thông điệp của cái sự vẫy gọi này không phải là chào mừng mà là chào mời: Bạn được mời mua thông tin về việc hôm này đề về số bao nhiêu.

    Thông tin nói trên chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi: từ khi xổ số có kết quả đến khi kết quả đó được công bố chính thức trên đài truyền hình. Thế nhưng, chừng ấy cũng đã đủ để sự nhạy bén trong kinh doanh biến nó thành một thứ có thể bán ra tiền. Để làm được điều này, người ta phải cử một người trực tiếp chứng kiến phiên xổ số và gọi điện thoại di động báo ngay kết quả về nhà. Kết quả đó được nhanh chóng ghi lại và nhân bản ra thành muôn vàn những tờ giấy trắng nho nhỏ - một cách đóng gói thông tin giản dị và hiệu quả.

    Số đề là một kiểu ăn theo xổ số. Xổ số còn tồn tại dài dài thì số đề cũng còn lâu mới chịu thoái lui. Và việc bán thông tin cho những người chơi đề vẫn còn có cơ hội để tồn tại, cho dù đây là thứ thông tin chỉ mang lại sự vỡ mộng nhiều hơn là niềm vui sướng.

    Ví dụ nói trên về việc kinh doanh thông tin chứa đựng những nghịch lý to lớn của xã hội ta. Dưới đây là một vài nghịch lý dễ dàng nhận thấy:

    Một là, chúng ta đã tỏ ra hết sức nhạy bén trong những cơ hội kiếm tiền nho nhỏ, nhưng lại khá ù lỳ đối với những cơ hội kiếm tiền to lớn. Thông tin về việc đề về số bao nhiêu đã được khai thác triệt để nhưng thông tin về việc thị trường trong nước và thế giới đang chuyển động như thế nào lại không làm sao mà tiếp thị và chào bán được.

    Hai là, chúng ta sẵn sàng chi cho những thông tin không làm nên sự khác biệt, nhưng lại chần chừ thậm chí ít quan tâm tìm mua những thông tin có thể dẫn đến sự thành công. Biết được mình thua đề trước một giờ hoặc sau đó một giờ thì có khác gì nhau? Trong khi đó, biết được nhu cầu của thị trường, thị hiếu của khách hàng hay tiềm năng của đối thủ cạnh tranh mới là điều quan trọng. Rất tiếc, quan trọng đến mấy thì chúng ta cũng chỉ dành sự quan tâm trước hết cho chuyện sản xuất, chứ chưa phải cho những thông tin nói trên. Hậu quả là các nhà máy đường, các nhà máy chế biến dứa v.v... được xây dựng hàng loạt và gây ra thua lỗ hàng loạt.

    Cuối cùng, xã hội của tương lai là xã hội thông tin. Thông tin đang tạo ra những bước phát triển vượt bậc cho nhiều nước trên thế giới. Thông tin cũng có thể tạo ra những bước phát triển như vậy cho đất nước của chúng ta. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra khi chúng ta biết bán và mua những thông tin cần thiết cho kinh doanh và phát triển.

    17. Dịch vụ tư vấn

    Sự thành đạt, suy cho cùng, là việc giải quyết ổn thỏa những vấn đề cơ bản đặt ra cho một cá nhân trong cuộc sống.

    Cho dù là cơ bản, những vấn đề này vẫn nhiều như sao ở trên trời. Một người thành đạt như cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, cũng suýt thất bại trong đời sống gia đình trước một vấn đề nho nhỏ với cô thực tập sinh Monica. Với sự luận tội của Quốc hội, sự bới móc của đảng đối lập và các phương tiện truyền thông, cô bồ nhỏ đã trở thành một vấn đề quá lớn đối với hạnh phúc của gia đình ông ta. Tuy nhiên, vợ chồng ông Bill Clinton đã làm được điều mà ít ai có thể làm được là gìn giữ được tổ ấm của mình. Và dịch vụ tư vấn về tâm lý và hôn nhân đã giúp vợ chồng ông làm được điều đó. Nếu một tổng thống còn phải tìm đến dịch vụ tư vấn, thì những người dân bình thường sẽ cần đến các dịch vụ này như thế nào?!

    Khi được hỏi nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế gì, một giáo sư đã không ngần ngại trả lời: "Đó là nền kinh tế dịch vụ." Có đến trên dưới 80% GDP của nước Mỹ là do dịch vụ mang lại, trong đó dịch vụ tư vấn đóng một vai trò hết sức quan trọng.

    Dịch vụ tư vấn phát triển là do nhu cầu của con người về kiến thức và về sự hiểu biết ngày một tăng lên. Thực ra, nhà sản xuất bán hàng hóa, thì nhà nghiên cứu bán sự hiểu biết là chuyện bình thường trong nền kinh tế thị trường. Đây đơn giản là một sự chuyên môn hóa và phân công lao động để đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn. Đây cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức. Khi 75 - 80% lực lượng lao động trong một nước là những chuyên gia, trí thức, người ta có một nền tảng kinh tế - xã hội hết sức thuận lợi cho dịch vụ tư vấn phát triển.

    Trước hết, những chuyên gia thường chỉ có kiến thức chuyên sâu thuộc về lĩnh vực của mình, nhưng cuộc sống hiện đại đòi hỏi kiến thức chuyên sâu thuộc về rất nhiều lĩnh vực. Để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống, đơn giản nhất là đi mua kiến thức của người khác khi cần. Nhu cầu tìm mua kiến thức vì vậy ngày càng tăng lên theo mức độ chuyên sâu của các chuyên gia.

    Hai là, hơn ai hết, các chuyên gia hiểu rất sâu sắc rằng phải có kiến thức chuyên sâu mới giải quyết được vấn đề. Điều này biến họ thành những khách hàng có ý thức trong việc tìm mua sự hiểu biết của người khác.

    Dịch vụ tư vấn trong một xã hội hiện đại là hết sức phong phú. Có bao nhiêu lĩnh vực của đời sống vật chất, tinh thần thì có bấy nhiêu lĩnh vực tư vấn. Những dịch vụ tư vấn được nói tới nhiều nhất là tư vấn pháp lý, tư vấn đầu tư, tư vấn về ngân hàng, tư vấn về chuyển giao công nghệ, tư vấn về tâm lý v.v... Ngày nay, có những công ty còn cung cấp tư vấn cả cho việc hoạch định chiến lược phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của các quốc gia.

    Ở nước ta, ngành dịch vụ nói chung và ngành dịch vụ tư vấn nói riêng đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển. Ngoại trừ những công ty trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, thẩm định các công trình xây dựng, các loại công ty khác như công ty luật, công ty tư vấn về chuyển giao công nghệ, công ty tư vấn về chứng khoán, các trung tâm tư vấn về hôn nhân, gia đình v.v... đều mới được hình thành trong một thời gian tương đối ngắn.

    Thực ra, nhu cầu của xã hội về dịch vụ tư vấn cũng chưa cao, nguyên nhân là tâm lý tự túc, tự cấp trong lĩnh vực tư duy vẫn còn ngự trị trong xã hội. Những người dân có tiền sẽ tìm cách mua đất theo phong trào, hơn là tìm đến các chuyên gia để được tư vấn về đầu tư. Một công ty muốn thâm nhập thị trường Mỹ sẽ tìm cách mở văn phòng, tham gia triển lãm, tự tìm kiếm khách hàng, hơn là mua dịch vụ tư vấn về thâm nhập thị trường. Một nguyên nhân khác là nhận thức, hay chính xác hơn là tình trạng thiếu nhận thức về sự cần thiết phải mua dịch vụ tư vấn. Nhiều người có thể không tiếc tiền cho các vật liệu xây dựng và hệ thống toilet, nhưng lại chần chừ khi phải trả tiền cho một kiến trúc sư giỏi. Họ đã không mua cái đáng mua nhất. Và hậu quả là phẩm cấp của hệ thống toilet đã không thể nào bù đắp được sự bất hợp lý của cả ngôi nhà.

    Mặt khác, chất lượng các dịch vụ tư vấn ở ta cũng mới ở mức vừa phải. Vấn đề là sau khi được tư vấn, các khách hàng vẫn thấy băn khoăn: mọi chuyện có thể là như vậy, nhưng có thể chưa chắc đã như vậy. Và lơ lửng trong không khí vẫn là câu hỏi: "Không biết có thể tin các quân sư quạt mo này đến đầu?" Uy tín của các dịch vụ tư vấn vì vậy, đang là điều kiện quan trọng nhất để các dịch vụ này thâm nhập thị trường và làm bừng dậy một ngành kinh tế.

    Trở lại với sự thành đạt, có gì có thể giúp chúng ta thành công nhanh chóng và chắc chắn hơn là mua lấy sự khôn ngoan của người đời! Chỉ có điều, sự khôn ngoan này ở ta không biết đã sẵn lắm chưa?

    18. Quản trị lòng tin

    Lòng tin, giống như không khí, rất cần, nhưng khó cảm nhận. Chính xác hơn, khi nó hiện hữu thì ít ai để ý; khi nó thiếu hụt thì khủng hoảng lập tức xảy ra. Cuộc khủng hoảng của Ngân hàng ACB vừa qua, trước hết là cuộc khủng hoảng về lòng tin.

    "Con vịt" kẻ xấu tặng ACB là một đòn rất nặng. Việc ông Tổng Giám đốc ACB tham nhũng và bỏ trốn là chuyện bịa, nhưng ở ta, khách hàng có đủ lý do để tin ngay vào câu chuyện này vì chuyện ôm tiền Nhà nước, tiền hụi bỏ trốn vẫn xảy ra như cơm bữa.

    "ACB sắp vỡ nợ đến nơi rồi! Phải rút tiền ngay!" là ý nghĩ đầu tiên của mỗi khách hàng. Họ lập tức rút tiền gửi ở ACB. Thấy những người này rút tiền, những người khác cũng nháo nhác đua nhau rút. Hiệu ứng domino bắt đầu xảy ra và sự sụp đổ của ACB là điều khó tránh khỏi.

    Chẳng có cách nào khác để cứu vãn ACB ngoài cách khôi phục lại lòng tin của khách hàng. Tuy chậm, nhưng rất may là ban lãnh đạo ACB đã hành động theo cách này, và chính quyền cũng đã trợ giúp kịp thời.

    Thực ra, "con vịt" mà kẻ xấu tung ra chỉ là một thứ "vịt nhà không biết bay": không có gì dễ bằng việc lật tẩy tin ông tổng giám đốc bỏ trốn, khi có sẵn ông tổng giám đốc bằng xương, bằng thịt trong tay, chỉ cần làm cái chuyện demo là xong. Tuy nhiên, sự bảo đảm của ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới là liệu pháp khôi phục lòng tin nặng đô nhất. Vì thực ra, nếu được Ngân hàng Nhà nước bảo đảm thì chuyện ACB có vỡ nợ hay không nào có quan trọng gì. Sự bảo đảm này là rất hào hiệp, nhưng có thế rất đắt đỏ. Chính quyền bang New South Wales đã làm điều tương tự đối với quỹ tín dụng xây dựng và đã phải bỏ một núi tiền ra để đền bù cho dân khi quỹ này đổ vỡ.

    Cuối cùng, Ngân hàng ACB đã trụ vững và trở lại hoạt động bình thường. ACB đã vượt qua được cơn khủng hoảng không phải nhờ sự tài giỏi trong nghiệp vụ, mà nhờ lòng tin của khách hàng được khôi phục. Có lẽ, ACB sẽ cần phải xây dựng một chiến lược phù hợp để quản trị tài sản vô giá, nhưng khó bảo quản này.

    19. Thị trường của người bán

    Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, thị trường là của người bán; trong nền kinh tế thị trường, thị trường là của người mua.

    Thị trường của người bán là một thị trường luôn luôn thiếu hụt. Người bán cung cấp hàng hóa theo độc quyền và theo kế hoạch, chứ không theo nhu cầu của người mua. Do nhiều nhu cầu không được đáp ứng, đến lượt mình, người mua đã mua tất cả những gì được phân phối hoặc xếp hàng đến lượt (biết đâu đến lúc cần lại không có mà mua), mặc dù, rất nhiều thứ được mua về là chẳng để làm gì, ngoài việc biến hàng hiệu căn nhà của chúng ta thời đó thành những chiếc kho nho nhỏ. Những chiếc kho này bao giờ cũng thừa và bao giờ cũng thiếu. Những thứ thừa chỉ tổ để chật nhà. Những thứ thiếu thì tìm mua không được. Hậu quả là cả xã hội luôn luôn ngột ngạt vì khan hiếm. Sự khan hiếm triền miên đã bắt buộc người mua phải tìm cách lấy lòng người bán và làm cho người bán trở nên hách dịch và cẩu thả.

    Thị trường của người mua là một thị trường mà sự giàu có của người bán phụ thuộc và việc bán được hàng cho người mua. Sự khác biệt nho nhỏ này đã biến người mua trở thành "Thượng đế". Người bán phải tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu của người mua. Ngoài ra, để giữ khách hàng của mình, người bán còn phải không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Thái độ đối xử với người mua cũng trở nên niềm nở hơn. Một sự niềm nở bắt buộc lâu dần trở thành thói quen và văn hóa kinh doanh. Thị trường của người mua đang làm cho cuộc sống của chúng ta ngày càng dễ chịu hơn và tiện nghi hơn.

    Rất tiếc, không phải trong mọi lĩnh vực, thị trường của người bán đã nhường chỗ cho thị trường của người mua. Việc Công ty Vận tải và Dịch vụ Công cộng Hà Nội, và đặc biệt là Công ty Xe khách Sài Gòn phải mua xe buýt của Transinco là một ví dụ. Do không được quyền lựa chọn, những người mua này đã lập tức từ "Thượng đế" biến thành những người chịu ơn (nhờ mua xe buýt của "chúng em" mà "các bác" được hưởng lãi suất vay ưu đãi). Hậu quả tất yếu là: những người mua đã nhận được sự cẩu thả, tắc trách của người bán. Đây là cách cư xử hoàn toàn dễ hiểu: lợi ích của người bán đã không phụ thuộc vào người mua mà vào sự ủng hộ của bộ máy hành chính. Còn có sự ủng hộ này, thị trường của người bán còn tồn tại dài dài với sự cẩu thả và hách dịch của người bán và sự thiếu hụt của hàng hóa, dịch vụ. Đây cũng là lý do giải thích sự không may của chúng ta liên quan đến việc cung cấp nước sạch, điện, dịch vụ viễn thông, y tế, bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cơ giới v.v... và v.v...

    Thực tế cho thấy, thiếu sự cạnh tranh lành mạnh và thật sự, không một doanh nghiệp con cưng nào có thể được tôi luyện "nên người". Những doanh nghiệp như vậy không sớm thì muộn sẽ chết yểu trong cuộc cạnh tranh toàn cầu mà dân tộc ta đang phải đối mặt. Vậy thì, Nhà nước nên tập trung mọi cố gắng của mình để chống độc quyền, chống sự lũng đoạn thị trường (đặc biệt là thị trường thuốc tân dược hiện nay) nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng, minh bạch cho tất cả mọi doanh nghiệp, bất kể trong hay ngoài quốc doanh. Tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh và trung thực nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất sẽ giúp chúng ta sớm đoạn tuyệt với thị trường của người bán và những rủi ro không đáng có mà nó sản sinh ra.

    20. Năm nhà hay mấy nhà?

    Để giúp đỡ cho nhà nông tại sao không tập hợp các loại nhà khác lại? Đó là ý tưởng nằm đằng sau những cố gắng kết hợp nhà nông với nhà quản lý, nhà khoa học và sau đó là với nhà ngân hàng và nhà doanh nghiệp. Mô hình năm nhà bắt đầu được nói tới như một cách làm hay. Tuy nhiên, công bằng mà nói, sau những lần được các phương tiện truyền thông đưa tin rầm rộ, các nhà nói trên vẫn đang chủ yếu ai ở nhà người ấy. Có thể, do nhu cầu thực tế ở một số nơi, các nhà này đã được kết hợp lại với nhau nhưng trong đa số các trường hợp, sự cấy ghép nhân tạo đã không tạo ra được một mô hình cộng sinh lành mạnh.

    Trước hết, mối quan hệ được xây dựng trên sự hào hiệp là rất tốt đẹp, nhưng mối quan hệ được xây dựng trên lợi ích mới thật sự lâu bền. Giúp cho nhà nông thì hào hiệp, nhưng không lâu bền. Làm ăn với nhà nông thì không hào hiệp bằng nhưng lâu bền hơn. Trong bốn nhà kia, ai có thể làm ăn được với nhà nông?

    Nhà quản lý, có lẽ, là nhà có ít cơ hội nhất. Tuy nhiên, nhà quản lý phải phục vụ nhà nông theo một cơ chế khác. Đó là chế độ trách nhiệm. Mọi nhà quản lý thì đều ăn lương từ tiền thuế mà thuế là tiền của dân. Phục vụ những người đóng thuế để nuôi mình, trong đó có nông dân là lý do tồn tại của công quyền và của nhà quản lý. Tuy nhiên, nghịch lý nằm ở chỗ: không phải nhà quản lý nào cũng thấy được bản chất giản dị đó của mối quan hệ với dân. Vì vậy, để nhà quản lý gắn bó chặt chẽ với nhà nông, điều quan trọng là phải xác lập được chế độ trách nhiệm của nhà này trước dân, hoặc chí ít là trước cơ quan đại diện cho dân.

    Nhà khoa học có cơ hội làm ăn với nhà nông, nhưng không có sức ép lớn phải làm ăn với nhà nông (ngoại trừ sức ép của lương tâm). Lý do rất đơn giản: Nhà nông thì phải tự nuôi mình; nhà khoa học thì được Nhà nước nuôi là chính, ít nhất thì thu nhập của các nhà này không phụ thuộc gì nhiều lắm vào việc có hợp tác được với nhà nông hay không. Nếu Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu khoa học bằng cách như thế nào đó để nhà nông có được tiếng nói của mình thì sự gắn bó giữa hai nhà sẽ được xác lập dễ dàng hơn. Ngược lại, đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo sáng kiến của nhà quản lý, thậm chí của nhà khoa học, thì kết quả không khéo chỉ làm vừa lòng các hội đồng nghiệm thu, chứ chưa chắc đã vừa lòng các nhà nông.

    Xét về bản chất, nhà khoa học chỉ có thể hợp tác với nhà nông bằng cách chuyển giao tri thức và công nghệ. Đây là những thứ mà không phải nhà nông nào cùng sẵn sàng mua và có điều kiện để mua. Không mua thì có thể cho không nhưng cho không thì không phải là làm ăn với nhau và không thể lâu dài. Ngoài ra, các nhà khoa học sẽ cho không được bao lâu? Suy cho cùng, nếu sự cho không xảy ra thì đó là sự cho không từ ngân sách của Nhà nước được chuyển đi lòng vòng mà thôi vì nhà khoa học vẫn cần phải sống và phải có kinh phí để tiếp tục nghiên cứu. Như vậy, giữa nhà khoa học và nhà nông cần phải có một sự kết nối trung gian nào đó hơn là mối quan hệ trực tiếp, phải chăng đó chính là nhà kinh doanh?

    Nhà ngân hàng và nhà kinh doanh đều có thể làm ăn với nhà nông. Việc phân chia giữa nhà ngân hàng với nhà kinh doanh chỉ là tương đối. Có nhà ngân hàng nào lại không phải là một nhà kinh doanh? Nhà ngân hàng cung cấp vốn cho nhà nông vì có thể thu lãi từ hoạt động này. Nhà kinh doanh cũng tìm thấy ở nhà nông những cơ hội làm ăn. Và đây chính là động lực thúc đẩy hợp tác và xây dựng mối quan hệ lâu dài. Thực chất, khi các nhà kinh doanh nhận biết cơ hội làm ăn với nhà nông, thì họ sẽ tìm mọi cách để huy động vốn, tri thức, công nghệ, năng lực tiếp thị v.v... nếu sự huy động này là cần thiết. Như vậy, với sự điều phối của nhà kinh doanh, nhiều nhà các loại sẽ được huy động vào cuộc. Thật vậy, nếu công cuộc làm ăn đòi hỏi phải phối hợp cả nhà kiến trúc, nhà thiết kế, nhà tiếp thị nữa thì tại sao lại chỉ năm nhà?

    Như vậy, phối hợp quá nhiều nhà thì chưa chắc đã bằng tạo điều kiện cho một nhà, đó là nhà kinh doanh. Tuy nhiên, để nhà kinh doanh vào cuộc, nhà nông cũng sẽ phải học cách làm ăn hiện đại và tôn trọng chữ tín. Nếu đã ký hợp đồng mà nhà nông vẫn hành xử theo cách giá thấp thì bàn giao sản phẩm, giá cao thì bán ra thị trường, các nhà kinh doanh sẽ nhìn thấy trong việc làm ăn này rủi ro nhiều hơn là cơ hội. Mối quan hệ làm ăn như vậy là không thể lâu dài.

    21. Hãy mua hàng Việt Nam!

    "Hãy mua hàng Việt Nam!" là lời kêu gọi của một người nước ngoài. Chị Virginia Greasly, một tình nguyện viên người Anh, đã làm điều mà đáng ra những người Việt chúng ta phải tâm niệm và nhắc nhở nhau hằng ngày.

    Tâm lý sính hàng ngoại là điều có thể hiểu được khi trước đây, chất lượng hàng hóa của chúng ta thường thua kém của thiên hạ. Thế nhưng ngày nay, khi rất nhiều sản phẩm "made in Vietnam" đã không chỉ rất tốt, mà còn rất rẻ, thì sự chính đáng và tính hợp lý của việc chạy theo hàng ngoại không còn. Ngoài sức ì của thói quen và niềm tin ngây thơ vào những lời quảng cáo, việc tôn sùng hàng ngoại có thể còn do sự háo danh thúc đẩy. Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem, nếu Thủ tướng Hà Lan hằng ngày đạp xe đạp đi làm thì việc một quý ông người Việt chỉ chuyên xài loại thịt bò và cá hồi nhập khẩu phỏng có thể chứng minh được điều gì?

    Hãy mua hàng Việt Nam! Với 80 triệu người tiêu dùng, chúng ta có thể làm nên sự khác biệt cho nền kinh tế của nước nhà, một nền kinh tế mới bắt đầu hội nhập và đang rất cần được tiếp sức từ nguồn năng lực to lớn của tình yêu Tổ quốc. Mua hàng Việt Nam nghĩa là tiếp sức cho các doanh nghiệp của chúng ta trong những bước đi chập chững đầu tiên của cuộc chơi mới mang tên cạnh tranh toàn cầu; là góp phần giảm bớt số lượng những đồng bào của chúng ta ngồi vạ vật chờ việc bên hè phố; là làm vơi đi sự cơ cực của những người nông dân khi "được mùa mà không được giá."

    Hãy mua hàng Việt Nam! Nếu những người nuôi cá ba sa đã bị đối xử bất công ở Mỹ, thì xin đừng để điều đó cũng xảy ra ở Việt Nam!

    Khác với sự bảo trợ của Nhà nước, sự bảo trợ của những người tiêu dùng là hoàn toàn tự nguyện. Sự tự nguyện này đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải phấn đấu liên tục để giữ gìn. Các doanh nghiệp sẽ lập tức bị trừng phạt khi họ lợi dụng sự ưu ái của những người tiêu dùng để làm dối, làm ẩu. Mỗi khi những người tiêu dùng thay đổi sự lựa chọn, nguy cơ phá sản sẽ đe dọa bất cứ một doanh nghiệp nào. "Một sự bất tín, vạn sự bất tin", chi phí để giành lại lòng tin của người tiêu dùng có thể lớn đến mức không thể nào đo đếm được. Ngoài ra, để phục vụ người tiêu dùng tốt hơn, các doanh nghiệp trong nước còn cần phải không ngừng cạnh tranh với nhau về chất lượng, giá cả của các hàng hóa và dịch vụ. Đây cũng là cách tốt nhất để mài sắc các kỹ năng cần thiết cho quá trình hội nhập.

    "Hãy mua hàng Việt Nam!" - thông điệp liên kết mọi người Việt Nam yêu nước trong thời đại mới.

    22. Máy bay "Made in Vietnam"

    Cứ nghĩ mà xem, việc anh "Hai Lúa" Lê Văn Danh chế tạo máy bay thì có khác gì so với việc chàng sinh viên năm thứ hai Bill Gates bỏ học để sản xuất hệ điều hành máy tính? Khác chăng chỉ là Bill Gates thì trở thành người giàu có nhất hành tinh; còn anh "Hai Lúa" thì bị tịch thu mất thứ tạm gọi là trực thăng của mình.

    Cho dù chiếc máy bay của anh "Hai Lúa" chỉ tạo ra được một sự kiện báo chí, chứ không phải một bước phát triển mới cho nền hàng không dân dụng nước nhà, nhưng khát vọng vươn lên của người Việt vẫn bị "những cánh quạt chưa quay" của nó khuấy động.

    Thực ra, Trái đất quay là nhờ sức sáng tạo và sự đam mê của những cá nhân. Xét về mặt này, tiềm năng của "Hai Lúa" và Bill Gates là như nhau. Vấn đề là tại sao Bill Gates lại thành công, mà "Hai Lúa" thì không?

    Có lẽ, Bill Gates may hơn. Những ý tưởng táo bạo chỉ trở thành hiện thực trong những điều kiện nhất định. Các điều kiện đó là sự tồn tại của tư bản mạo hiểm, tư bản tri thức và tư bản xã hội. Xin diễn đạt một cách mộc mạc hơn các điều kiện nói trên:

    Một là, phải có những người sẵn sàng đầu tư tiền vào những ý tưởng "điên rồ" nhưng có thể làm thay đổi thế giới.

    Hai là, phải có nguồn tri thức có thể huy động liên tục để giải quyết các vấn đề đặt ra, kể cả những vấn đề về mặt pháp lý, khi biến ý tưởng thành sản phẩm cụ thế.

    Ba là, phải có sự hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm của rất nhiều chuyên gia có liên quan. Và sự hợp tác này là dựa trên cơ sở của lòng tin.

    Ở quê hương của mình, Bill Gates có đầy đủ các điều kiện nói trên, và hệ điều hành máy tính Windows đã ra đời. Sản phẩm này biến Bill Gates thành người giàu có nhất thế giới. Ở Suối Ngô, anh "Hai Lúa" của chúng ta có những thứ gì?

    Về tư bản mạo hiểm, đây là thứ ở Việt Nam nói chung còn chưa hình thành, thì ở Suối Ngô làm sao có được. Anh "Hai Lúa" đã bỏ ra 200 triệu để đầu tư. Số tiền này thật lớn so với thu nhập của một người nông dân, nhưng quá nhỏ so với một chiếc máy bay.

    Về tư bản tri thức, tri thức thì có thể chúng ta cũng có, nhưng cơ chế để biến nó thành tư bản tri thức thì chưa thật rõ. Anh "Hai Lúa" đã chẳng biết huy động tri thức ở đâu ra, ngoài việc đề nghị Sở Khoa học - Công nghệ giúp đỡ và bị từ chối, và việc "học lỏm" qua mạng Internet. Thật khó tin là sẽ có nhiều tri thức về việc chế tạo máy bay như thế nào bằng tiếng Việt ở Internet.

    Về tư bản xã hội, anh "Hai Lúa" đã được "bạn bè có chuyên môn về cơ khí giúp đỡ, chỉ vẽ", nhưng cũng bị hàng xóm "cười nhạo, nói anh chơi ngông". Như vậy, tư bản xã hội là thứ cũng chưa lấy gì làm dồi dào cho lắm ở Suối Ngô.

    Với những điều kiện khách quan như vậy, ý tưởng sản xuất máy bay của anh "Hai Lúa" chỉ còn là một sự quật khởi bất thành. Cho dù đây là một tổn thất không đáng có của việc "khám phá châu Mỹ" lần thứ hai, đất nước ta vẫn rất cần những người có ước mơ và dám dấn thân như anh "Hai Lúa". Vấn đề là làm sao bảo đảm được những điều kiện cần thiết để những ý tượng sáng tạo có thể trở thành hiện thực trong cuộc sống. Và đây là việc mà Nhà nước và cả xã hội ta phải làm.

    Bảo đảm đủ không gian và đủ thôi thúc cho những sáng kiến cá nhân và bảo đảm những điều kiện cần thiết để các cá nhân đưa sáng kiến của mình vào cuộc sống là cái chúng ta cần nhất để trở nên giàu có.

    23. Được, mất xung quanh những chiếc xe máy

    Thuế tiêu thụ đặc biệt là một thứ thuế gián thu. Thuế gián thu khác với thuế trực thu (ví dụ, thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp) ở chỗ: việc đánh thuế chỉ thực hiện được thông qua các giao dịch trên thị trường. Nghĩa là, nếu không xảy ra các giao dịch này, thì các khoản thu được mong đợi thực chất chỉ là một thứ "cua trong lỗ". Ngoài ra, cho dù "đối tượng chịu thuế" có được gọi là xe máy, ô tô hoặc rượu, bia gì gì đi nữa (như trong Tờ trình của cơ quan soạn thảo Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt), thì đối tượng chịu thuế thật sự vẫn chỉ là những người tiêu dùng. Từ hai tính chất này, chúng ta thử thực hiện một vài phân tích chính sách về kiến nghị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những chiếc xe máy.

    Mục tiêu của việc đưa xe máy vào đối tượng đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lần này theo Tờ trình là nhằm "hạn chế số lượng xe máy tham gia giao thông". Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh đã bị thu hẹp trên cơ sở ý kiến của ủy ban Kinh tế Ngân sách của Quốc hội: Chỉ đánh thuế vào những xe máy mới có giá bán từ 25 triệu đồng trở lên (để không gây khó khăn cho những người có thu nhập thấp). Ngoài ra, như mọi loại thuế tiêu thụ đặc biệt khác, thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào xe máy cũng nhằm vào các mục tiêu đương nhiên sau đây:

    - Điều chỉnh thu nhập (theo hướng bảo đảm công bằng).

    - Hạn chế tiêu dùng.

    - Tăng thu ngân sách.

    Trước hết, về mục tiêu "hạn chế số lượng xe máy tham gia giao thông". Giá tăng thì cầu giảm là một quy luật của kinh tế thị trường. Trong một khoảng thời gian ngắn hạn, cầu đối với xe máy giá 25 triệu đồng trở lên có thể giảm. Tuy nhiên, tổng cầu đối với xe máy thì vẫn không giảm. Ngược lại, xu thế cầu tăng là điều có xác suất lớn hơn. Hai nguyên nhân làm cho cầu tăng là: 1- Thu nhập của người dân đang ngày càng tăng lên dẫn đến sức mua cũng tăng theo. 2- Mức giá đầu trên bị khống chế bởi việc đánh thuế khuyến khích các công ty đầu tư cho những chiếc xe máy giá rẻ. Cùng với quy luật cạnh tranh, việc này sẽ làm cho giá xe máy càng hạ. Giá hạ thì cầu tăng. Trên thực tế, sẽ diễn ra việc đa số người dân đồng loạt mua xe dưới 25 triệu đồng và đẩy số lượng xe máy tăng lên hết sức nhanh chóng.

    Những người muốn kết hợp nhu cầu đi lại với việc "chưng diện" sẽ chia làm hai loại: Một loại không chịu đựng được sự tăng giá, và một loại hoàn toàn có thể chịu đựng được. Loại 1 sẽ buộc lòng phải hạ thấp đòi hỏi của mình và mua xe dưới 25 triệu (họ không thể thiếu phương tiện đi lại). Loại 2 vẫn cứ mua kiểu xe mà họ thích. Nghĩa là ngay cả trong trường hợp này, tổng số xe máy được mua vẫn sẽ không giảm.

    Những phân tích nêu trên cho thấy, mục đích "hạn chế số lượng xe máy tham gia giao thông" là không thể đạt được với một chính sách thuế nửa vời như đã đưa ra.

    Hai là, về việc điều chỉnh thu nhập. Chênh lệch quá đáng về thu nhập cần phải được điều chỉnh để bảo đảm công bằng và sự ổn định xã hội. Công cụ quan trọng nhất để làm được điều này là thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, nhiều khoản thu nhập cá nhân ở ta là không chính thức và chẳng có cách nào theo dõi được. Vì vậy, công cụ quan trọng nhất này chỉ phát huy được tác dụng ở một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài, còn thì chào thua trong hầu hết mọi trường hợp khác. Thuế tiêu thụ đặc biệt có thể được coi là một công cụ khác ít quan trọng hơn (vì đây là thuế gián thu). Công cụ này chỉ có ích đối với các loại hàng hóa và dịch vụ cao cấp phục vụ người giàu. Ngược lại, nếu nó được áp dụng cho cả những loại hàng hóa, dịch vụ mà người nghèo cũng cần thì việc điều chỉnh thu nhập không những không thực hiện được, mà sự chênh lệch giàu nghèo sẽ trở nên trầm trọng hơn. Đây là lý do vì sao các cơ quan của Quốc hội đã không đồng ý với việc đánh thuế các loại xe máy có giá thấp.

    Việc điều chỉnh thu nhập chỉ còn thực hiện được đối với những người đủ khá giả để mua xe máy với giá từ 25 triệu đồng trở lên. Số người này, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, do các chính quyền địa phương đang áp đặt rất nhiều biện pháp hành chính để hạn chế xe máy, như việc đình chỉ đăng ký xe máy trong các quận nội thành; mỗi người dân chỉ được mua một chiếc xe máy... số người có đủ điều kiện mua xe máy phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là rất nhỏ bé. Thêm vào đó, việc đánh thuế để điều chỉnh cũng chỉ làm được mỗi một lần (với các thủ tục hành chính hiện nay, việc mua xe lần thứ hai là hoàn toàn bế tắc không thể thực hiện được). Từ phân tích trên, việc cố gắng đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe máy giá trên 25 triệu sẽ chẳng khác gì chuyện "ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng" cả.

    Ba là, về việc hạn chế tiêu dùng. Hạn chế tiêu dùng là một tác động quan trọng của thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên, người ta chỉ hạn chế tiêu dùng đối với những thứ có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu... hoặc ít có lợi cho văn hóa và thuần phong, mỹ tục như các hình thức giải trí có cá cược. Xe máy không nằm vào bất kỳ loại nào như thế.

    Bốn là, về việc tăng thu cho ngân sách. Việc tăng thu cho ngân sách có thể xảy ra. Mặc dù, không nên đặt quá nhiều hy vọng vào khoản tăng thu này. Trong bất cứ trường hợp nào, điều đáng phải băn khoăn nhất là khoản thu này chưa chắc đã bù đắp được cho những tổn thất về môi trường do việc khuyến khích sử dụng các xe máy chât lượng thấp gây ra. Đó là chưa tính đến các chi phí xã hội rất lớn cũng có thể phát sinh vì nguyên nhân tương tự.

    Những phân tích chính sách nêu trên là rất sơ bộ. Chúng chỉ nhằm cung cấp một vài thông tin về những "cái được", "cái mất" trong việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe máy. Tuy nhiên, thông tin gì thì cũng chỉ là để tham khảo. Ý chí của các vị đại biểu Quốc hội mới là cái cuối cùng sẽ quyết định người tiêu dùng có phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt khi muốn mua xe máy xịn hay không.

    24. Muối chát

    Muối rớt giá. Nỗi nhọc nhằn và cơ cực không được đền đáp chát đắng trong lòng của những diêm dân.

    Cũng như đường, vải, cà phê..., muối rớt giá vì cung lớn hơn cầu. Những hạt muối mặn mòi là không thể thiếu, nhưng cũng không thể nhiều. Đặc biệt là khi muối ở ta lại chưa sử dụng được cho nhu cầu sản xuất công nghiệp. Cái mà những diêm dân có thể khai thác chỉ là thị trường muối ăn. Thị trường này không lớn. Mỗi người Việt Nam sử dụng 5 kg muối/năm để ăn, vì vậy mỗi năm chúng ta cần: 5 kg X 80 triệu người = 400 ngàn tấn muối. Muối còn được sử dụng để bảo quản, chế biến thực phẩm và một số nhu cầu khác. Lượng muối này khoảng 150 - 200 ngàn tấn. Tổng cầu về muối sẽ vào khoảng trên dưới 550 - 600 ngàn tấn/năm. Đây cũng là sản lượng muối được sản xuất hàng năm trong cả nước. Thế nhưng năm nay, sản lượng muối ước sẽ đạt khoảng 900 ngàn tần, nhiều gấp rưỡi so với những năm trước. Cung tăng thì giá giảm. Đó là quy luật của kinh tế thị trường.

    Chúng ta không thể ăn gấp đôi lượng muối, nhưng hoàn toàn có thể trả tiền gấp đôi hoặc hơn thế nữa cho 5 kg muối của mình. Điều này gần như không ảnh hưởng gì đến mức chi tiêu, cũng như khả năng tiết kiệm của phần lớn các gia đình Việt Nam. Trong một thị trường tự do, giá của hàng hóa, dịch vụ là giá mà bên mua sẵn sàng mua và bên bán sẵng sàng bán. Theo logic này, giá mà những diêm dân sẵn sàng bán phải là mức giá phản ánh được đầy đủ các chi phí sản xuất muối, cũng như các chi phí để tái sản xuất sức lao động. Tuy nhiên, làm sao bạn có thể mặc cả được, khi muối bị thừa mứa ở trên thị trường?! Sự dư thừa này đã làm vô hiệu hóa khả năng mặc cả, điều kiện quan trọng nhất để tác động lên giá của thị trường.

    "Nhanh, nhiều, tốt, rẻ" là câu khẩu hiệu đã bị lỗi thời. Muối rớt giá là một ví dụ cay đắng về sự lỗi thời này. Những diêm dân đã không thể giàu lên bằng cách sản xuất ra thật nhiều muối. Ngược lại, cái sự nhiều hơn đang đồng nghĩa với việc nghèo khó hơn. Để khắc phục "con bệnh lạm cung" trầm kha này, những diêm dân cần tập hợp nhau lại trong Hiệp hội những người sản xuất muối. Những gì mà Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa OPEC làm được thì những diêm dân ở các vùng muối khác nhau trong cả nước cũng có thể làm: nghĩa là điều chỉnh sản xuất để tác động lên thị trường. Làm chủ thị trường là cách quan trọng nhất để những diêm dân khốn khó của đất nước ta có được một cuộc sống dễ chịu hơn.

    Với tổng cầu đã được xác định, khả năng làm giàu không nằm ở việc sản xuất ra nhiều muối hơn nữa mà ở nghệ thuật bổ sung giá trị gia tăng cho muối. Điều này có thể làm được bằng rất nhiều cách: từ việc sáng tạo ra các kiểu đóng gói, bao bì sao cho thật tiện dụng trong những hoàn cảnh khác nhau; bổ sung thêm các tính năng hữu ích cho muối; chế biến muối thành các loại bột gia vị v.v... và v.v... Để làm được điều này cần có được những nhà kinh doanh tài giỏi và có tâm với những hạt muối. Phải chăng Tổng Công ty Muối Việt Nam đang có những nhà kinh doanh như thế?

    25. Sữa cô gái Hà Lan

    Cuối cùng thì mỗi người Việt Nam đều hiểu sữa Cô gái Hà Lan cũng chỉ là một thứ sữa bò. Hiểu vậy, nhưng chúng ta vẫn hào hứng mua và hào hứng uống. Đơn giản là tên sản phẩm với sự lập lờ dễ mến đã khắc sâu vào tâm trí của người tiêu dùng. Sự lập lờ này là hoàn toàn vô hại đối với những khách hàng "hám của lạ, chê cơm nhà", nhưng lại biến sữa Ông Thọ, một sản phẩm cạnh tranh thành một cái gì đó có vẻ ngô nghê, nực cười. Thực ra, thông điệp mà các nhà kinh doanh sữa Ông Thọ muốn gửi đến người tiêu dùng cũng khá tinh tế. Rất tiếc, sự tinh tế này bị Cô gái Hà Lan làm hỏng.

    Trên đây là một ví dụ về cuộc chơi mới mà các doanh nghiệp Việt Nam đang phải tham gia. Bạn sẽ thấy làm ra sản phẩm là một việc, nhưng quảng bá cho sản phẩm của mình lại là một việc hoàn toàn khác. Và bạn có thể đổ xuống sông, xuống biển mọi cố gắng của mình bằng cách đặt cho sản phẩm một cái tên mà mới nghe khách hàng đã thấy nản. Tiếp thị, quảng bá tên thương mại, thương hiệu và tên sản phẩm là một lĩnh vực rất mới mẻ đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, đây lại là phần tinh tế và quan trọng hàng đầu của hoạt động kinh doanh trong môi trường hội nhập và cạnh tranh toàn cầu.

    Trong một vài năm gần đây, cũng giống mỹ phẩm Hàn Quốc, thuật ngữ "thương hiệu" rất được ưa dùng. Mỹ phẩm Hàn Quốc tạo ra không ít sự ngộ nhận, thuật ngữ "thương hiệu" cũng tạo ra khá nhiều sự hiểu nhầm. Chúng ta đang dùng thuật ngữ "thương hiệu" để chỉ danh tiếng của một doanh nghiệp, thậm chí của một sản phẩm. Thực ra, thương hiệu chỉ là biểu tượng của một doanh nghiệp. Nó giúp người tiêu dùng nhận biết sản phẩm của doanh nghiệp đó. Thương hiệu tự thân hoàn toàn trung tính. Danh tiếng của doanh nghiệp mới là yếu tố xác định thái độ của người tiêu dùng đối với thương hiệu đó. Một doanh nghiệp nổi tiếng về sự bất cẩn, thì thương hiệu của nó chỉ tạo ra sự phản cảm mà thôi. Như vậy, "xây dựng thương hiệu" chính là xây dựng danh tiếng của doanh nghiệp.

    Một doanh nghiệp sẽ trở nên danh tiếng bởi chất lượng sản phẩm, tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng, văn hóa kinh doanh v.v... chứ không phải bởi một biểu tượng đẹp. Một công ty điện thỉnh thoảng lại để mất điện; một công ty nước thỉnh thoảng lại cúp nước chỉ tạo ra sự bực dọc của khách hàng cho dù biểu tượng của chúng có đẹp đến đâu đi chăng nữa. Mỗi khi độc quyền bị xóa bỏ, những công ty như vậy sẽ nhanh chóng biến mất khỏi thị trường.

    Khi bạn đã có danh tiếng, danh tiếng đó sẽ được "vật chất hóa" bằng tên thương mại; thương hiệu; tên, chủng loại, mẫu mã hàng hóa. Ví dụ, đối với Công ty Toyota thì: "Toyota" là tên thương mại (trade name); biểu tượng ba hình ellips (hai hình nhỏ lổng ngang nhau trong một hình to) là thương hiệu (trade mark); các loại xe "Camry", "Corola", "Crown"... là tên các chủng loại hàng hóa (brand name). Khi một công ty đã có danh tiếng, tên thương mại, thương hiệu, tên các chủng loại hàng hóa là những tài sản có giá trị nhất. Người ta gọi những thứ này là tài sản vô hình. Tài sản vô hình càng lớn thì công ty càng danh tiếng. Để bảo vệ những tài sản này, điều quan trọng là bạn phải đăng ký tên thương mại, thương hiệu và cả tên các chủng loại hàng hóa của mình. Khi các tài sản này đã được đăng ký, bạn có khá nhiều cách khai thác chúng để kiếm tiền. Hãng Rolls-Royce đã bán cho hãng BMW quyền sử dụng tên Rolls-Royce với giá 40 triệu bảng Anh. Các hãng Gucci, Nike có thể thuê các công ty ở các nước đang phát triển sản xuất hàng hóa sau đó gắn thương hiệu và tên sản phẩm của mình và bán với giá cao trên thị trường.

    Tiếp thị và sản xuất là hai hoạt động gắn bó với nhau, nhưng rất khác nhau. Toàn bộ kiến thức và sự tài giỏi trong hoạt động sản xuất có thể chẳng giúp ích được gì cho bạn trong việc xây dựng và tiếp thị tên tuổi của mình. Nếu trong sản xuất bạn cần phải có năng lực và hiểu biết về công nghệ, vật liệu, tổ chức lao động, thì trong xây dựng và tiếp thị tên tuổi của doanh nghiệp - về truyền thông, văn hóa, tâm lý và thị hiếu của người tiêu dùng v.v... Một công ty thường khó có thể tập trung được tất cả mọi kỹ năng và năng lực như vậy. Trong trường hợp này, cách tốt nhất là bạn nên thuê một công ty quảng cáo cung cấp dịch vụ cho bạn, cố gắng thuê được một công ty tài giỏi và giàu ý tưởng.

    Trở lại với sữa Ông Thọ, những phân tích ở phần đầu bài có thể chỉ là việc lo lắng không đâu. Chưa chắc, tất cả mọi khách hàng đã phát hiện ra sự hài hước của việc so sánh sữa Cô gái Hà Lan với sữa Ông Thọ. Hơn thế nữa, bản thân Cô gái Hà Lan, có thể, cũng không ý thức được cái sự làm khó cho Ông Thọ của mình. Tuy nhiên, khi đặt tên cho các sản phẩm hàng hóa liên quan đến sữa, tốt hơn hết là đừng bắt Ông Thọ phải đối đầu với Cô gái Hà Lan.

    26. Bài học của mía đường

    Chúng ta đang phải trả giá cho sự háo ngọt của mình bằng "một cái lỗ sâu răng có giá hàng tỷ đô la" (theo cách nói của giáo sư David Dapice). Chưa hết, có vẻ như "cái lỗ sâu răng" này còn nhức buốt dài dài với khả năng gây ra thua lỗ mỗi năm tới nhiều tỷ đồng.

    Chương trình một triệu tấn đường đã được bắt đầu từ năm 1995 với chi phí đầu tư 750 triệu USD và chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng 350 triệu USD. 32 nhà máy đường đã được xây dựng và 12 nhà máy có từ trước (kể cả 3 nhà máy liên doanh và 3 nhà máy 100% vốn nước ngoài), chúng ta có tất cả 44 nhà máy. Những nhà máy này sản xuất ra khoảng trên 1 triệu tấn đường, trong lúc đó tổng cầu trong nước chỉ vào khoảng 800 ngàn tấn. Vấn đề không chỉ nằm ở việc đường được sản xuất ra quá nhiều, mà còn ở việc chúng được sản xuất ra với chi phí quá cao. Nếu giá đường của thế giới là 210 - 218 USD/tấn thì của ta là 278 USD/tấn. Nghĩa là nếu chúng ta sản xuất ra 1,1 triệu tấn đường/năm thì chi phí sản xuất sẽ cao hơn giá trị của sản phẩm theo mức giá của thế giới là 66 triệu USD.

    Điều đó hình thành nên một thực trạng dở khóc, dở cười là ăn không ăn được, bán không bán được. Với việc dư cung và giá đường thế giới thấp, đường trong nước rớt giá một cách thảm hại. Bằng một cố gắng tuyệt vọng, Hiệp hội Mía đường Việt Nam đã đưa ra "sáng kiến": đề nghị Nhà nước bù lỗ 200 tỷ đồng để xuất khẩu 200 ngàn tấn đường nhằm cân đối cung - cầu và giữ giá. Nghĩa là, những người đóng thuế trong nước cần phải trợ giá cho những người tiêu dùng ở nước ngoài, nhằm "được quyền" tiếp tục mua đường với giá cao!

    Chương trình một triệu tấn đường là cú va đập choáng váng giữa tư duy kinh tế cũ (kế hoạch hóa và tự túc, tự cấp) và thực tế nghiệt ngã của quá trình hội nhập. Chúng ta không sống một mình trên Trái đất, mà là một phần của thế giới. Với việc triển khai thực hiện AETA và cố gắng gia nhập WTO, chúng ta đang chấp nhận tham gia vào cuộc chơi chung (và cũng chẳng còn cách lựa chọn nào khác!).

    27. Những được, mất thấm đẫm mùi xăng

    Cuối cùng thì cái việc tăng giá cũng đã xảy ra. Dưới sức ép của thị trường thế giới, sự cầm cự của chúng ta trong việc bình ổn giá xăng dầu đã không thể kéo được dài hơn. Ngày 19/6/2004, giá các loại xăng dầu đã đồng loạt được nâng lên. Loại cao nhất tăng đến trên dưới 1.000 đồng, loại thấp nhất là khoảng trên dưới 200 đồng. Quyết định tăng giá là một quyết định khó khăn. Được, mất đan xen nhau trong một quyết định như vậy.

    Trước hết, xăng dầu là đầu vào của rất nhiều loại hàng hóa, dịch vụ. Giá xăng dầu tăng, giá của các hàng hóa, dịch vụ nói trên có thể sẽ tăng theo. Mọi sự tăng giá trong tình hình hiện nay đều rất bất lợi. Chỉ tiêu về việc kiềm chế lạm phát được Quốc hội đề ra cho năm nay có thể sẽ không đạt được. Giá cả tăng còn ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác và đời sống của nhân dân.

    Tuy nhiên, cái được có thể cũng rất lớn. Dưới đây là những cái được dễ dàng nhìn thấy:

    Một là, khắc phục tình trạng đi ngược với thị trường thế giới. Chúng ta đang hội nhập. Tác động của thị trường thế giới vào đất nước ta sẽ ngày càng to lớn hơn và trực tiếp hơn, chứ không phải là ngược lại. Vậy thì, chúng ta phải chấp nhận thực tế đó và nhanh chóng thích nghi với những biến động không thể tránh khỏi của thị trường thế giới. Che chắn thị trường trong nước khỏi những biến động nói trên không thể là một giải pháp lâu dài và không thể làm cho các doanh nghiệp, cũng như người tiêu dùng trong nước được tôi luyện vững vàng trong một cuộc chơi mới. Việc tăng giá dầu vì vậy chỉ là một hành động cụ thể của một chiến lược phát triển mới mà thôi.

    Hai là, bù giá không chỉ gây khó khăn cho ngân sách, mà còn tác động tiêu cực tới công bằng xã hội. Theo số liệu chính thức, để giữ nguyên giá xăng dầu, mỗi tháng Chính phủ phải bù lỗ cho các công ty kinh doanh xăng dầu 20 tỷ đồng từ tiền ngân sách. Vấn đề đặt ra không chỉ là ngân sách sẽ bù lỗ được bao lâu, mà còn là những ai được hưởng lợi từ khoản tiền bù lỗ này? Không cần phải tính toán thì chúng ta vẫn có thể trả lời ngay rằng: những người xài xăng dầu nhiều nhất thì được hưởng lợi nhiều nhất; người đi ô tô con thì được hưởng lợi nhiều hơn người đi xe máy; người đi xe máy thì hưởng lợi nhiều hơn người đi xe đạp. Và những người nghèo đi chân đất thì sẽ chẳng được hưởng lợi một chút nào cả. Chi tiền ngân sách như vậy có thật sự hợp lý và công bằng không? Xóa bỏ việc bù giá sẽ là cách trả lời hợp lý cho câu hỏi nêu trên.

    Thực tế cho thấy, những người nghèo thường dễ bị tổn thương hơn. Nếu lợi ích của việc bù giá ít đến được với những người này, thì khó khăn do việc tăng giá lại chắc chắn được chia phần cho họ. Vì vậy, nên sử dụng tiền bù giá để hỗ trợ cho những người nghèo vượt qua khó khăn của việc tăng giá. Điều này phù hợp hơn với mục tiêu của đất nước ta và đạo lý của dân tộc ta.

    Ba là, khắc phục được tình trạng bù giá cho lực lượng buôn lậu. Vừa qua, do giá xăng dầu trong nước quá thấp so với các nước xung quanh, một "áp lực khổng lồ" đã được tạo ra. Với áp lực này, xăng dầu đã bị bơm qua phía bên kia biên giới. Trong lúc đó, việc tăng cường đấu tranh chống buôn lậu có thế chỉ làm tốn kém thêm cho ngân sách mà chưa chắc đã giải quyết được vấn đề.

    Cuối cùng, việc tăng giá xăng dầu thì cũng giống như bất kỳ một giải pháp, một chính sách nào khác, được tất cả là điều không thể xảy ra. Vấn đề là chúng ta phải cân đối giữa được và mất để có sự lựa chọn. Phép cân đối hiện nay đang nghiêng về phía giải pháp tăng giá và tiến tới chấm dứt bù lỗ.

    28. "Alô" giảm giá

    Cũng là chuyện "alô", nhưng ngày xưa bạn chỉ "alô" chủ yếu vì sự cần thiết, ngày nay bạn đã bắt đầu có thể "alô" cả để tâm tình. Điều này có được là nhờ các công ty dịch vụ truyền thông đang đua nhau giảm giá. Việc cắt giảm giá bắt đầu từ những "chú ngựa non" S-Phone và Viettel. Tuy nhiên, các đại gia hùng mạnh VinaPhone và MobiFone cũng đã bị kéo vào cuộc. Mà giá giảm thì cầu tăng (kể cả cầu về giao tiếp) là quy luật của kinh tế thị trường.

    Nhu cầu của con người là thứ rất lạ: càng được đáp ứng thì càng trở nên phong phú và đa dạng hơn, chứ không phải là ngược lại. Điều dễ nhận thấy là: khi bạn không còn nhu cầu hớt tóc thì nhu cầu nhuộm tóc, xịt gôm... và một số nhu cầu khác cũng không còn. Một nhu cầu kéo theo vô số những nhu cầu khác chính là động lực đứng ở phía sau của mọi sự bùng phát về kinh tế. Giá cước giảm, mong muốn được gọi điện để thông báo, để chia sẻ, để tâm tình hoặc đơn giản là để cảm nhận sự gắn bó sẽ tăng. Và "alô" sẽ nhanh chóng trở thành "một phần tất yếu của cuộc sống" đối với rất nhiều người, đến mức họ sẽ hẫng hụt nếu thiếu "alô". Xét từ góc độ kinh tế đây là sự bù đắp bội phần hơn cho sự giảm giá cước điện thoại.

    Vấn đề là tại làm sao mà các công ty dịch vụ truyền thông lại trở nên hào phóng và nhã nhặn như vậy? Đơn giản là vì cạnh tranh. Một thời gian dài, độc quyền đã biến đất nước ta thành một trong những quán quân của thế giới về giá cả các dịch vụ viễn thông. Nhiều nỗ lực đã được đưa ra nhằm cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động để hạ giá thành các dịch vụ. Cùng với chúng là biết bao những lời phê bình, chỉ trích của xã hội, thậm chí cả những mệnh lệnh hành chính của các cơ quan quản lý Nhà nước nhưng tình hình vẫn không chuyển biến. Thế nhưng, chỉ một thời gian ngắn sau khi độc quyền bị phá bỏ, một cuộc cách mạng về việc giảm giá đã xảy ra. Và lần này không cần phải ai ra lệnh cả.

    Cạnh tranh đã làm cho mọi chuyện trở nên tốt đẹp hơn trong lĩnh vực truyền thông. Cạnh tranh còn có thể làm biến đổi nhiều lĩnh vực khác của dịch vụ công như điện, nước, y tế, giáo dục v.v... Vậy thì tại sao chúng ta lại tha thiết với độc quyền đến như vậy?