09. chương 9 (done)

20/7/15
09. chương 9 (done)
  • Chương 9 Hướng về Xã hội kinh tế văn minh mà hẳn Keynes rất tự hào

    MỘT XÃ HỘI VĂN MINH nên khuyến khích mọi công dân nỗ lực hết sức mình. Tuy nhiên, một xã hội văn minh còn phải cho công dân cơ hội làm những việc họ có khả năng hoặc phát triển được những kỹ năng để vượt trội so với người khác. Nếu có một việc gì đó đáng làm thì nó cũng đáng được làm tốt. Xã hội văn minh cũng khuyến khích mọi thành viên có khả năng làm việc luôn có sự nhạy cảm và lòng trắc ẩn trước nhu cầu của người khác, đồng thời làm việc cởi mở và trung thực với nhau. Mục tiêu này sẽ dễ đạt được hơn với một hệ thống kinh tế trong đó ai cũng có việc làm và có thu nhập. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, khả năng kiếm được tiền một cách lương thiện sau một ngày làm việc lương thiện chính là thứ tạo nên lòng tự trọng của mỗi người lao động cũng như mọi thành viên trong gia đình người đó.

    Tuy nhiên, trong gần bốn mươi năm qua, mọi cuộc tranh luận về chính sách kinh tế chỉ dựa trên niềm tin rằng nếu các cá nhân có tính tư lợi được phép hoạt động trên một thị trường hoàn toàn tự do, không có sự can thiệp của chính phủ, và họ không phải lo nghĩ về các thành viên khác trong cộng đồng thì thị trường tự do sẽ đưa nền kinh tế lên cõi Niết bàn. Nhưng khi không bị nhà nước quản lý, các tổ chức tài chính đã cho phép người cho vay thế chấp ban đầu, ngân hàng đầu tư và nhiều người tư lợi khác cung cấp khoản vay (thường đi kèm với thông tin sai lệch) cho bất cứ ai muốn mua nhà. Và hậu quả là thảm họa không chỉ xảy đến với hàng triệu người vô tội đang sở hữu nhà mà còn với rất nhiều người khác khi nền kinh tế chìm sâu vào suy thoái khiến họ mất việc làm. Hy vọng các nhà lãnh đạo chính trị sẽ rút ra được bài học từ kinh nghiệm xương máu này và không bao giờ mù quáng tuân theo triết lý thị trường tự do nữa.

    Trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện nay, tìm được việc làm hữu ích là một yếu tố quan trọng, góp phần đem lại phẩm giá cho mọi công dân. Vì thế, một trong những mục tiêu hàng đầu của xã hội tư bản văn minh là phải đảm bảo tất cả những ai muốn và có thể lao động đều phải có việc làm trong một môi trường an toàn và lành mạnh. Ở các chương trước, chúng ta đã giải thích tư tưởng của Keynes, đó là chính phủ nên đảm bảo sao cho những người sử dụng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân có động lực lợi nhuận để tuyển bất cứ ai đang tìm việc làm.

    Franklin Roosevelt là vị tổng thống đầu tiên nhận thấy sức mạnh trong tư tưởng của Keynes - rằng chính phủ có vai trò rất quan trọng khi là người mua cuối cùng, đem lại việc làm và sự thịnh vượng cho mọi người dân. Mặc dù Roosevelt vẫn bị mối lo ngại về nợ quốc gia quá lớn chi phối, nhưng khi chiến tranh nổ ra thì mối lo đó đã bị đặt sang một bên. Số tiền bỏ ra để giành thắng lợi trong cuộc chiến có được là nhờ thâm hụt ngân sách khổng lồ, và nó cho thấy không nghi ngờ gì nữa, chính phủ luôn có thể đóng vai trò chủ động đảm bảo sự thịnh vượng với đầy đủ việc làm cho toàn bộ lực lượng lao động trong nước.

    Những người kế nhiệm Roosevelt ở cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đều áp dụng đề xuất chính sách của Keynes để duy trì sự thịnh vượng cho nền kinh tế, mặc dù không phải ai cũng biết rằng đơn thuốc này là do Keynes đưa ra đầu tiên. Như chúng ta đã biết, chính phủ của Tổng thống Truman đã xây dựng Kế hoạch Marshall. Theo kế hoạch này, Mỹ là nước có thặng dư thương mại đã sử dụng của cải của mình để giải quyết tình trạng mất cân đối thương mại trên thế giới, nhờ đó tạo cơ hội việc làm cho người Mỹ trong các ngành xuất khẩu, đồng thời vẫn giúp các nước châu Âu tái thiết được nền kinh tế. Người kế nhiệm Truman là Tổng thống Eisenhower đã đưa ra một trong những chương trình công trình công cộng lớn nhất trong lịch sử thời bình, đó là xây dựng hệ thống đường cao tốc liên bang. Chương trình này không chỉ mang lại lợi nhuận và việc làm cho ngành xây dựng và các ngành liên quan, nó còn giúp đất nước có hệ thống đường sá, góp phần tăng năng suất cho các xưởng sản xuất Mỹ khi chi phí vận chuyển nguyên liệu đến nhà máy và đưa thành phẩm đến thị trường giảm xuống. Kết quả là nước Mỹ và hầu hết các nước phương Tây đã trở thành nơi mà con người có thể sống sung túc hơn, văn minh hơn.

    Trong suốt thời gian đó, Cục Dự trữ liên bang cũng thừa nhận chức năng cơ bản của mình là duy trì tính thanh khoản và ổn định cho thị trường tài chính. Lúc này Đạo luật Glass-Steagall đang có hiệu lực rất lớn, nhờ đó trên thị trường tài chính có tổ chức và có quy luật, chức năng cho vay của ngân hàng thương mại được tách biệt rõ ràng khỏi chức năng bảo lãnh phát hành chứng khoán của ngân hàng đầu tư.

    Khi tình trạng lạm phát đình đốn xảy ra vào thập niên 1970 và triết lý thị trường tự do của Milton Friedman thắng thế, ngân hàng trung ương và chính phủ các nước đã áp dụng một triết lý khác, kém văn minh hơn vào nền kinh tế. Ví dụ, năm 1979, sau cú sốc giá dầu thứ hai do OPEC gây ra, Cục Dự trữ liên bang, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Paul Volker, đã tăng lãi suất lên mức hai con số để cố ý triệt tiêu cơ hội kiếm lợi nhuận của rất nhiều doanh nghiệp và tạo ra tỷ lệ thất nghiệp cao nhất kể từ thời kỳ Đại Khủng hoảng. Khi nền kinh tế Mỹ xuống dốc và các nền kinh tế phương Tây còn lại sụp đổ, cầu đối với xăng và các sản phẩm hóa dầu khác cũng giảm mạnh. Đồng thời, nhiều nguồn cung dầu thô mới không thuộc OPEC đã xuất hiện trên thị trường, ví dụ từ Bắc Hải và bang Alaska. Kết quả là OPEC không thể tiếp tục áp đặt quá nhiều sức mạnh cartel lên thị trường nữa, và giá dầu giảm xuống, giữ ở mức thấp trong nhiều năm sau. Nguy cơ xảy ra lạm phát hàng hóa và cả lạm phát thu nhập khi chi phí sinh hoạt của công nhân tăng và các doanh nghiệp tăng giá sản phẩm để đảm bảo có lợi nhuận có vẻ đã được kiềm chế.

    Bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng 1979-1981 do Cục Dự trữ liên bang gây ra khi thực hiện chính sách chủ động tạo ra thất nghiệp cao để chấm dứt thời kỳ lạm phát thu nhập là rất đơn giản và phù hợp với triết lý thị trường tự do. Vì các thành viên Ban Thống đốc của một ngân hàng trung ương độc lập không bị ảnh hưởng bởi kết quả bầu cử chính trị hai năm một lần nên họ có thể đưa ra những chính sách mà xã hội buộc phải chấp nhận. Mục đích của các chính sách này đáng lẽ là kiềm chế những tác động gây ra lạm phát xuất hiện khi nền kinh tế trở nên thịnh vượng đến mức công nhân và người quản lý công ty đều tin rằng họ có thể tăng lương và giá cả lên cao mà không sợ mất khách hàng.

    Thay vào đó, chính sách của ngân hàng trung ương được xây dựng theo kiểu nếu lạm phát cao hơn mức ngân hàng trung ương mong muốn thì họ sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Chính sách này nhằm giảm cơ hội kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó buộc họ phải sa thải bớt lao động. Thông điệp mang tính triết lý của Andrew Mellon gửi đến Tổng thống Hoover đã trở lại trong giới lãnh đạo cao cấp. Để loại bỏ những ung nhọt ra khỏi hệ thống thì doanh nghiệp và công nhân phải có cơ hội kiếm thu nhập để có khả năng thanh toán. Khi cơ hội này bị mất đi, doanh nghiệp và công nhân sẽ làm việc chăm chỉ hơn và đòi hỏi ít hơn nếu cơ hội việc làm và lợi nhuận xuất hiện trở lại. Đây rõ ràng không phải một giải pháp văn minh trước những thách thức kinh tế của hệ thống tư bản chủ nghĩa thế kỷ 21.

    Giải pháp của Keynes rất đơn giản và hiển nhiên là văn minh hơn. Chừng nào mọi người còn muốn làm việc thì chính phủ phải đảm bảo rằng họ có cơ hội kiếm được việc làm phù hợp với năng lực của họ. Nếu người mua ở khu vực tư nhân tạo ra đủ cầu để hình thành nên cầu thị trường đối với mọi hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất ra khi tận dụng toàn bộ lực lượng lao động thì lúc đó, trách nhiệm duy nhất của chính phủ là buộc người sử dụng lao động phải tuân theo các điều luật mà xã hội văn minh đặt ra để đảm bảo điều kiện lao động an toàn, tiêu chuẩn sản phẩm an toàn...

    Nếu và chỉ nếu cầu trên thị trường tư nhân đối với các sản phẩm trong nước giảm mạnh, thì chính phủ mới nên đóng vai trò chủ động bơm thêm cầu để tạo cơ hội lợi nhuận cho doanh nghiệp và cơ hội việc làm cho người lao động thất nghiệp. Khi có một đợt suy thoái lớn, nghiêm trọng xảy ra trong nền kinh tế và người mua ở khu vực tư nhân không muốn chi tiêu thêm thì chính phủ phải bước vào thị trường, đóng vai trò người mua cuối cùng. Chính phủ nên mua những gì?

    Keynes lập luận rằng trong trường hợp này, chính phủ nên nỗ lực chi tiêu trong những lĩnh vực giúp nâng cao năng suất cho cả quốc gia. Keynes viết: trong khi chi tiêu của chính phủ có vẻ là “phương tiện duy nhất để đảm bảo đạt đến tình trạng gần như đầy đủ việc làm... thì không nhất thiết phải loại ra mọi hình thức thỏa hiệp hay những sáng kiến trong đó chính phủ sẽ hợp tác với khu vực tư nhân”[50].

    Vì vậy, khi chính phủ tài trợ để tái thiết cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế bằng cách xây dựng đường cao tốc, cầu, sân bay, cảng... thì đây rõ ràng là những khoản đầu tư hữu ích, có thể thực hiện thông qua các hợp đồng chính phủ ký kết với doanh nghiệp tư nhân. Điều này không có nghĩa là chính phủ nên chi tiền xây dựng một cây cầu “không dẫn đến đâu” chỉ để đơn thuần tăng lợi nhuận và việc làm, mặc dù xây một cây cầu không dẫn đến đâu thì vẫn tốt hơn là không làm gì. Tuy nhiên, các con số thống kê đã chỉ ra rằng ở Mỹ hiện có rất nhiều cây cầu và đường cao tốc nối những địa điểm quan trọng đang trong tình trạng cấp thiết cần được sửa chữa.

    Các dự án cơ sở hạ tầng khác giúp cải thiện sức khỏe để người dân có cuộc sống tốt hơn bao gồm tu sửa và cải thiện hệ thống cấp nước và tất cả các loại công trình vệ sinh.

    Nếu nền kinh tế trong nước và toàn cầu phục hồi được từ cuộc khủng hoảng hiện tại thì cartel OPEC sẽ có thêm sức mạnh nâng giá dầu. Khoản chi tiêu của chính phủ nhằm khuyến khích các trường đại học và doanh nghiệp tư nhân nghiên cứu và phát triển phương pháp mới để giảm thiểu chi phí của các nguồn năng lượng thay thế chính là một số tiền đầu tư hữu ích, qua đó xóa bỏ sự phụ thuộc của Mỹ vào OPEC. Nâng cấp mạng lưới điện cũng thuộc nhóm các dự án đầu tư hữu ích, với mục tiêu là chấm dứt tình trạng nền kinh tế sử dụng quá nhiều các sản phẩm từ dầu thô. Tương tự, chính phủ cũng nên thúc đẩy quá trình xây dựng hệ thống đường sắt đô thị[51] để khuyến khích những người phải đi lại hàng ngày chuyển từ sử dụng ô tô chạy xăng sang phương tiện giao thông công cộng hiệu quả và ổn định. Những dự án này cũng góp phần vào nỗ lực chung của cả nước nhằm ngăn chặn sự nóng lên của trái đất và để lại cho con cháu một bầu khí quyển ít bị ô nhiễm hơn.



    Trong nền kinh tế toàn cầu công nghệ cao của thế kỷ 21, giáo dục là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng cần được đầu tư, qua đó nâng cao kỹ năng, hiểu biết và ước mơ cho các thế hệ tương lai. Nhưng khi doanh thu thuế của chính quyền cấp địa phương giảm mạnh vì nền kinh tế sụp đổ thì chính quyền địa phương cũng khó, thậm chí là không thể, duy trì được hệ thống giáo dục hiện có, chưa nói đến nâng cấp nó. Nếu chính phủ liên bang có thể tài trợ cho hệ thống giáo dục cấp địa phương và cấp bang thì các trường phổ thông công lập, trường cao đẳng cộng đồng và trường đại học công có thể trở thành bệ phóng cho mọi công dân để có được cuộc sống có ích và thú vị hơn.

    Tuy nhiên, như Keynes đã cảnh báo trong cuốn sách Lý thuyết tổng quát, nếu "chúng ta quá nhạy cảm... suy nghĩ quá kỹ càng trước khi đặt thêm gánh nặng 'tài chính’ lên thế hệ sau với [những dự án đầu tư hữu ích] để mưu cầu thịnh vượng cho chúng... thì chúng ta sẽ không thể dễ dàng giải quyết được tình trạng thất nghiệp”[52]. Có một số người lập luận rằng chính phủ không nên vay mượn để tạo việc làm và thực hiện những dự án đầu tư hữu ích cho tương lai vì vay mượn chỉ làm thế hệ sau nghèo hơn. Nhưng họ không biết được chúng ta sẽ làm thế hệ sau phải chịu sự nghèo khổ đến mức nào nếu chính phủ hiện tại không làm gì, tức là không đem lại điều gì hữu ích, chỉ để thế hệ sau gánh ít nợ nần.

    Hiển nhiên là danh mục những dự án đầu tư mà chính phủ có thể thực hiện với một kế hoạch phục hồi nền kinh tế thông qua chi tiêu là vô cùng dài. Rất nhiều dự án trong số này còn cấp thiết ngay cả khi nền kinh tế không bị suy thoái trầm trọng. Cơ hội nâng cao năng suất lao động cho mọi công dân đang hiện hữu rất rõ ràng, chúng ta không thể không tận dụng chỉ vì có lập luận cho rằng thế hệ sau sẽ phải chịu nợ quốc gia quá nặng nề.

    Một dự án quan trọng, nhưng có tiềm năng gây ra bất đồng chính trị là dự án y tế cho mọi người dân trong nước. Không như các nước phát triển khác, Mỹ không có chương trình y tế toàn quốc để bảo vệ sức khỏe cho tất cả người dân mà dựa vào nhiều chương trình bảo hiểm y tế riêng lẻ khác nhau. Từ sau Thế chiến thứ hai, phần lớn người lao động có việc làm đều mua bảo hiểm y tế tư nhân, chủ yếu do người sử dụng lao động chi trả. Điều đó làm tăng đáng kể gánh nặng chi phí sản xuất và bán sản phẩm của doanh nghiệp. Người ta nói rằng với ba đại gia sản xuất ô tô của Mỹ, chi phí mua bảo hiểm y tế cho nhân viên đang làm việc và đã nghỉ hưu (những người này cũng được công ty chi trả phí bảo hiểm) tính trên một sản phẩm còn lớn hơn cả chi phí mua thép để sản xuất ra mỗi chiếc xe. Rõ ràng là người sử dụng lao động Mỹ đang ở thế cạnh tranh rất bất lợi về chi phí nếu so với các nhà sản xuất nước ngoài, nhất là trong thời kỳ mà tự do thương mại quốc tế đang được nhồi nhét vào tư tưởng cả xã hội.

    Tất cả mọi công nhân đã nghỉ hưu khác trên 65 tuổi đều được chính phủ cung cấp bảo hiểm với chương trình Chăm sóc y tế. Với các hộ gia đình có thành viên là công nhân không được người sử dụng lao động mua bảo hiểm cho và với người thất nghiệp, cách duy nhất để có bảo hiểm y tế là họ phải mua bảo hiểm y tế tư nhân với chi phí khoảng 1000 USD một tháng hoặc hơn. Kết quả thống kê cho biết hàng triệu người Mỹ đang không có bảo hiểm y tế, vì thế không thể đi khám bệnh để có thuốc phòng bệnh. Trong trường hợp xấu nhất, điều này sẽ dẫn đến những người không có bảo hiểm chỉ đến bệnh viện khi sức khỏe của họ đã bị suy giảm trầm trọng. Lúc đó họ phải phó mặc bản thân cho lòng nhân từ của bệnh viện và/hoặc của cộng đồng, chờ được những đối tượng này giúp chi trả số tiền khám chữa bệnh cần thiết vô cùng lớn để có thể phục hồi sức khỏe, hoặc ít nhất cũng không rơi vào tình trạng xấu hơn.

    Cần thấy rõ ràng rằng để có thể tham gia và phát triển trong hệ thống kinh tế, việc được tiếp cận với dịch vụ y tế là ưu tiên hàng đầu. Như Stephen P. Dunn, cố vấn chiến lược cao cấp của Bộ Y tế Anh và là giám đốc phụ trách Phát triển nguồn tài chính của Hệ thống Dịch vụ y tế (NHS) khu miền Đông nước Anh đã nói: “Giảm bớt số ca mắc các bệnh có thể tránh được và tăng thời gian sống mạnh khỏe trung bình của người dân sẽ giúp tăng trưởng kinh tế... Tổn thất kinh tế mà xã hội phải gánh chịu do tuổi thọ giảm vì tử vong sớm và bệnh kinh niên lên tới hàng trăm tỷ USD mỗi năm”[53].

    Xã hội văn minh đang đối mặt với một câu hỏi quan trọng, đó là liệu quyền được chăm sóc y tế có phải quyền cơ bản của mọi thành viên trong cộng đồng hay không. Nếu tất cả mọi người đều sẽ có đóng góp tích cực cho hoạt động sản xuất trong nước và họ làm tốt điều đó, thì mỗi cá nhân và người thân trong gia đình họ phải được mạnh khỏe trong chừng mực khả năng chữa bệnh và tiến bộ công nghệ của ngành y dược cho phép. Nếu một xã hội văn minh thừa nhận quyền cơ bản của mọi người là tìm được việc làm trong lĩnh vực mà họ có thể tận dụng hết khả năng của mình để làm ra sản phẩm tốt nhất, thì chắc chắn xã hội đó cũng phải tranh luận về việc liệu quyền tiếp cận với dịch vụ chăm sóc y tế - chủ yếu do cộng đồng chi trả - có phải là một quyền cơ bản hay không vì những người khỏe mạnh hơn luôn có năng suất làm việc cao hơn. Keynes không đưa ra câu trả lời hời hợt cho câu hỏi liệu mọi thành viên trong xã hội đều có quyền được chăm sóc sức khỏe hay không, bất kể thu nhập của họ là bao nhiêu. Nhưng chắc chắn mọi người dân nên được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc y tế như nhau, không phụ thuộc thu nhập, vì có bằng chứng cho thấy đây là một dự án đầu tư hữu ích mà xã hội nên làm.

    Tóm lại, có vô cùng nhiều các dự án đầu tư mà chính phủ có thể tài trợ bằng ngân sách nhà nước để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển, vấn đề không phải là thiếu tiền, vấn đề là ở chỗ thiếu quyết tâm.

    Cuối cùng, hy vọng chúng tôi đã chứng minh người đọc thấy rằng các nhà quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng thế nào trong việc đảm bảo với cả cộng đồng rằng thị trường tài chính chung được tổ chức tốt và có quy luật. Nhờ đó, chính phủ sẽ bảo vệ được các hộ gia đình đang tìm kiếm tài sản tài chính để cất giữ tiền tiết kiệm nhằm đáp ứng được kế hoạch chi tiêu trong tương lai (bất kể có dự đoán được hay không) trong thời kỳ họ có thể chủ động kiếm thu nhập, đồng thời đảm bảo sức mua ổn định khi họ nghỉ hưu.

    Nhiệm vụ đưa giải pháp của Keynes vào thực tế là không hề dễ dàng. Nhưng giải pháp này mang lại hy vọng sẽ có một hệ thống kinh tế thịnh vượng, ổn định hơn so với lý thuyết thị trường hiệu quả - một triết lý phổ biến trong những thập kỷ gần đây, nhưng đã đẩy chúng ta đến bờ vực thảm họa kinh tế.