1.04. (Tập 1) - @vancuong7975 (soát xong)WIKI

9/11/15
1.04. (Tập 1) - @vancuong7975 (soát xong)WIKI
  • Link PDF
    Link Google Docs
    Link Word Online

    CHƯƠNG I

    MỘT THÀNH PHỐ
    Put thousands together Less bad But the cage less gay.

    HOBBES*

    Thành phố nhỏ Verie* có thể coi là một trong những thành phố xinh đẹp nhất của xứ Frăngsơ - Côngté*. Những ngôi nhà trắng mái nhọn lợp ngói đỏ, rải trên suốt của một ngọn đồi có những chùm dẻ gai khỏe khoắn làm dốc nối bật lên tất cả những đường uốn lượn khúc khuỷu dù là nhỏ bé nhất. Dòng sông Đúp* chảy cách vài trăm piê* dưới những thành lũy xưa kia do ngườiTây-ban-nha xây đắp nên và bây giờ đã điêu tàn.

    Verie được che về phía bắc bởi một rặng núi cao, đó là một chi nhánh của dãy Juyra*. Những ngọn lởm chởm của rặng Vera phủ tuyết ngay từ những ngày chớm lạnh của tháng mười. Một dòng suối từ trên núi trút xuống, trải xuyên qua Verie trước khi đổ vào sông Đúp, và làm chuyến động một số lớn những máy xẻ gỗ, đó là một công nghiệp rất đơn giản, đem lại một đời sống khá sung túc cho phần lớn dân cư, có tính cách thôn dân nhiều hơn là thị dân. Tuy vậy, cái thành phố nhỏ đó được trù phú không phải là nhờ những máy xẻ gỗ. Chính là nhờ nghề chế tạo vải hoa in, gọi là vải hoa Muyluđo*, mà mọi người được xung túc, khiến cho từ khi Napôlêông bị diệt vong, mặt ngoài của hầu hết các ngôi nhà ở Verie đã được xây đắp lại.

    Vừa bước chân vào thành phố", ngườii ta đã bị choáng óc vì tiếng náo động của một cái máy rầm rĩ và trông bề ngoài có vẻ gớm ghiếc. Hai chục cái búa nặng nề và rơi xuống rầm rầm làm rung chuyển cả mặt đường, được nhấc lên bởi một bánh xe mà dòng suối làm cho chuyển động. Một chiếc búa đó chế tạo ra hàng ngày không biết cơ man nào là đinh. Có những cô gái xinh tươi đưa vào cho những chiếc búa khổng lồ ấy nên những mẩu sắt nhỏ, chỉ thoắt cái đã biến thành đinh. Công việc ấy, bề ngoài trông có vẻ vất vả lắm, là một trong những công việc làm ngạc nhiên nhất khách du lịch lần đầu tiên bước chân vào miền rừng núi ngăn cách nước Pháp với xứ Helvêxi*. Nếu, khi bước vào Verie, người du khách hỏi cái xưởng chế tạo đinh đẹp mắt kia, nó làm inh tai những người đi lên dốc phố lớn, là của ai, thì người ta trả lời với một giọng ề à: của ông Thị trưởng đấy mà.

    Hễ người du khách dừng chân lại chốc lát trong cái phố lớn của Verie ấy, nó chạy ngược dốc từ bờ sông Đúp lên tới đỉnh đồi, thì có thể cược một trăm ăn một là khách sẽ trông thấy xuất hiện một người đàn ông cao lớn có về bận rộn và oai vệ lắm.

    Trông thấy người đó, tất cả mọi người đều vội ngả mũ chào. Ông ta tóc hoa râm, bận y phục màu xám. ông đeo nhiều huân chương, trán ông rộng lớn, mũi mỏ diều, và nói chung khuôn mặt ông không phải là không đều đặn, mới thoạt nhìn, người ta lại còn thấy rằng khuôn mặt đó kết hợp được cái vẻ đường bệ của vị thị trưởng vùng quê với một thứ mỹ miều còn có thể thấy được ở cái tuổi bốn tám, năm mươi. Nhưng chả mấy chốc, người du khách của Pari đã thấy khó chịu vì một cái vẻ tự mãn tự phụ hòa lẫn với một cái gì tuồng như thiển cận và ngu đần. Nghĩa là người ta cảm thấy rằng tài trí của con người đó chỉ giới hạn ở chỗ có ai nợ y cái gì thì y đòi cho thật đúng kỳ hạn, còn y nợ ai thì y trả hết sức chậm chạp lươn khươn.

    Đấy, Ông Đơ Rênan, thị trưởng Verie, là như vậy. Sau khi đã đi ngang qua phố bằng một bước đi trịnh trọng, ông đi vào tòa thị chính và con mắt người du khách không trông thấy ông nữa. Nhưng đi quá lên trăm bước nữa, nếu du khách tiếp tục du ngoạn, khách sẽ trông thấy một ngôi nhà vẻ ngoài khá đẹp, và xuyên qua một hàng rào sắt ăn liền vào ngôi nhà, có những thửa vườn tráng lệ. Bên kia khu vườn, là một đường chân trời vạch nên cảnh ngoạn mục. Phong cảnh đó làm cho người du khách lãng quên cái không khí tanh hôi của những chuyện tài lợi nhỏ nhen nó đã bắt đầu làm cho khách ngạt thở.

    Khách được người ta cho biết rằng ngôi nhà đó là của ông Đơ Rênan. Ông thị trưởng Verie nhờ tiền lãi về xưởng chế tạo đinh to tát của ông mà có được ngôi nhà đẹp bằng đá khối đó, hiện đương hoàn thành xây dựng.

    Người ta bảo rằng gia đình ông dòng dõi Tây-Ban-Nha, gốc gác cổ kính và cứ theo lời người ta nói, thì đã lập nghiệp ở xứ này từ lâu trước cuộc chinh phục của Luy XIV.

    Từ 1815* ông lấy cái việc là một nhà công nghiệp làm xấu hổ đã đưa ông lên làm thị trưởng Verie. Những bức tường bậc thang chắn giữ cho các khoảnh của khu vườn tráng lệ kia, nó tầng tầng bậc bậc xuống tận bờ sông Đúp, cũng là phần thưởng của cái khoa tài giỏi của ông Đơ Rênan trong nghề buôn sắt.

    Bạn đừng nên chờ đợi được trông thấy ở nước Pháp những khu vườn kỳ thú bao quanh các thành phố công nghệ của nước Đức, như Laipxich, Frăngfor Nurember v.v... Prăngsơ-Côngte, người ta càng xây nhiều tường, càng chồng chất nhiều những khối đá tua tủa chung quanh dinh cơ của người ta, thì người ta càng được thiên hạ trọng vọng. Những thửa vườn của ông Đơ Rênan, chi chít những tường, lại còn được thiên hạ thán phục vì ông đã tậu đắt như vàng một số những khoảnh đất của khu vườn đó. Chẳngg hạn, cái máy xẻ gỗ, mà vị trí đặc biệt trên bờ sông Đúp đã làm cho bạn phải chú ý khi bước chân vào Verie, và ở đó bạn đã để ý nhận thấy cái tên Xoren, viết bằng chữ đại tự trên một tấm ván dựng chót vót trên mái nhà, cái máy xẻ đó, sáu năm trước đây, đặt ở khoảnh đất trên đó hiện nay người ta đương cất bức tường của tầng thứ tư của khu vườn nhà ông Đơ Rênan.

    Mặc dầu kiêu hãnh, ông thị trưởng đã phải cậy cục nhiều lần với lão Xoren, một lão thôn dân hắc búa và ương ngạnh, ông đã phải xỉa ra cho lão những đồng luy* vàng đẹp nõn để được lão chịu di chuyển nhà máy của lão đi nơi khác. Còn cái dòng suối công cộng nó làm chạy máy cưa, thì ông Đơ Rênan, nhờ có thế lực ở Pari, đã xin được phép khơi cho nó chảy đi hướng khác. Ông đã được cái đặc ân đó sau cuộc tuyển cử năm 182...*

    Ông đã đổi cho lão Xoren, bốn sào ăn một, ở cách năm trăm bước về phía dưới, trên bờ sông Đúp. Và mặc dầu vị trí này còn lợi hơn rất nhiều cho nghề buôn bán gỗ thông xẻ ván của lão, nhưng ông cụ Xoren, như người ta gọi lão từ khi lão phát tài, đã biết mánh khóe lợi dụng sự nôn nóng và thói sính lăm xăm của ông láng giềng, đã kiếm được món tiền 6.000 quan.

    Quả đáng tội, cuộc điều đình ấy đã bị những người đầu óc tốt ở vùng đó chê trách. Có một lần, hôm đó là ngày chủ nhật, cách đây bốn mươi năm, ông Đơ Rênan, bận trang phục thị trưởng ở nhà thờ về, trông thấy từ xa lão Xoren với ba đứa con trai của lão đi chung quanh, lão nhìn ông mà tủm tỉm cười. Nụ cười đó đã rọi một tia sáng chết người vào tâm hồn ông thị trưởng, từ lúc đó ông nghĩ rằng đáng lẽ ông có thể đổi chác được rẻ hơn.

    Muốn được thiên hạ trọng vọng ở Verie, điều chủ yếu là tuy xây cất rất nhiều tường, nhưng không được xây dựng theo một cái đề án nào đó du nhập từ nước Ý sang, do những bọn thợ nề cứ đến mùa xuân là đi xuyên qua những đường hẻm núi Juyra để lên Pari. Một việc làm cách tân như vậy sẽ khiến cho kẻ xây dựng dại dột đời đời mang tiếng là đầu óc xấu, và kẻ đó sẽ vĩnh viễn mất giá trị bên cạnh những người thức giả và ôn hòa, họ ban phát sự trọng vọng ở Frăngsơ Côngtê.

    Trong thực tế, những ngườii thức giả đó thi hành ở xứ này một cái quyền chuyên chế phiền hà nhất, chính vì cái danh từ bỉ ổi đó mà sự lưu trú ở các thành phố nhỏ thật không sao kham nổi đối với ai đã sống trong cái nước cộng hòa lớn gọi là Pari kia. Sự áp chế của dư luận, mà dư luận nào có ra gì? dù là ở những thành phố nhỏ nước Pháp hay ở Hợp-Chủng-Quốc Châu Mỹ, thì cũng thô bạo chẳng kém gì nhau.

    CHƯƠNG II

    MỘT ÔNG THỊ TRƯỞNG

    Oai quyền! Thưa ngài, không có nghĩa gì à? Nó cỏ nghĩa là những kẻvngu dại phải kính nể, con trẻ phải ngẩn ngơ, thán phục, ké giàu có phải thèm muốn, người thức giá phải khinh bỉ.

    BARNAVO* Thật may mắn cho tiếng tăm của ông Đơ Rênan trong chức nghiệp quan cai trị, là cần thiết phải có một cái tường chắn dài mênh mông cho con đường dạo chơi công cộng đi men theo chân đồi, cao hơn mặt sông Đúp một trăm piê. Nhờ ở vị trí tuyệt vời đó mà đi trên con đường kia người ta được thưởng ngoạn một phong cảnh kỳ thú vào bậc nhất của nước Pháp. Nhưng, cứ mỗi mùa xuân, nước mưa lại cày mặt đường, xẻ thành những rãnh sâu và làm cho đường không đi lại được. Điều bất tiện đó, mà tất cả mọi người đều cảm thấy, đặt ông Đơ Rênan vào sự cần thiết may mắn phải bất tử hóa công cuộc cai trị của ông bằng một bức tường cao hai chục piê và dài khoảng ba bốn chục toađơ*.

    Bức lan can của cái tường đó, ông đơ Rênan đã vì nó mà phải ba lần đi Pari, vì ông bộ trưởng Nội vụ trước đây hai khóa đã ra mặt là kẻ tử thù của con đường dạo chơi ở Verie, bức lan can của cái tường đó hiện nay vượt cao bốn piê trên mặt đất. Và như để đương đầu với tất cả các ông bộ trưởng hiện tại cũng như quá khứ, lúc này người ta đương lát nó bằng đá khối.

    Biết bao lần, mơ tưởng đến những cuộc khiêu vũ của Pari vừa rời bỏ hôm trước, và ngực tì lên những khối đá màu xám đẹp phơn phớt xanh lam, tôi đã dõi mắt nhìn xuống lưu vực sông Đúp! Bên kia, trên tả ngạn, vòng vèo năm sáu thung lũng, trong lòng thung lũng trông thấy rất rõ những dòng suối nhỏ. Sau khi chảy hết thác này đến thác nọ, ta trông thấy chúng nó đổ vào sông Đúp. Trong vùng núi này mặt trời rất nóng, khi đứng bóng, giấc mơ màng của du khách được che chở trên con đường cao đó bởi những cây phong tráng lệ. Những cây đó lớn rất nhanh và chùm lá sum suê của nó phơn phớt màu lam, đó là nhờ ở chất đất đó mà ông thị trưởng đã cho đắp phía sau bức tường chắn mênh mông của ông, vì mặc dầu sự phản đối của hội đồng thành phố, ông đã mở rộng con đường du ngoạn hơn sáu piê (dù ông thuộc phái bảo hoàng và tôi thuộc phái tự do, tôi cũng khen ông về điểm đó), vì vậy cho nên theo ý kiến của ông và của ông Valomô, vị giám đốc sung sướng của viện tế bần* ở Verìe con đường cao này có thể so sánh được với nền cao Xanh-giec-manh-ăng-le*. về phần tôi thi tôi chỉ thấy có mỗi một điều đáng trách ở con Đường Dạo Trung Thành* đó, cái danh từ chính thức này, người ta đọc thấy ở mười lăm, hai mươi chỗ, trên những tấm biển bằng đá hoa nó đã đem lại cho ông Đơ Rênan thêm một huân chương nữa, điều mà tôi muốn trách con Đường Dạo Trung Thành đó, là cái cách thô bạo mà nhà chức trách đã cho xén và gọt nhẵn thín những cây phong khỏe khoắn kia. Đầu thấp lè tè, tròn và dẹt, giống như loài rau cỏ tầm thường nhất. Đáng lẽ để cho chúng có những hình dáng tráng lệ như những cây phong người ta thấy ở nước Anh, có phải hay biết bao nhiêu. Nhưng ý muốn của ông thị trưởng thật là chuyên chế và cứ mỗi năm hai lần, tất cả những cây cối thuộc quyền sở hữu của thị xã đều bị cắt xén không chút thương tình. Những người theo phái tự do của địa phương cho rằng, nhưng họ nói quá đấy thôi, bàn tay gã coi vườn của nhà nước đã trở nên nghiêm khắc hơn nhiều, từ khi ông trợ tế Maxiông có thói quen chiếm thủ những sản phẩm của cuộc cắt xén.

    Nhà tu sĩ trẻ tuổi đó được phái từ Bơđăngxông* đến, cách đây mấy năm, để theo dõi cha Sêlăng và một vài cha xứ quanh vùng. Một thiếu tá quân y già của đạo quân chinh phạt Ý về trí sĩ ở Verie, và hồi còn sinh thời, theo lời ông thị trưởng, vừa thuộc phái Jacôbanh* lại vừa có khuynh hướng phò Bônapactơ, có một hôm dám phàn nàn với ông về sự cắt hại chu kỳ những cây cối đẹp kia.

    - Tôi thích bóng mát, ông Đơ Rênan trả lời với cái giọng kẻ cả đúng mức độ vừa phải khi nói năng với một ông bác sĩ quân y trưởng, có Bắc Đẩu Bội Tinh, tôi thích bóng mát, tôi cho xén cây cối của tôi để cho có bóng mát, và tôi không quan niệm rằng một cái cây con có tác dụng gì khác, trừ phi nó sinh lơi nhuận, như cây hồ đào ích lợi kia chẳng hạn.

    Ấy đó, cái danh từ to tát nó quyết dinh hết thảy ở Verie: Sinh Lợi Nhuận. Cứ riêng nó, đủ tiêu biểu cho nếp nghĩ thông thường của hơn ba phần tư dân Verie.

    Sinh lợi nhuận là cái lý lẽ nó quyết định hết thảy trong cái thành phố nhỏ bề ngoài có vẻ rất xinh đẹp kia. Người khách mới đến, bị quyến rũ vì cái vẻ đẹp của những thung lũng tươi mát và sâu thẳm vây bọc quanh mình, lúc đầu tưởng rằng cư dân ở đây yêu thích cái đẹp, vả lại họ hay nói luôn đến vẻ đẹp của xứ sở họ, người ta không thể chối cãi rằng họ không coi trọng vẻ đẹp đó, nhưng chỉ là vẻ đẹp đó thu hút được một số khách đem tiền đến làm giàu cho các ông chủ quán, cái đó, nhờ bộ máy thuế quan, sinh lại nhuận cho thành phố.

    Một ngày thu đẹp trời, Ô Đơ Rênan khoác tay vợ dạo chơi trên Đường Dạo Trung Thành. Vừa lắng nghe chồng nói chuyện ra vẻ nghiêm trọng, bà Đơ Rênan vừa để mắt lo ngại dõi theo mọi cử chỉ của ba thằng con nhỏ. Thằng lớn nhất, chạc mười một tuổi, hay mon men đến gần bức lan can và ra dáng muốn trèo lên. Một giọng nói dịu dàng gọi tên Ađonphơ và thằng bé liền bỏ cái dự định táo bạo của nó. Bà Đơ Rênan trông ra vẻ một người đàn bà đã ba mươí tuổi, nhưng còn khá xinh đẹp.

    - Có thể rồi hắn sẽ phải hối hận, cái con người quý hóa của Pari kia. Ông Đơ Rênan nói có vẻ tức giận, và gò má lại càng tái nhợt hơn lúc thường. Dễ thường tôi không có vài nguời bạn thân thiết ở trong triều đấy hẳn...

    Nhưng, mặc dù tôi muốn nói chuyện với bạn về tỉnh lẻ trong hai trăm trang giấy, tôi cũng sẽ không dã man bắt bạn phải chịu đựng cái dài dòng văn tự và những rào dồn khôn khéo của một câu chuyện đối thoại ở tỉnh lẻ.

    Cái con người quý hóa của Pari kia, mà ông thị trưởng Verie hết sức thù ghét, chẳng phải ai khác hơn là ông Apper*, vừa hai hôm trước, đã tìm được cách len lỏi không những vào nhà đề lao và viện tế bần của Verie, mà cả vào bệnh viện mà ông thị trưởng và những nhà nghiệp chủ quan trọng nhất của địa phương quản lý công không.

    - Nhưng mà, bà Đơ Rênan rụt rè nói, cái con người của Pari kia có thể làm gì hại ông được? Ông vẫn quản lý tài sản của người nghèo một cách hết sức thẳng thắn phân minh kia mà.

    - Hắn đến đây chỉ cốt để gieo lời chê trách, rồi hắn lại cho đăng bài trên các báo của phái tự do cho mà xem.

    - Thì ông có đọc những báo đó bao giờ đâu, hở ông.

    - Nhưng người ta cứ đem những bài báo Jacôbanh đó mà nói đến tai chúng ta, tất cả những cái đó làm cho ta phân tâm và ngăn cản chúng ta làm điều thiện' \ về phần tôi thì tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho ông cha xứ.

    CHƯƠNG III

    TÀI SẢN CỦA NGƯỜI NGHÈO

    Một cha xứ có đạo đức và không chạy vạy mưu mô, là một vị Phúc Thần cho thôn xã.

    FLƠRY*

    Cần phải biết rằng cha xứ ở Verie, một ông già tám mươi tuổi, nhưng nhờ khí hậu lạnh gắt của miền núi này mà có một sức khang kiện và một tính khí rắn rỏi đanh thép, có quyền đến thăm bất cứ lúc nào nhà đề lao, bệnh viện và cả viện tế bần nữa. Ông Apper, được giới thiệu từ Pari với cha xứ, đã khôn ngoan đến một thành phố nhỏ thóc mách đúng vào lúc sáu giờ sáng. Ông liền đến ngay nhà xứ.

    Đọc bức thư của hầu tước Đơ La Môlơ, nguyên lão nghị viện nước Pháp, và là nhà nghiệp chủ giàu nhất xứ, cha xứ Sêlăng ngồi trầm ngâm suy nghĩ.

    Mình già nua tuổi tác và được nhân dân ở đây yêu mến, ông tự lẩm bẩm một mình, họ chả dám đâu! ông bèn quay ngay lại phía con người của Pari, đôi mắt ông, mặc dầu tuổi tác, sáng ngời ánh lửa thiêng liêng nó biểu lộ niềm vui thích được làm một hành vi tốt đẹp hơn nguy hiểm.

    - Thưa ông, ông hãy đi với tôi, và trước mặt viên cai ngục và nhất là trước mặt những viên giám thị viện tế bần, xin ông đừng tỏ lộ một tí ý kiến gì về những điều trông thấy, ông Apper hiểu ngay rằng đây là một con người có khí tiết. ông bèn đi theo ông cha xứ đáng tôn kính, thăm nhà đề lao, bệnh viện và viện tế bần hỏi rất nhiều câu và mặc dầu những câu trả lời kỳ dị, ông không dám tỏ một tí gì là vẻ chê trách cả.

    Cuộc tham quan đó lâu hàng mấy tiếng đồng hồ. Ông cha xứ mời ông Apper ăn cơm trưa, ông này nói thác rằng còn bận viết thư từ, ông ta không muốn làm rầy rà nhiều hơn nữa cho ông bạn đồng hành hào hiệp. Khoảng ba giờ chiều, hai vị đó đi xem xét nốt viện tế bần, và sau đó trở lại đề lao. Đến đây, thấy ngay ở cổng vào viên cai ngục, một thứ người khổng lồ cao sáu piê va chân vòng kiềng, cái mặt đê tiện của hắn đã trở nên gớm guốc vì kinh khủng.

    - À! thưa ông, hắn vừa chợt trông thấy ông cha xứ đã vội nói ngay, ông này cùng đi với ông, có phải là ông Apper không?

    - Có quan hệ gì? cha xứ nói.

    - Là vì từ hôm qua tôi nhận được lệnh hết sức rành mạch do ông tỉnh trưởng cho một viên cảnh binh đưa đến, viên cảnh binh này phải phi ngựa suốt đêm, là không được cho ông Apper vào nhà đề lao.

    - Ông Noaru ạ, cha xứ nói, tôi tuyên bố với ông rằng ông khách này, cùng đi với tôi đây, chính là ông Apper.

    Ông có thừa nhận điều này hay không, là tôi có quyền vào thăm đề lao bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm, và muốn dắt ai đi theo tùy ý?

    - Vâng, thưa cha xứ, viên cai ngục nói nhỏ giọng và cúi đầu như một con chó sợ đòn mà dằn lòng phải tuân lệnh. Nhưng, thưa cha xứ, tôi có vợ con, nếu tôi bị phát giác thì người ta sẽ cắt chức tôi, tôi chỉ trông vào có việc làm này để sống.

    - Nếu tôi mất việc của tôi, thì tôi cũng phiền lòng lắm chứ, cha xứ nhân hậu đáp, bằng một giọng mỗi lúc một xúc động thêm.

    - Khác nhau lắm! viên cai ngục vội đáp; cha xứ ạ, cha, thì ai cũng biết là cha có 800 livro* tiền niên kim, có của nổi chắc chắn...

    Trên đây là những việc được người ta bàn tán, nói ngoa thêm bằng hai chục cách khác nhau, từ hai ngày hôm nay làm khởi động tất cả những mối hằn thù của cái thành phố nhỏ Verie. Trong lúc này đây, những sự việc đó đang làm đề tài cho cuộc thảo luận nhỏ của ông Đơ Rênan với vợ. Sáng hôm nay, có ông Valonô giám đốc viện tế bần đi theo, ông ta đã đến nhà ông cha xứ để tỏ cho ông này biết nỗi bất bình hết sức của ông. Ông Sêlăng, vốn chẳng có ai đỡ đần, cảm thấy tất cả tầm quan trọng của những lời lẽ của hai người kia.

    - Thế thì, thưa ngài! tôi sẽ là cha xứ thứ ba, tám chục tuổi đầu, bị cất chức ở vùng này. Tôi ở đây đã được năm mươi sáu năm, tôi đã rửa tội cho hầu hết các cư dân của thành phố, hồi tôi mới đến chỉ là một cái thị trấn. Hàng ngày tôi làm phép cưới cho bọn trẻ, mà ngày xưa tôi đã làm phép cưới cho ông nội họ. Verie là gia đình của tôi, nhưng tôi tự nhủ, khi trông thấy ông khách này: "Con người này từ Pari tới, sự thật có thể là một người theo phái tự do, họ nhan nhản cả đấy mà; nhưng ông ta có thể làm hại gì cho những người nghèo và những tù nhân của chúng ta?"

    Những lời trách móc của ông Đơ Rênan, và nhất là của ông Valonô, giám đốc viện tế bần, mỗi lúc một gay gắt thêm.

    - Thế thì, thưa các ngài! các ngài cứ xin cất chức tôi đi, ông cha xứ già kêu lên, giọng run run. Nhưng tôi sẽ vẫn ở xứ này. Ai cũng biết rằng bốn mươi tám năm trước đây, tôi được kế thừa một thửa ruộng có lợi nhuận là 800 lìvre. Tôi sẽ sống bằng số lợi tức đó. Trong chức vụ của tôi, tôi không để ra được đồng nào, các ngài ạ, và có lẽ chính vì thê mà tôi không sợ hãi lắm, khi người ta nói đến chuyện làm cho tối mất chức.

    Ông Đơ Rênan vốn rất hoa thuận với vợ, nhưng không biết trả lơi thế nào cho cái ý kiến mà bà ta rụt rè nhắc lại: "Cái nhà ông ở Pari kia có thể làm hại gì cho bọn tù nhân?" Ông ta sắp phát cáu hẳn hoi thì vừa lúc đó bà ta kêu lên một tiếng. Thằng con trai thứ hai của bà vừa mới leo lên lan can bức tường của con đường cao, và nó chạy trên đó, mặc dầu bức tường này cao hơn hai mươi piê trên thửa ruộng nhỏ phía bên kia. Sợ làm đứa con sợ hãi và làm nó ngã xuống, nên bà Đơ Rênan không dám nói gì với ai cả. Sau cùng đứa bé, đương cười thích chí về hành vi anh hùng của mình, nhìn mẹ, thấy mẹ tái xanh tái xám, nó bèn nhảy xuống mặt đường và chạy lại với bà. Cu cậu bị mắng một trận nên thân.

    Sự việc nhỏ đó làm đổi chiều câu chuyện.

    - Tôi nhất quyết đón về nhà ta anh Xoren, con trai lão thợ xẻ, ông Đơ Rênan nói, hắn sẽ trông nom lũ trẻ, chúng đã bắt đầu nghịch ngợm quá, chúng mình không coi xuể nữa. Hắn là một thầy tu trẻ, giỏi tiếng La-tinh và sẽ làm cho lũ trẻ tiến bộ, vì hắn tính tình cương nghị, ông cha xứ bảo thế. Tôi sẽ cho hắn 300 quan và cơm nuôi. Trước kia tôi vẫn có vài điều ngờ vực về đạo đức của hắn, vì hắn là con cưng của lão thiếu tá quân y có Bắc Đẩu Bội Tinh, lão này đã đến ở trọ nhà cha con Xoren, lấy cớ là có họ hàng. Cái lão ấy rất có thể tựu trung chỉ là một thám tử của bọn tự do, lão nói rằng khí hậu miền núi chúng ta có tác dụng tốt đối với bệnh suyễn của lão, nhưng chả có gì là bằng chứng. Lão đã tham gia tất cả các chiến dịch của Buônapartê* ở Ý và thậm chí nghe nói rằng hồi trước lão đã ký khống để ủng hộ đế chế*. Cái lão tự do phái đó dạy tiếng La-tinh cho cậu Xoren, và đã để lại cho cậu này bao nhiêu là sách mà lão đã đem theo đến. Vì thế cho nên đáng lẽ chẳng bao giờ tôi nghĩ đến chuyện mời anh con trai lão thợ mộc* đến trông nom lũ con của chúng mình, nhưng ông cha xứ, đúng cái hôm trước khi xảy ra câu chuyện làm cho tôi với ông ta quyết tuyệt với nhau, ông có bảo tôi rằng anh chàng Xoren này học thần học đã ba năm nay, với ý định vào chủng viện, vậy anh ta không phải là phái tự do, và anh ta biết tiếng La-tinh.

    Cuộc thu xếp này có lợi về nhiều mặt, ông Đơ Rênan nói tiếp và nhìn vợ với một vẻ bí mật, gã Valơnô rất hãnh diện về hai con ngựa normăng* đẹp mà hắn nói mua cho xe ngựa của hắn. Nhưng hắn không có gia sư cho lũ con của hắn.

    - Hắn rất có thể hớt mất của ta cậu gia sư này.

    - Vậy mình tán thành dự kiến của tôi chứ? Ông Đơ Rênan nói, vừa tủm tỉm cười để cám ơn vợ về cái ý kiến rất hay của bà ta vừa rồi. Thôi, thế là quyết định.

    - Ô, trời ơi! mình quyết định công việc nhanh chóng quá, mình ạ.

    - Là vì tôi, tôi có tính cương nghị, ông cha xứ đã thấy rõ đấy. Chả nên giấu diếm gì, ở đây bọn tự do đầy rẫy khắp chung quanh ta. Tất cả những bọn buôn vải kia ghen với tôi lắm, tôi biết chắc chắn, hai ba đứa đã trở nên giàu sụ, thế thì! tôi chỉ thích cho họ trông thấy lũ con của ông Đơ Rênan đi dạo chơi có gia sư của chúng dẫn dắt. Cái đó sẽ làm cho thiên hạ phải kính nể. Ông nội tôi thường kể lại rằng, hồi còn trẻ, cụ có một gia sư. Bất quá tôi chỉ tốn một trăm êquy*, nhưng số tiền đó phải coi như là một món chi tiêu cần thiết để giữ cho đúng địa vị của chúng mình.

    Sự quyết định đột ngột đó làm cho bà Đơ Rênan phải trầm ngâm suy nghĩ. Bà ta là một ngườí đàn bà tầm vóc cao, thân hình cân đối, đã từng là hoa khôi của địa phương, như lời người ta thương nói nhiều ở miền rừng núi này. Bà có một cái vẻ giản dị, và dáng đi trẻ trung, đối với con mắt của một dân Pari, thì cái duyên dáng ngây thơ đó đầy vẻ hồn nhiên và nồng nàn đằm thắm có thể đi đến chỗ gợi những ý nghĩ khoái lạc êm ái. Nếu bà Đơ Rênan được biết cái kiểu người ta hâm mộ mình như thế, thì chắc bà lấy làm thẹn thùng lắm. Tâm hồn con người đó chưa hề nhiễm thói duyên dáng, điệu bộ. Ông Valonô, giám đốc giàu có của viện tế bần, nghe đâu đã có tán tỉnh ve vãn bà ta, nhưng không ăn thua gì, điều đó đã làm cho đức hạnh của bà chói rọi hẳn lên, vì cái nhà ông Valonô này, một gã thanh niên tầm vóc cao lớn, sức lực, mặt đỏ gay và hai chòm râu má rậm đen, thuộc vào cái hạng người thô bỉ, trâng tráo và ồn ào, mà ở tỉnh lẻ người ta gọi là những người đàn ông đẹp.

    Bà Đơ Rênan, tính tình rất e lệ và tính khí bề ngoài có vẻ rất là thất thường, thấy chướng nhất là ông Valonô luôn luôn cử động và tiếng nói cứ oang oang như lệnh vỡ. Vì xa lánh những cái mà ở Verie người ta gọi là cuộc vui, nên bà có tiếng là rất kiêu hãnh về dòng dõi của mình. Bà chẳng hề nghĩ đến điều đó, nhưng rất lấy làm hài lòng thấy những dân thành phố bớt lui tới nhà mình. Chúng ta sẽ không giấu diếm rằng đối với con mắt các bà vợ của họ, bà là người ngu dại, bởi vì, chẳng có một tí thủ đoạn nào đối với chồng, bà bỏ qua những cơ hội tốt đẹp nhất để đòi chồng sắm cho mình những cái mũ đẹp của Pari hoặc của Bodăngxông. Quý hồ người ta để mặc cho bà một mình tha thẩn trong khu vườn đẹp của bà, là bà chẳng bao giờ phàn nàn gì cả.

    Đó là một tâm hồn chất phác, cũng chưa hề bao giờ lên đến mức phê phán chồng và tự thú rằng ông ta làm cho bà buồn chán. Bà không tự nhủ thành lời, nhưng cho rằng giữa vợ với chồng chẳng còn có những mối quan hệ nào êm đềm hơn nữa. Bà yêu thích nhất ông Đơ Rênan là khi ông nói với bà về những dự kiến của ông về con cái, ông định cho đứa này theo nghề quan võ, đứa kia làm quan văn, đứa nọ làm tu sĩ*. Nói tóm lại, bà thây ông Đơ Rênan, so với tất cả những người đàn ông mà bà quen biết, còn ít buồn chán hơn nhiều.

    Ý kiến nhận xét về chồng như vậy cũng là phải chăng. Ông thị trưởng Verìe được tiếng là thông minh và nhất là tao nhã, nhờ ở nửa tá những câu bông lông thừa hưởng của một ông chú. Ông đại úy già Đơ Rênan, trước cách mạng, phục vụ trong trung đoàn lục quân của Ngài quận công d’Orlêăng*, và khi ông lên Pari, ông ta được lui tới các phòng khách của vị hoàng thân đó. Ông ta được gặp ở đó bà Đơ Môngtexông, bà do Giănglix nổi tiếng, ông Đuycrext*, người sáng tạo khu Hoàng Cung. Những nhân vật đó luôn luôn tái hiện trong những mẩu chuyện kể của ông Đơ Rênan. Nhưng dần dần sự nhớ lại những chuyện khó kể đó trở nên một việc làm vất vả đối với ông, nên ít lâu nay, ông chỉ nhắc lại những chuyện kể có liên quan đến phủ d’Orlêãng trong những dịp quan trọng thôi. Ngoài ra, vì ông vốn rất lễ độ, trừ khi nói đến chuyện tiền tài, nên ông được người ta coi, và như vậy cũng có lý, là nhân vật quý phái nhất ở Verie. 

    CHƯƠNG IV

    MỘT NGƯỜI BỐ VÀ MỘT NGƯỜI CON

    E sarô mia colpa Se cosi è?

    MACHIAVELLI*

    Vợ mình quả thật là thông minh! Ông thị trưởng Verie nghĩ bụng như vậy, hồi sáu giờ sáng hôm sau, lúc đi xuống xưởng của của lão Xoren. Mặc dầu mình đã có nói với bà ấy, để giữ cái thế bề trên của mình, nhưng thật mình chưa hề nghĩ ra rằng nếu mình không mời cậu bé thầy dòng Xoren kia, nghe nói giỏi La-tinh ghê lắm, thì lão giám đốc viện tế bần, con người đầu óc không để yên lúc nào, rất có thể lão cũng có ý nghĩ như mình và hớt mất của mình không biết chừng. Như vậy, hắn sẽ nói đến người gia sư của con hắn với một giọng tự phụ đến thế nào!... Anh chàng gia sư này, một khi về với mình, rồi có sẽ đi tu nữa không nhỉ?

    Ông Đơ Rênan đương mải mê với nỗi nghi hoặc đó, thì trông thấy từ xa một người nhà quê, người cao gần sáu piê, ngay từ lúc tờ mờ sáng, đã có vẻ như đương mải đo đạc những cây gỗ để ở dọc bờ sông Đúp, trên con xuồng kéo thuyền. Người nhà quê đó hình như không thích lắm, khi trông thấy ông thị trưởng lại gần, vì những cây gỗ của y làm nghẽn cả đường đi, và để ở chỗ đó là phạm luật vi cảnh.

    Lão Xoren, vì chính là lão ta, rất ngạc nhiên và còn hài lòng hơn nữa khi thấy lời đề nghị lạ lùng của ông Đơ Rênan về thằng con của mình. Tuy vậy lão vẫn làm ra bộ nghe ông ta với một vẻ buồn rầu trái ý và thờ ơ không thiết, như những dân miền núi này vẫn thương khéo che đậy cái láu lỉnh của họ. Vốn là dân nô lệ trong thời Tây-Ban-Nha thống trị, họ vẫn còn giữ cái nét mặt đó của người nông dân Ai-cập.

    Lời đáp của lão Xoren đầu tiên chỉ là đọc một tràng dài tất cả những câu sáo ngữ cung kính mà lão thuộc lòng. Trong khi lão lặp lại những lời hão huyền đó, với một nụ cười gượng gạo nó làm tăng thêm cái vẻ giả dối và gần như gian sảo vốn dĩ của nét mặt lão, trong khi ấy thì đầu óc linh hoạt của lão nhà quê tìm cách khám phá xem vì lý do gì mà một con người quan trọng như thế kia đến phải đi mời thằng con ăn hại của lão về nhà họ. Lão thì hết sức bất mãn về thằng Juyliêng, thế mà ông Đơ Rênan vì thằng ấy mà đến trả với lão một số lương bổng bất ngờ là 300 quan một năm, với cơm nuôi và cả mặc nữa. Khoản yêu sách sau cùng này, mà lão Xoren khéo tài tình đưa ra đột ngột, đã được Ông Đơ Rênan chấp thuận cũng đột ngột như vậy.

    Sự đòi hỏi đó làm ông thị trưởng chú ý. Lão Xoren mà không mừng rơn và mãn nguyện về chuyện đề nghị của mình, như đáng lẽ cứ đằng thằng ra lão phải mừng, phải mãn nguyện mới đúng, thì rõ ràng, ông nghĩ bụng là về phía khác có người đã dạm hỏi lão rồi, người đó là ai, nếu không phải là thằng cha Valonô? Ông Đơ Rênan thúc giục lão Xoren kết ước ngay đi, nhưng vô hiệu, lão nhà quê xảo quyệt cứ nhất định thoái thác, lão bảo rằng lão còn muốn hỏi ý kiến thằng con, làm như ở tỉnh lẻ, một người bố giàu có lại còn phải hỏi ý kiến một đứa con không có của cải gì, nếu không phải chỉ là hình thức lấy lệ.

    Một cái xưởng máy cưa chạy bằng nước gồm có một lớp nhà cầu bên một dòng suối. Mái nhà được đỡ bằng một bộ rui kèo bắc lên trên bốn cái cột lớn bằng gỗ. Cao tám đến mười piê, ở giữa nhà cầu, người ta thấy một lưỡi cưa đưa lên đưa xuống, trong khi một bộ máy rất đơn giản đẩy một cây gỗ vào lưỡi cưa đó. Một cái bánh xe, mà dòng suối làm cho chuyển động, làm chạy hai bộ máy kia, bộ máy đẩy lưỡi cưa lên xuống, và bộ máy đẩy từ cây gỗ tới lưỡi cưa, nó xẻ cây gỗ ra thành ván.

    Đến gần xưởng máy, lão Xoren cất tiếng oang oang gọi Juyliêng, không thấy ai trả lời, lão chỉ trông thấy hai thằng con lớn, vóc người lực lưỡng, tay cầm búa rìu nặng trịch, đương đẽo cho vuông vắn những cây gỗ thông, sắp đưa vào máy cưa. Chúng con mải mê đẽo cho thật đúng vết mực đen kẻ trên cây gỗ, mỗi nhát rìu của chúng tách ra được những mảnh to tướng. Chúng không nghe thấy tiếng bố. Lão ta tiến đến nhà cầu, khi bước vào, lão tìm không thấy thằng Juyliêng ở vị trí đáng lẽ phải có nó, tức là bên cạnh cái cưa. Lão trông thấy hắn ở tận trên năm sáu piê cao hơn lưỡi cưa, ngồi cưỡi ngựa trên một cái đầm nhà. Đáng lẽ phải chăm chú trông coi sự hoạt động của tất cả bộ máy, thì Juyliêng lại đương đọc sách. Lão Xoren không ghét gì hơn họa chăng lão còn có thể tha thứ cho Juyliêng về chuyện tầm vóc mỏng manh, không thích hợp với những công việc nặng nề, và khác xa tầm vóc những thằng anh, nhưng cái thói hay đọc sách là lão ghét cay ghét độc, vì chính bản thân lão không biết chữ.

    Lão gọi Juyliêng đến vài ba lần nữa mà vô hiệu. Chàng thanh niên không nghe thấy tiếng gọi kinh khủng của bố vì mải chăm chú vào quyển sách nhiều hơn là vì tiếng ầm ầm của máy cưa. Sau cùng, mặc dù tuổi tác, người bố nhảy thoắt lên cây gỗ đặt vào máy cưa và từ đó nhảy lên tấm xà ngang. Một cái bốp rất phũ phàng làm cho quyển sách Juyliêng đương cấm tay bay vút xuống suối, một cái bốp thứ hai cũng phũ phàng như thế, đập vào đầu, như kiểu chụp mũ, làm cho anh chàng mất thăng bằng. Anh ta sắp ngã từ trên cao xuống mười hai, mười lăm piê dưới thấp, vào giữa đám những đòn bẩy của máy đương chạy, đến gãy nát người ta mất, nhưng người bố với tay trái ra giữ anh lại, lúc anh đương loạng choạng.

    * Thế nào, đồ biếng nhác! ra mày vẫn cứ đọc những sách chết toi của mày, trong lúc mày phải ngồi coi máy cưa à? Muốn đọc thì để đến tối, khi mày đến tiêu phí thì giờ ở nhà ông cha Xứ, tha hồ.

    Mặc dầu bị cái bốp mạnh làm choáng óc, và máu mê đầm đìa, Juyliêng cũng men lại gần chỗ ngồi chính thức của mình, cạnh lưỡi cưa. Anh rung rung nước mắt, vì đau thể xác ít hơn là vì mất quyển sách yêu quý.

    "Xuống đây, đồ súc vật, để tao nói chuyện". Tiếng máy ầm ầm lại lần nữa làm cho Juyliêng không nghe thây tiếng truyền lệnh kia. Người bố đã tụt xuống rồi, không muốn mất công lại treo lên bộ máy nữa, bèn đi tìm cái sào dài dùng để khều trái hồ đào*, đập vào vai anh. Juyliêng vừa xuống tới đất thì lão Xoren đã xô anh phũ phàng về phía trước, và đẩy về nhà. Ông ấy sắp làm gì mình đây, có Trời biết, chàng thanh niên nghĩ bụng. Khi đi qua, anh buồn rầu nhìn dòng suối mà quyển sách của anh vừa rơi xuống, đó là quyển sách anh yêu hơn cả, quyển Hồi ký XanhloHêlen*.

    Má anh đỏ bừng, và hai mắt cúi gằm xuống. Anh ta là một chàng thanh niên nhỏ nhắn, khoảng mười tám mười chín tuổi, vẻ ngoài yếu ớt, nét mặt không đều dặn, nhưng thanh tú, và mũí mỏ diều. Đôi mắt to đen lánh, những lúc yên lặng, biểu hiện sự suy nghĩ và lòng nồng nhiệt, lúc này đây đương long lên một vẻ căm hờn hết sức dữ dội. Tóc màu hạt dẻ sẫm, mọc rất thấp, làm cho anh có một cái trán bé tí, và những lúc nổi giận, có một vẻ mặt dữ tợn. Trong vô vàn các loại tướng mạo, có lẽ không có tướng mạo nào có một vẻ đặc biệt rõ rệt hơn. Một thân hình thon thả và cân đối biểu hiện vẻ nhẹ nhàng hơn là sức mạnh. Ngay từ thời thơ ấu, cái vẻ cực kỳ ưu tư và nước da xanh lợt của anh đã làm cho bố anh có ý nghĩ rằng anh sẽ không sống được, nay có sống chăng thì cũng là một gánh nặng cho gia đình. Bị tất cả mọi người trong nhà khinh rẻ, anh thù ghét cả hai anh và bố, trong các cuộc chơi ngày chủ nhật, trên quảng trường công cộng, bao giờ anh cũng bị đánh bại.

    Gần đây chưa đầy một năm, khuôn mặt xinh đẹp của anh bắt đầu gây cho anh được vài mối cảm tình trong đám các cô gái. Bị tất cả mọi người khinh, cho là con người yếu đuối, Juyliêng yêu quý ông thiếu tá quân y già nọ một hôm đã dám nói với ông thị trưởng về vấn đề những cây phong.

    Ông bác sĩ này đôi khi trả cho lão Xoren tiền công nhật của cậu con và dạy cho anh ta tiếng La-tinh và lịch sử, nghĩa là cái phần mà ông biết về lịch sử, tức là chiến dịch 1796 ở Ý. Khi chết, ông đã di tặng anh tấm huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của ông, những món tiền chưa lĩnh của lương quân nhân hưu trí và ba bốn chục quyển sách, quyển quý nhất vừa mới nhảy xuống dòng suối công cộng, mà thế lực ông thị trưởng đã khơi dòng đổi hướng.

    Vừa bước chân vào đến nhà, Juyliêng thấy bàn tay lực lưỡng của bố chặn vai anh lại, anh run bắn người lên, chờ đợi một trận đòn.

    - Mày hãy trả lời tao cho thật thà, giọng nói ác nghiệt của lão nhà quê thét vào tai anh, trong khi bàn tay lão xoay lật anh lại khác nào bàn tay một đứa trẻ xoay lật một chú lính bằng chì. Đôi mắt to đen lánh và đầy nước mắt của Juyliêng thấy phải đối diện với đôi mắt nhỏ màu xám và độc ác của lão thợ mộc già, lão có vẻ như muốn soi mói vào đáy tâm hồn anh.

    CHƯƠNG V

    MỘT CUỘC THƯƠNG LƯỢNG

    Cuartando restituit rem.

    ENNIUS*

    Mày hãy trả lời tao cho thật thà, nếu mày có thể thật thà được, thằng chó mọt sách kia, do từ đâu mà mày quen biết bà Đơ Rênan, mày đã nói chuyện với bà ấy bao giờ ?

    - Tôi chưa bao giờ nói chuyện với bà ấy cả, Juyliêng trả lời, tôi chỉ trông thấy bà ấy ở nhà thờ thôi.

    - Nhưng ý hẳn mày đã nhìn bà ấy chứ gì, thằng mặt dày kia?

    - Không bao giờ ? Bố cũng biết là ở nhà thờ tôi chỉ nhìn thấy có Chúa mà thôi, Juyliêng nói thêm với một vẻ giảo quyệt, theo anh nghĩ, cốt để tránh bị đòn trở lại.

    - Nhưng hẳn là phải có chuyện ngầm gì đây, lão nhà quê tinh quái đáp lại, và lão im lặng một lát, nhưng hỏi mày thì tao cũng chả biết được gì, đồ giảo quyệt chết toi. Dẫu sao, thì tao cũng sắp thoát nợ với mày rồi, và như vậy thì càng hay cho cái máy cưa của tao. Mày đã lấy lòng được ông cha xứ hay một người nào đó chả biết, họ đã kiếm cho mày được một chỗ làm tốt. Đi mà gói ghém quần áo đi, để tao dắt mày đến nhà ông Đơ Rênan, đến đó mày sẽ làm gia sư cho lũ con của ông ấy.

    - Như vậy tôi sẽ được những gì?

    - Com ăn, áo mặc và ba trăm quan tiền công.

    - Tối không muốn làm thằng ở b.

    - Đồ súc vật, ai bảo mày làm thằng ở, dễ thường tao chịu để cho con tao đi ở à?

    - Nhưng, tôi sẽ ăn với ai?

    Câu hỏi đó làm cho lão Xoren tung hửng, lão cảm thấy rằng nếu nói năng gì thì lão có thể lỡ lời nói hớ, lão bèn nổi đóa lên với Juyliêng, chửi rủa anh thậm tệ, mắng anh là đồ tham ăn tham uống, và rời anh để đi hỏi ý kiến những thằng con khác.

    Ngay một lát sau đó, Juyliêng trông thấy những đứa kia, mỗi đứa đang tì vào chiếc rìu và đương bàn bạc với nhau. Sau khi đã nhìn chúng hồi lâu, thấy rằng không thể đoán biết được gì hết, Juyliêng đi đến ngồi phía bên kia của máy cưa, để tránh khỏi bị chúng bắt chẹt. Anh muốn nghĩ ngợi về cái tin báo bất ngờ kia nó thay đổi số phận của anh, nhưng anh tự cảm thấy không thể nào khôn ngoan cẩn thận được, trí tưởng tượng của anh hoàn toàn còn bận hình dung những cái anh sẽ được trông thấy trong ngôi nhà đẹp của ông Đơ Rênan.

    Phải từ bỏ tất cả những cái đó thôi, anh nghĩ thầm, chứ không chịu cái nước phải cùng ăn với bọn người ở. Bố mình sẽ có ý định bắt ép mình đấy, thà chết còn hơn.

    Mình có mười lăm quan tám xu* tiền để dành, đêm nay mình trốn đi, chỉ hai ngày, đi những đường tắt không sợ gặp bọn lính tuần cảnh, là mình tới Bơdăngxông, đến đó, mình đăng lính, và nếu cần, đi sang Thụy-Sĩ. Nhưng thế thì mình hết cả tiến thân, hết cả tham vọng, hết mong cái nghề tu sĩ nó dẫn tới tất cả mọi địa vị.

    Cho rằng phải cùng ăn với bọn người ở là điều kinh tởm, ý nghĩ đó không phải do bản tính tự nhiên của Juyliêng. Để đạt tới giàu sang, đáng lẽ anh còn có thể làm những việc cực lòng hơn nhiều. Anh học được cái nết kiêng kỵ đó trong sách Những lời thú tội của Ruxô*. Đó là quyển sách duy nhất nhờ nó mà trí tưởng tượng của anh hình dung cuộc đời. Tập kỷ yếu của Đại-Quân-Đoàn* và quyển Hồi ký Xanhtơ-Hẽlen bổ sung thêm cho đầy đủ bộ kinh Côrăng* của anh. Anh có thể vì ba tác phẩm đó mà sẵn sàng hy sinh tính mạng. Anh không bao giờ tin ở một tác phẩm nào khác. Theo một câu nói của ông thiếu tá quân y già, thì anh coi tất cả các sách khác trên đời là nói dối, và do những kẻ gian giảo viết ra để tiến thân.

    Với một tâm hồn nồng nhiệt, Juyliêng có một thứ trí nhớ kinh dị, rất nhiều khi đi đôi với sự ngu dại. Để được lòng ông cụ cha xứ Sêlăng, mà anh thấy rõ là số phận tương lai của anh tùy thuộc vào ông cụ ấy, anh đã học thuộc lòng tất cả bộ Tân Ước bằng tiếng La-tinh; anh cũng thuộc lòng cả bộ sách Nói về Giáo Hoàng của ông Đơ Mextro*, và anh chả tin gì bộ sách này cũng chả tin gì bộ sách kia.

    Như có một sự đồng tình thỏa thuận giữa hai bên, hai bố con Xoren tránh nói chuyện với nhau ngày hôm đó. Sâm sẩm tối, Juyliêng đi học thần học ở nhà ông cha xứ, nhưng anh cho rằng đừng nên nói gì với ông về lời đề nghị lạ lùng mà người ta đã ngỏ với bố anh thì khôn hơn. Biết đâu không phải là một cái cạm bẫy gì đấy, anh nghĩ bụng, phải làm ra bộ đã quên chuyện ấy đi rồi.

    Sáng sớm hôm sau, ông Đơ Rênan cho gọi lão Xoren, sau khi đã để cho ông ta phải chờ đợi một hai tiếng đồng hồ, lão mới tự dẫn đến, và ngay từ ngoài cửa lão đã nói hàng trăm câu xin lỗi xen vào hàng trăm lễ chào kính cẩn. Vặn vẹo đủ điều, rồi lão Xoren được biết rằng con trai lão sẽ ăn với ông bà chủ nhà, và những ngày có khách khứa, thì ăn một mình trong một buồng riêng với lũ trẻ. Càng thấy ông thị trưởng thực sự vồ vập, lão Xoren lại càng sẵn lòng kiếm chuyện, vả chăng lão vẫn con đầy lòng ngờ vực và ngạc nhiên, lão bèn xin được xem gian phòng mà con lão sẽ ngủ. Đó là một gian rộng lớn, đồ đạc rất tinh tươm, nhưng người ta đã khiêng sang đó những cái giường của ba đứa trẻ.

    Việc đó là một tia ánh sáng cho lão nhà quê, lão bèn vững giọng đòi ngay cho xem bộ áo mà người ta sẽ cho con lão mặc. Ông Đơ Rênan mở bàn giấy và lấy ra một trăm quan.

    - Với số tiền này, con ông sẽ đi tới nhà ông Đuyrăng, hàng bán len dạ, và cắt một bộ quần áo đen.

    - Dù khi tôi có nói con tôi ra khỏi nhà ngài, lão nhà quê nói, chợt quên cả mọi hình thức kính cẩn, thì bộ áo đen đó vẫn là của nó chứ?

    - Cố nhiên.

    - À vâng! Ião Xoren nói với một giọng ề à, vậy ta chỉ còn thỏa thuận với nhau về một điều nữa thôi, số tiền mà ngài sẽ cho nó.

    - Thế nào! Ông Đơ Rênan tức mình kêu lên, chúng ta đã thỏa thuận từ hôm qua rồi mà, tôi cho anh ấy ba trăm quan, tôi tưởng thế là nhiều rồi, có lẽ nhiều quá rồi.

    - Hôm qua ngài có đề nghị số tiền đó, tôi không chối cãi, lão Xoren nói, giọng càng chậm rãi hơn và bằng một cố gắng thần tình chỉ những ai không hiểu biết người nhà quê xứ Frãngsơ - Côngtê mới lấy làm ngạc nhiên, lão nói thêm, mắt nhìn tròng trọc vào ông Đơ Rênan: Chúng tôi được trả hơn thế, ở nơi khác.

    Nghe thấy mấy lời đó, nét mặt ông thị trưởng bỗng bối rối hẳn lên. Nhưng ông trấn tĩnh lại, và sau một cuộc chuyện trò khôn khéo dài hai tiếng đồng hồ, trong đó không một lời nào nói vu vơ, cái tinh ranh của lão nhà quê thắng cái tinh ranh của ông nhà giàu, vốn không cần tinh ranh để sống. Tất cả mọi khoản phiền tạp cần để quy định cuộc đời mới của Juyliêng được ấn định rõ ràng, không những lương của anh được quy định là bốn trăm quan, nhưng còn phải trả trước, ngày mùng một mỗi tháng.

    - Thì đây! tôi sẽ đưa cho anh ấy hăm nhăm quan, ông Đơ Rênan nói.

    - Để cho nó chẵn con số, một người giàu có có vẻ hào phóng như ngài thị trưởng của chúng tôi, lão nhà quê nói bằng một giọng vuốt ve, có thể đi tới hăm sáu quan chứ.

    - Được, ông đơ Rênan nói, nhưng ta hãy chấm dứt đi thôi.

    Lần này thì cơn tức giận khiến ông có giọng cương quyết. Lão nhà quê thấy rằng nên thôi đừng lấn bước nữa. Thế là, đến lượt ông Đơ Rênan tiến tới. Không đời nào ông chịu đưa số tiền hăm sáu quan của tháng đầu cho lão Xoren, lão này thì rất sốt sắng để nhận thay con. Ông Đơ Rênan chợt nghĩ rằng thế nào ông cũng phải kể lại cho vợ nghe cái vai trò ông đã đóng trong tất cả cuộc thương lượng này.

    - Ông hãy trả lại tôi món tiền một trăm quan mà tôi đã đưa ông, ông nói có vẻ bực mình, ông Đuyrăng còn nợ tôi ít nhiều. Tôi sẽ đi cùng với con ông để cắt tấm hàng dạ đen.

    Sau hành vi cứng cỏi đó, lão Xoren khôn ngoan rút lui trở về những sáo ngữ cung kính, như vậy mất đến mười lăm phút đồng hồ. Sau cùng, thấy rằng dứt khoát không còn kiếm chác gì được nữa, lão cáo lui. Lễ kính chào cuối cùng của lão kết thúc bằng một câu:

    - Để tôi bảo con tôi nó vào dinh hầu ngài.
    Các dân bản hạt của ông thị trưởng gọi nhà riêng của ông như vậy, khi họ muốn làm ông đẹp lòng.

    Khi trở về xưởng máy, lão Xoren tìm kiếm thằng con mà không thấy. Đề phòng cơ sự có thể xảy ra, Juyliêng đã ra đi hồi nửa đêm. Anh có ý muốn cất giấu vào một nơi chắc chắn các sách vở và tấm huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của anh. Anh đã chuyển tất cả đến nhà một người buôn gỗ trẻ tuổi, bạn anh, tên là Fukê, nhà ở trên rặng núi cao chót vót bên cạnh Verie.

    Khi anh trở về đến nhà: - Thằng biếng nhác chết toi kia, người bố nói với anh, chả biết rồi mày sẽ có đủ liêm sỉ để trả lại tiền cơm của mày mà tao ứng ra đã bao nhiêu năm nay không! Đi lấy quần áo giẻ rách của mày, rồi xéo đến nhà ông thị trưởng đi.

    Juyliêng ngạc nhiên, rằng không bị đòn, vội vã đi cho mau. Nhưng vừa đi khỏi mắt người bố ghê gớm, anh lại chậm bước lại. Anh cho rằng, dừng chân lại một lát ở nhà thờ, có lẽ có lợi cho trò giảo quyệt của anh.

    Ý nghĩ đó làm cho bạn ngạc nhiên ư? Trước khi đí đến ý nghĩ kinh người đó, tầm hồn anh chàng nhà quê trẻ tuổi đã phải qua nhiều chặng đường lắm.

    Ngay từ hồi còn thơ ấu, trông thấy một vài người kị binh của trung đoàn 6*, mặc áo choàng dài màu trắng, và đầu đội mũ có tua đen dài, từ bên Ý trở về, và Juyliêng thấy buộc ở cửa sổ có chấn song của người bố, anh đã say mê nghề võ bị đến điên người. về sau anh lắng nghe vui sướng những chuyện của ông cụ thiếu tá quân y kể về các trận cầu Lôđi, Arcôlơ, Rivôli*. Anh để ý nhận thấy những tia mắt bừng bừng nảy lửa của ông già rọi vào tấm huân chương.

    Nhưng khi Juyliêng mười bốn tuổi, người ta bắt đầu xây ở Verie một ngôi nhà thờ, có thể gọi là tráng lệ đối với một thành phố nhỏ như vậy. Nhất là có bốn cái cột bằng đá hoa, Juyliêng trông thấy phải chú ý, bốn cái cột đó trở nên nổi tiếng ở địa phương, do mối tử thù mà nó gây ra giữa ông thẩm phán tạp tụng* với ông trợ tế trẻ tuổi, được phái từ Bodãngxông tới, người ta cho rằng để làm do thám cho thánh hội*. Ông thẩm phán tạp tụng suýt nữa thì mất chức, ít ra dư luận chung cho là như vậy. Ông há chẳng đã cả gan dám có chuyện xích mích với một vị giáo sĩ hầu như cứ mười lăm ngày một lần đi Bodăngxông, ở đó, nghe nói ông ta được gặp đức cha giám mục?

    Đương lúc có cuộc xích mích ấy, ông thẩm phán tạp tụng, cha một gia đình đông con, tuyên nhiều bản án có vẻ bất công, tất cả các án quyết đó đều quy tội cho những người cư dân đọc báo Người lập hiến*. Sự nông ngoan thắng thế. Đành rằng đây chỉ là những món tiền từ ba đến năm quan, nhưng có một người bán đinh, cha đỡ đầu của Juyliêng, phải nộp một khoản tiền phạt cỏn con đó. Trong cơn tức giận, người đó kêu lên: "Sự đổi thay gớm thật! thế mà, từ hơn hai chục năm nay, ông thẩm phán tạp tụng vẫn được coi là một người hết sức chính trực đấy!". Hồi dó, ông thiếu tá quân y, bạn của Juyliêng đã qua đời.

    Bỗng nhiên, Juyliêng thôi không nói đến Napôlêông nữa, anh tuyên bố ý định muốn làm giáo sĩ, và người ta luôn luôn thấy anh, trong xưởng cưa của bố, mải miết học thuộc lòng một quyển kinh thánh bằng tiếng La-tinh mà ông cha xứ đã cho anh mượn. Ông già hiền hậu này, thán phục những tiến bộ của anh, dành những buổi tối trọn vẹn để dạy anh thần học. Trước mặt ông, Juyliêng chỉ biểu lộ những tình cảm ngoan đạo. Ai mà đoán được rằng cái bộ mặt con gái đó, rất xanh xao và rất dịu dàng, lại che giấu cái quyết tâm không gì lay chuyển nổi là thà chịu muôn ngàn cái chết còn hơn là không đạt tới giàu sang!

    Đối với Juyliêng, đạt tới giàu sang, là trước hết phải ra khỏi Verie, anh thù ghét quê hương của anh. Tất cả những điều anh trông thấy ở đó làm cho đầu óc anh giá lạnh.

    Ngay từ hồi còn thơ ấu, anh đã có những lúc cuồng nhiệt. Khi đó, anh mơ màng khoái trá một ngày kia anh sẽ được giới thiệu với những người đàn bà đẹp của Pari, anh sẽ biết cách làm họ phải chú ý bằng một hành động oanh liệt. Lẽ nào anh lại không được một người trong bọn đó yêu anh, như Bônapactơ, khi còn hàn vi, đã được yêu bởi phu nhân Dơ Bôhacne hiển hách? Đã từ bao nhiêu năm trời, Juyliêng không có một giờ phút nào trong đời sống của anh mà không tự nhủ rằng Bônapactơ, một gã trung úy vô danh và nghèo xác, đã làm nên sự nghiệp bá chủ hoàn cầu nhờ thanh gươm của mình. Ý nghĩ đó an ủi anh về những nỗi khổ cực mà anh cho là lớn lắm và tăng gấp bội niềm vui của anh, khi nào anh được vui.

    Việc xây dựng ngôi nhà thờ và những án quyết của ông thẩm phán tạp tụng bỗng làm anh bừng sáng, anh chợt có một ý kiến nó làm anh như điên như cuồng trong mấy tuần lễ, và sau cùng xâm chiếm anh với tất cả sức mạnh vô địch của cái ý kiến đầu tiên mà một tâm hồn cuồng nhiệt tưởng là đã phát minh ra.

    Khi Bônapáctơ nổi tiếng, nước Pháp đương lo sợ bị ngoại xâm, tài thao lược khi đó là cần thiết và được hâm mộ. Ngày nay, người ta thấy những giáo sĩ bốn mươi tuổi có một nghìn quan lương bổng, nghĩa là ba lần hơn các trung tướng của Napôlêông. Những giáo sĩ đó cần phải có những ngươi phụ tá. Đấy, ông thẩm phán tạp tụng kia, đầu óc tốt như thế, từ trước đến nay chính trực như thế, tuổi tác như thế, mà đi làm phí cả danh giá của mình vì sợ mất lòng một anh trợ tế trẻ ba mươi tuổi. Phải làm giáo sĩ mới được".

    Có một lần, giữa niềm kính tin mới, hồi đó Juyliêng học thần học được hai năm, anh bị lộ chân tướng vì một cuộc bùng cháy bất thình lình của ngọn lửa nó nung nấu tâm hồn anh. Chuyện xảy ra ở nhà ông Sêlăng, trong một bữa tiệc mời các giáo sĩ, ông cha xứ hiền hậu đã giới thiệu anh là một thần đồng, bỗng nhiên anh lại đi ca tụng Napôlêông một cách cuồng nhiệt. Anh phải buộc cánh tay phải vào ngực, nói rằng bị sai khớp xuong cánh tay khi vần một cây gỗ thông, và trong hai tháng trời cứ đeo cánh tay trong cái thế khó chịu đó. Sau cuộc chinh phạt khổ nhục này, anh tự tha tội cho anh. Đó, chàng thanh niên mười chín tuổi, nhưng vẻ ngoài yếu ớt, người ta chỉ đoán cho mười bảy tuổi là cùng, tay ôm một cái bọc nhỏ, bước vào ngôi nhà thờ tráng lệ của Verìe, là con người như vậy.

    Anh thấy nhà thờ tối tăm và vắng vẻ. Nhân dịp một cuộc khánh tiết, tất cả các cửa sổ của ngôi nhà đều đã được căng vải màu huyết dụ. Thành ra, ánh nắng chiếu vào, gây nên một biến thái ánh sáng chói lọi, có tính cách hết sức uy nghi và hết sức tôn nghiêm. Juyliêng giật mình. Một mình, trong nhà thờ, anh đến ngồi vào chiếc ghế dài trông có vẻ đẹp nhất. Trên ghế có huy hiệu của ông Đơ Rênan.

    Trên chiếc ghế quỳ để cầu nguyện, Juyliêng thấy có một mảnh giấy in, trải ra đấy như để cho người ta đọc. Anh để mắt vào đó thì thấy những chữ:

    Chi tiết về cuộc hành hình và những giây phút cuối cùng của Luy Jăngren*, thụ hình ở Bodăngxông, ngày...

    Mảnh giấy đã rách, ở mặt sau, đọc thấy hai tiếng đầu của một dòng chữ, hai tiếng đó là: Bước đầu.

    - Có thể là ai đã để mảnh giấy này ở đây thế nhỉ? Juyliêng nói. Người bất hạnh tội nghiệp kia, anh thở dài nói thêm, tên của y cùng vần với tên mình... và anh vò nhàu mảnh giấy.

    Khi đi ra, Juyliêng tưởng trông thấy máu ở bên cạnh chậu nước thánh, đó là nước thánh mà người ta đã làm vung vãi ra, ánh phản chiếu của những tấm màn đỏ che cửa sổ làm cho nó có vẻ như là máu.

    Sau cùng, Juyliêng lấy làm xấu hổ vì nỗi kinh sợ thầm kín của mình.

    - Chẳng lẽ ta lại là một đứa hèn nhát ư ! anh tự nhủ, cầm vũ khí xông lên!

    Khẩu hiệu đó, thường luôn luôn được nhắc lại trong những chuyện kể chiến trận của ông cụ thiếu tá quân y, đối với Juyliêng là một khẩu hiệu hùng dũng. Anh đứng dậy và rảo bước đến nhà Đơ Rênan.

    Mặc dầu những quyết tâm tốt đẹp ấy, khi anh trông thấy ngôi nhà kia cách anh hai chục bước, anh bỗng bị một cơn e sợ rụt rè không sao cưỡng nổi. Tấm hàng rào sắt để ngỏ, trông có vẻ tráng lệ, mà anh phải bước vào trong đó.

    Juyliêng không phải là người duy nhất mà trái tim bị rối loạn vì chuyện anh ta đến ngôi nhà đó. Vốn tính rụt rè e lệ, bà Đơ Rênan cũng đương xao xuyến nghĩ về cái người lạ kia, sắp sửa do chức vụ mà cứ luôn luôn có mặt giữa bà với các con bà. Bà vẫn quen có những đứa con ngủ trong phòng mình. Buổi sáng hôm đó, bà đã khóc rất nhiều khi trông thấy rt những giường nhỏ của chúng sang gian phòng cho người gia sư. Bà xin chồng cho đem cái giường của thằng Xtanixla Xaviê, thằng con bé nhất, trở lại phòng bà, nhưng không được.

    Tính kiều nhược của phụ nữ được đưa lên cực điểm ở bà Đơ Rênan. Bà tưởng tượng ra hình dung khó chịu nhất của một con người thô lỗ và đầu bù tóc rối, có nhiệm vụ mắng mỏ con bà, chỉ vì một lẽ hắn biết tiếng La-tinh, một thứ tiếng man rợ vì nó mà người ta sẽ đòn vọt những thằng con của bà.
  • Chia sẻ trang này