11. trang 318-345 @hhanhh(done)

20/7/15
11. trang 318-345 @hhanhh(done)
  • CHƯƠNG III MẠN ĐÀM VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Suy nghĩ từ vụ cháy Trung tâm Thương mại Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Phản ứng của cả nước trước thảm họa tại Trung tâm Thương mại Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 10 năm 2002 một lần nữa cho thấy chúng ta là con một nhà. Những hình ảnh về sự đau đớn, nỗi tuyệt vọng của các nạn nhân thật sự là axít tạt vào tim chúng ta. "Máu chảy, ruột mềm", ai ai cũng đều bàng hoàng và xót xa vô hạn.

    Nhưng chúng ta còn chịu nỗi đau to lớn không kém vì sự bất lực của mình. Chúng ta đã để ngọn lửa lấy đi biết bao sinh mạng của đồng bào mà không làm được gì nhiều. Sự bất lực là một thương tổn nặng nề, một vết chém, máu sẽ còn âm ỉ chảy.

    Các cơ quan chức năng, các phương tiện thông tin đại chúng đã phân tích khá đầy đủ về nguyên nhân của tai họa. Đó là tính chuyên nghiệp chưa cao; phương tiện và trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy bất cập; thiết kế của Trung tâm Thương mại Quốc tế không đạt yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy... Tuy nhiên, trước vong linh của những người xấu số, chúng ta cần dũng cảm nhìn nhận những nguyên nhân sâu xa hơn. Điều này sẽ không dễ dàng, nhưng rất cần thiết.

    Trước hết, như một cộng đồng người, chúng ta có rất nhiều phẩm chất quý giá. Không có các phẩm chất này, có lẽ, chúng ta đã không tồn tại và phát triển được như ngày hôm nay. Tuy nhiên, một số nhược điểm cũng nên được nhìn nhận một cách khách quan, trung thực. Các nhược điểm này là cội nguồn của nhiều bất trắc, trong đó có cả thảm họa tại Trung tâm Thương mại Quốc tế ở Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nhược điểm dễ nhận thấy nhất ở đây là tính cẩu thả, đại khái. Tính cẩu thả, đại khái này thể hiện trong một loạt các sự kiện mang tính nhân quả của vụ cháy: trong chủ trương và giải pháp chuyên khu thương xá Tam Đa thành Trung tâm Thương mại Quốc tế; trong việc kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy và việc triển khai các kiến nghị của đoàn kiểm tra; trong việc thuê thợ sửa giá khung tại sàn nhảy Blue mà không giám sát việc sửa chữa; đặc biệt trong việc hàn giá khung lên trần nhà và coi thường các quy phạm về phòng cháy, chữa cháy. Sử dụng khái niệm của khoa học hình sự, trong tất cả các khâu đều thấy thấp thoáng yếu tố lỗi. Nghĩa là chúng ta đều có thể thấy trước hậu quả sẽ tai hại như thế nào nếu xảy ra hỏa hoạn. Chúng ta thấy trước, nhưng chúng ta vẫn cho qua. Logic tâm lý của tính cẩu thả thể hiện ở cách suy diễn sau đây: chắc gì đã cháy; cháy chắc gì đã không dập được; không dập được chắc gì đã chết người.

    Sự bất cẩn và cẩu thả được thấy rất rõ trong việc quy hoạch và xây cất nhà cửa tại nhiều khu phố của nước ta. Đây là những khu phố nhà cửa chen chúc nhau: trên không thấy trời, dưới không thấy đất. Các cư dân gần như phải lách nhau để đi làm và trở về với căn nhà của mình. Với những "địa đạo" kiểu như vậy, mỗi khi xảy ra hỏa hoạn hoặc động đất sẽ không có cách gì để cứu trợ cũng như thoát hiểm.

    Nhân đây, với dự định xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La (có đập chắn nước cao trên dưới 200 m) và nhà máy điện nguyên tử trong tương lai, chúng ta phải cân nhắc rất kỹ đặc điểm tâm lý này của người Việt.

    Nhược điểm thứ hai là để cảm xúc lấn át sự tỉnh táo và quyết đoán. Đau thương là vô bờ bến, nhưng trong cơn nguy kịch chỉ có sự bình tĩnh, thậm chí sự lạnh lùng của lí trí mới giúp chúng ta có được cách ứng xử khôn ngoan, sáng suốt. Rất tiếc, những gì do Đài truyền hình phát lại cho thấy rất nhiều người hoàn toàn bị tê liệt bởi đau thương và thảm họa. Sự cuống quýt và thiếu mạch lạc của lực lượng cứu chữa khi bắt đầu vào cuộc cũng nói lên trạng thái tâm lý này. Đáng trách hơn cả là sự bỏ chạy vì hoảng loạn của các nghi can gây cháy. Nếu những người thợ hàn có đủ sáng suốt để kêu cứu hoặc báo động cho mọi người, biết bao nhiêu sinh mạng đã được cứu sống! Phải chăng những phẩm chất trứ danh của dân tộc ta như gan góc, quyết đoán, dũng cảm, sáng tạo - những phẩm chất được tôi luyện trong chiến tranh và góp phần làm nên chiến thắng, đang bị cuộc sống no đủ và phẳng lặng làm cho ngày càng thui chột?


    Cho đến nay, chúng ta vẫn không khỏi băn khoăn, dằn vặt bởi hàng loạt câu hỏi: Chúng ta thật sự đã làm tất cả những gì có thể chưa? Tại sao lại không rải đệm mút, hộp các tông để giảm bớt chấn thương cho các nạn nhân? Tại sao lại không vứt dây hoặc bắn dây lên (theo cách dùng lực đòn bẩy) cho các nạn nhân? Có thể, những cố gắng như thế chưa chắc đã làm nên sự khác biệt. Tuy nhiên, trong trường hợp này, chúng sẽ góp phần biện hộ cho chúng ta trước tòa án của lương tâm.

    Cuối cùng, ở nơi chín suối, những nạn nhân của vụ cháy ngày 29/10/2002, có lẽ, sẽ thanh thản hơn khi được làm ma của một đất nước dám nhìn thẳng vào sự thật và sẵn sàng làm tất cả để thảm họa tương tự không bao giờ lặp lại. Được như vậy, cái chết của họ sẽ không còn là vô ích.

    2. Bảo hiểm y tế

    Bảo hiểm y tế là bảo hiểm sức khỏe cho mình và chia sẻ rủi ro bệnh tật với người khác.

    Khác với bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế không hoàn trả cho bạn số tiền đã đóng góp, bất kể bạn có đau ốm hay không. Về mặt này, đóng bảo hiểm y tế cũng giống như chơi xổ số. Trong xổ số, bạn tự an ủi: không trúng thưởng thì cũng làm được một việc "ích nước, lợi nhà"; trong bảo hiểm y tế không được hưởng thì cũng giúp ai đó vượt qua rủi ro của bệnh tật. Ngoài việc bảo đảm an toàn cho bản thân, chia sẻ rủi ro với người khác là bản chất nhân đạo sâu xa của bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, ở ta, cả hai ý nghĩa nói trên đều mới chỉ là những lời hứa. Một hệ thống bảo hiểm được tổ chức theo mô hình quan liêu chỉ đang tạo ra một sự kết dư khổng lồ hơn là biến những lời hứa vĩ đại nói trên thành hiện thực.

    Tin hay không thì tùy, nhưng bạn sẽ phải ốm đau theo định mức nếu không thì có đóng bảo hiểm y tế cũng bằng thừa. Các quan chức bảo hiểm sẽ từ chối thanh toán quá hạn mức mà họ đơn phương xác lập. Có ba điều không may rất lớn đã xảy ra ở đây:

    Một là, quan hệ bảo hiểm đáng ra là quan hệ dân sự thì lại bị biến thành quan hệ hành chính. Bạn bắt buộc phải đóng bảo hiểm y tế và bạn chỉ được hưởng các lợi ích theo quy định của ngành bảo hiểm chứ không phải theo thỏa thuận của hợp đồng. Chiếc thẻ bảo hiếm y tế đã thay thế cho bản hợp đồng bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, trong trường hợp như vậy, việc đóng bảo hiểm y tế khác gì với việc đóng thuế? Thì bạn cũng đóng thuế và hưởng mọi dịch vụ (nếu có) theo quy định của Nhà nước đó thôi!

    Hai là, việc chia sẻ rủi ro của bệnh tật đã không xảy ra. Bạn chỉ được bảo hiểm chi trả tới một mức nhất định, quá mức đó bạn phải bỏ tiền túi ra mà thanh toán. Những người đóng bảo hiểm y tế nhưng may mắn không bị ốm đau, đã chẳng chia sẻ được gì cho bạn. Những người này chỉ đang góp phần tạo ra một sự kết dư khổng lổ (1.000 tỷ đồng) cho ngành bảo hiểm y tế. Nếu sự chia sẻ rủi ro không xảy ra thì gửi tiết kiệm ở ngân hàng chắc chắn sẽ hợp lý hơn đóng bảo hiểm y tế ít nhất bạn còn có được tiền lãi.

    Ba là, với hạn mức chi trả thấp và thủ tục thanh toán nhiêu khê, chiếc thẻ bảo hiểm y tế đang biến bạn thành khách hàng loại hai của các cơ sở y tế. Khách hàng loại hai thì mức độ niềm nở và sự tận tình trong việc khám chữa bệnh cũng sẽ được điều chỉnh tương ứng.

    Từ những phân tích nói trên, rõ ràng bạn đang đóng bảo hiểm y tế chỉ để nhận lấy những rủi ro hơn là những tiện ích. Và có vẻ như những lời hứa vĩ đại không thể trở thành hiện thực với triết lý và cách thức tổ chức của ngành bảo hiểm y tế như hiện nay.

    3. Giải pháp nào cho vấn đề giá thuốc?

    Giá thuốc chữa bệnh, đúng hơn, sự bất hợp lý của nó đang là nỗi lo của người dân, đặc biệt là dân nghèo. Nỗi lo này lại đang được nhân lên bởi một quyết định hành chính gây ra tác động ngược. Đòi hỏi về việc niêm yết giá của Thông tư liên Bộ Y tế - Tài chính đã không làm cho giá thuốc giảm xuống, mà ngược lại còn tăng lên. Người Nga gọi những cố gắng như vậy là "sự tận tình của gấu" (theo truyện ngụ ngôn của Crưlov, một con gấu đứng canh cho ông chủ của mình ngủ đã dùng cả một tảng đá lớn để đánh chết con ruồi đậu trên trán chủ).

    Tuy nhiên, điều đáng băn khoăn hơn là một loạt các giải pháp hành chính lại đang được cân nhắc để tiếp tục đưa ra. Và toàn bộ rủi ro nằm ở chỗ: chúng ta vẫn không có được câu trả lời chắc chắn là thị trường thuốc sẽ phản ứng như thế nào đối với "sự tận tình" tiếp theo này.

    Trong thị trường thuốc, cũng giống như mọi loại thị trường khác, giá cả do quy luật cung cầu xác định. Điều quan trọng là làm rõ nguyên nhân tại sao quy luật này lại đang vận hành như vậy và tìm cách khắc phục. Hình thành một thị trường thuốc phát triển lành mạnh phản ánh đúng quy luật cung cầu, có lẽ, là quyết sách cơ bản và lâu dài hơn.

    Trước hết, thử tìm hiểu về cung. Thuốc là một trong những thứ mà chúng ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu. Thậm chí có đến trên dưới 80% nguyên liệu để sản xuất thuốc phải nhập khẩu từ nước ngoài. Như vậy, chính sách quan trọng nhất liên quan đến cung là phải tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc nhập khẩu các nguyên liệu phục vụ việc sản xuất thuốc và các loại thuốc mà trong nước chưa sản xuất được. Phải làm thế nào để các giao dịch diễn nhanh chóng nhất, và các chi phí thủ tục giảm đến mức thấp nhất. Điều này sẽ góp phần hạ giá thành của thuốc, và người dân sẽ được nhờ.

    Nhiệm vụ quan trọng khác liên quan đến cung là chống độc quyền. Việc các công ty dược ở nước ngoài giành được độc quyền (tương đối) do đã đầu tư rất lớn vào nghiên cứu và phát triển thường là vấn đề nằm ngoài tầm ảnh hưởng của chúng ta. Tập trung công sức để tranh luận và phê phán loại độc quyền này chưa chắc đã là việc làm có ích. Tuy nhiên, điều chúng ta hoàn toàn có thể làm được là loại bỏ sự độc quyền trong nước. Công việc này nên bắt đầu bằng cách xóa bỏ chính sách dành đặc quyền xuất nhập khẩu chỉ cho một số công ty dược con cưng.

    Liên quan đến cầu, cầu về thuốc có hai đặc điểm quan trọng là:

    1. Tính không thể trì hoãn.

    2. Khả năng điều chỉnh cầu không cao.

    Nếu bạn muốn mua một chiếc áo màu tím hoa sim để ăn diện, nhưng trên thị trường chưa có, thì nhu cầu này có thể trì hoãn đến khi bạn tìm được chiếc áo vừa ý. Tuy nhiên, nếu bạn cần tiêm kháng sinh để chữa viêm phổi, thì nhu cầu này là không thể trì hoãn. Sự không thể trì hoãn thường hạn chế khả năng mặc cả của người mua. Và một số người kinh doanh thuốc thiếu lương tâm đã lợi dụng điều này để tăng giá. Giải pháp quan trọng nhất ở đây là một chính sách thông tin hữu hiệu về thuốc và giá thuốc. Hiện nay, thông tin về giá cả nhiều mặt hàng trong nước đã được các báo đăng tải thường xuyên. Để phục vụ người nghèo, các báo cần quan tâm đưa tin nhiều hơn về giá thuốc. Trung tâm thông tin của Bộ Y tế cần cập nhật thông tin về giá cả các loại thuốc hàng ngày trên Internet thông qua một website chuyên về vấn đề này. Lãnh đạo Bộ Y tế cũng cần nghĩ đến việc thuê các báo đăng tin về giá những loại thuốc thông dụng nhất.

    Khả năng điều chỉnh cầu về thuốc là rất hạn chế và phụ thuộc phần nhiều vào bác sĩ kê toa (và vào dược sĩ bán thuốc khi người dân tự mua thuốc chữa bệnh). Xin nêu một ví dụ để phân tích, nếu bạn muốn ăn xoài nhưng ngoài chợ không thấy bán, bạn có thể điều chỉnh cầu bằng cách mua bưởi. Thế nhưng, người bệnh lại khó có thế tự mình làm điều tương tự đối với thuốc. Nếu các loại thuốc sản xuất trong nước có cùng tác dụng không được nhận biết, thì việc điều chỉnh cầu sẽ rất khó xảy ra. Cho nên cầu đối với một số loại thuốc sẽ rất thấp và đối với một số khác lại rất cao. Hậu quả mà chúng ta thường thấy là thuốc trong nước giá rất bèo, thuốc nhập khẩu giá rất cao. Điều quan trọng ở đây là một chiến dịch truyền thông về tính tương đương của những loại thuốc thông dụng nhất và về việc người bệnh cần chủ động hỏi các bác sĩ, dược sĩ về các loại thuốc có thể thay thế. Trách nhiệm của các bác sĩ, dược sĩ là cung cấp đầy đủ những thông tin này.

    Cuối cùng, cải tiến và phổ cập dịch vụ bảo hiểm y tế có lẽ là biện pháp quan trọng nhất để giải quyết vấn đề khám, chữa bệnh cho mọi người dân, đặc biệt là cho những người nghèo. Số lượng người tham gia bảo hiểm y tế càng nhiều thì khả năng chia sẻ rủi ro càng cao. Khi việc khám chữa bệnh và việc cung cấp thuốc đều do một cơ sở y tế đảm nhiệm và thanh toán trực tiếp với Quỹ bảo hiểm y tế thì vấn đề giá thuốc sẽ được giải quyết cơ bản hơn.

    4. Vấn đề khám bệnh miễn phí

    Chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi là một trong những chính sách lập pháp quan trọng. Với tình yêu thương to lớn dành cho con trẻ, chẳng ai nỡ phản đối chính sách bao cấp tốt đẹp này. Tuy nhiên, sự nhất trí không đi được xa hơn. Tiền lấy ở đâu ra? Miễn phí bằng cách nào? Miễn phí cho tất cả trẻ em thì có thật sự công bằng không?... là những vấn đề cụ thể được đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em. Đây là những vấn đề nếu bỏ qua thì thôi, nhưng bàn vào thì càng bàn càng thấy khó khăn, nan giải. Và có vẻ như mọi sự lựa chọn đều để lại không ít những băn khoăn trong lòng.

    Dưới đây, xin được đưa ra vài phép phân tích chính sách về vấn đề miễn phí nói trên.

    Trước hết, mục tiêu tối thượng của chúng ta là tất cả trẻ em dưới 6 tuổi đều được chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh với chất lượng ngày càng cao hơn, chứ nhất quyết không phải là sự miễn phí của công việc này. Miễn phí vì vậy chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích. Nếu phương tiện này giúp chúng ta thực hiện được mục tiêu nói trên thì rất tốt. Nếu không, chúng ta sẽ phải tính toán cho kỹ để tìm ra một giải pháp sáng tạo hơn.

    Thực ra, không có bất cứ một công việc nào là miễn phí ở trên đời. Vấn đề chỉ là việc chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho trẻ em sẽ do ai chi trả mà thôi, về cơ bản, từ trước đến nay, cha mẹ các em là những người đảm nhận công việc này (cho dù Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em đã được thông qua 12 năm nay). Rất nhiều gia đình trong số chúng ta có đủ điều kiện và sẵn sàng chi trả cho con cháu của mình, thậm chí với mức cao nhất để bảo đảm chất lượng của dịch vụ. Rất nhiều gia đình lại không có điều kiện để làm như vậy. Đây là một thực tế mà không nói ra thì ai cũng biết. Sự anh minh của chúng ta vì vậy không nằm ở những cố gắng để bảo đảm sự miễn phí cho các gia đình thuộc loại thứ nhất, mà ở những cố gắng nhằm chi trả cho các gia đình thuộc loại thứ hai. Rót thêm nước vào chỗ trũng thực ra không phải là một việc làm thiết thực, đặc biệt là trong điều kiện nước lại luôn luôn khan hiếm. Ngoài ra, trong điều kiện chúng ta chưa có đủ khả năng điều tiết mức thu nhập đang chênh lệch một trời một vực giữa các thành phần dân cư như hiện nay thì việc chia đều khoản ngân sách ít ỏi cho tất cả các gia đình càng tỏ ra bất hợp lý hơn. Sự công bằng hội hình như sẽ không được thực hiện bằng một sự cào bằng như vậy.

    Với khoản ngân sách còn rất ít ỏi, chúng ta sẽ dễ dàng đạt được mục tiêu bảo đảm cho tất cả trẻ em dưới 6 tuổi đều được chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh, nếu mọi cố gắng được tập trung cho những đối tượng đang cần sự trợ giúp của Nhà nước hơn là rải mành mành cho cả những đối tượng mà có được chi thêm cũng không thể làm nên sự khác biệt. Tuy nhiên, để làm được điều này vẫn cần có một công trình nghiên cứu công phu để biết được một cách tương đối chính xác bao nhiêu trẻ em thực sự cần được bao cấp và bao cấp bằng cách nào là tốt nhất. Những quyết sách chung chung sẽ rất khó phát huy tác dụng trong cuộc sống.

    5. Bài học quan trọng hơn của SARS

    Cuối cùng thì "chiếc kim" giấu lâu ngày trong bọc cũng lòi ra. Ngày 20/4, các nhà chức trách của Trung Quốc đã thừa nhận ở thủ đô Bắc Kinh có 18 người thiệt mạng vì SARS, số ca nhiễm bệnh là 339, ngoài ra còn có 400 ca bị nghi ngờ nhiễm bệnh. Con số này cao gấp 10 lần so với những gì mà giới chức Bắc Kinh đưa ra cách đây không lâu.

    Vừa mới lòi ra, "chiếc kim" này đã đâm ngay vào Bộ trưởng Bộ Y tế Zhang Wenkang và Thị trưởng Bắc Kinh Meng Xuenong. Hai vị này đã bị cách chức vì tội che giấu thông tin. Sự phản ứng nhanh nhạy và quyết liệt của các nhà lãnh đạo Trung Quốc thế hệ mới cho thấy chế độ trách nhiệm đang được xác lập ở đất nước này.

    Việc hai quan chức cao cấp bị kỷ luật nghe có vẻ hệ trọng, nhưng thật ra đó cũng chỉ là chuyện "quýt làm", "quýt chịu". Câu chuyện "quýt làm, cam chịu" có vẻ sẽ hệ trọng hơn nhiều. Cụ thể, đó là việc "chiếc kim" nói trên đã đâm vào uy tín của một đất nước đông dân và phát triển năng động nhất thế giới. Đất nước này sẽ còn có thời gian để "gặt hái" những vụ mùa mà việc che giấu thông tin đã gieo hạt. Điều dễ nhận thấy là việc thuyết phục các nhà đầu tư, khách du lịch đến với đất nước Trung Quốc sắp tới sẽ rất khó khăn. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, uy tín thật sự là một tài sản. Nó có thể mang lại những lợi ích vật chất to lớn, thậm chí tạo ra sự tăng trưởng đột biến cho cả nền kinh tế quốc dân. Thế nhưng, nếu việc tạo dựng uy tín của một quốc gia là rất công phu, tốn kém, thì việc đánh mất nó dễ dàng như làm vỡ quả trứng trên tay. Hai vị quan chức cao cấp của Trung Quốc không khéo đã "làm vỡ" mất "quả trứng" này của nhân dân Trung Quốc.

    Tuy nhiên, Với một thế hệ lãnh đạo mới, trẻ trung, tài giỏi, chúng ta sẽ được thấy uy tín của đất nước Trung Quốc sẽ được phục hồi nhanh chóng. Nó đã bắt đầu từ việc công khai hóa thực trạng của tình hình SARS ở Bắc Kinh nói riêng và Trung Quốc nói chung và việc cách chức những người đã che giấu thông tin.

    Trong cuộc đối đầu với SARS, ngay từ đầu, Việt Nam đã chọn cách làm ngược lại. Chúng ta đã cung cấp đầy đủ thông tin cho Tổ chức Y tế Thế giới và, đặc biệt cho những người dân để họ chủ động phòng tránh. Và cho đến lúc này, các tổ chức quốc tế trong đó có Tổ chức Y tế Thế giới đã chính thức thừa nhận rằng Việt Nam đã thành công. Chúng ta đã thật sự khống chế được nạn dịch nguy hiểm này!

    Thông tin chứ không phải là việc che giấu đã làm nên sự khác biệt trong cuộc chiến chống lại đại dịch SARS. Và như một chân lý đã được kiểm nghiệm, việc rộng mở thông tin chắc chắn sẽ làm nên nhiều sự khác biệt to lớn hơn nữa trong những cố gắng của dân tộc ta nhằm hướng tới một cuộc sống tự do và thịnh vượng.

    6. Dịch cúm gà

    Trái đất tròn và thật nhỏ bé. Tưởng chừng chỉ mới ngày hôm qua chúng ta được nghe tin về dịch cúm gà ở xứ Hàn Quốc, Nhật Bản xa xôi, vậy mà hôm nay, gần một nửa đất nước đã bị lây nhiễm bởi thứ dịch bệnh chết người này. Một món quà thật khó nuốt của toàn cầu hóa! Công bằng mà nói, dịch SARS mới thật sự do người nước ngoài mang vào, còn dịch cúm gà đã vào bằng cách nào thì chưa thật rõ. Điều đã thật rõ là mọi thứ đều rất dễ lây lan ở trên Trái đất này. Tôn giáo, học thuyết chính trị, truyền hình, Internet, Coca Cola, chatting v.v... còn lây lan nhanh chóng hơn. Và không chữa được.

    Trở lại với dịch cúm gà, tại sao chúng ta đã nhận biết về nó rất sớm, nhưng vẫn không có khả năng khoanh vùng và khống chế? Phải chăng chứng nhức đầu, sổ mũi của những chú gà đã không được quan tâm đúng mức? Chưa nói đến việc một số địa phương còn tìm cách ỉm nó đi vì sợ ảnh hưởng đến đầu tư và du lịch. Mình ỉm, nhưng nó không ỉm. Những chú virus nhanh chân đã nhảy hết từ con gà này sang con gà khác, thậm chí còn chui tọt cả vào người. Không cảnh báo, vì vậy đồng nghĩa với việc biến tất cả chúng ta thành những phương tiện quá giang miễn phí cho thứ virus gây bệnh này. Sự công khai, minh bạch và một chế độ thông tin đầy đủ nhất đã giúp chúng ta nhanh chóng chiến thắng đại dịch SARS. Thế nhưng kinh nghiệm quý báu này đã chẳng dạy được gì nhiều cho chúng ta.

    Dịch cúm gà khó được khoanh vùng và khống chế có thể còn do tình trạng nghèo khó của nhiều người dân. Sự bất hạnh đã xảy ra không chỉ đối với những chú gà, mà cả đối với những chủ nhân của chúng. Cứ nghĩ mà xem, nếu vứt bỏ những chú gà đã chết đối với một số gia đình còn là chuyện khó, thì việc tiêu hủy những chú gà đang sống, đang khỏe mạnh sẽ khó khăn biết nhường nào?! Thiếu một sự trợ giúp thiết thực và hữu hiệu của Nhà nước, những người dân, đặc biệt là dân nghèo sẽ rất khó tiêu hủy được những chú gà là tài sản mồ hôi, nước mắt của mình.

    Cũng vì nghèo khó và tiếc của, có thể một số người đã tìm cách tiêu thụ những chú gà đã nhiễm bệnh hoặc có khả năng nhiễm bệnh ở trên thị trường. Khi dịch cúm gà đã trở thành câu chuyện ai ai cũng biết, những người này chưa chắc đã bán được gà. Gà có thể họ không bán được, nhưng dịch cúm gà thì họ đã kịp gieo rắc ra rất nhiều nơi. Nhân đây, trách nhiệm cộng đồng là một phẩm chất đạo đức quan trọng và không thể thiếu khi chúng ta đã sống chung với nhau. Cho đến khi còn có những cá nhân coi trọng những chú gà của mình hơn sự an toàn và yên vui của cộng đồng, đời sống xã hội của chúng ta vẫn còn hết sức rủi ro. Rõ ràng, không ai có thể hạn chế việc một người nhiễm HIV âm thầm truyền bệnh cho người khác ngoài trách nhiệm cộng đồng của người đó? (Đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao các tổ chức quốc tế đòi hỏi phải đối xử nhân ái với bệnh nhân HIV. Chỉ có cách cư xử như vậy mới làm cho những người bị lây nhiễm có trách nhiệm hơn đối với cộng đồng và mới hạn chế được sự lây lan của đại dịch.)

    Hiện nay, dịch cúm gà đã lây sang người, và nhiều người đã chết. "Cái sảy đã nảy cái ung." Điều đáng băn khoăn là còn rất nhiều vấn đề chưa được nhận biết liên quan đến khả năng biến thể của virus, cũng như khả năng lây nhiễm từ người sang người của loại dịch cúm này. Cũng như đối với dịch SARS, sự họp tác quốc tế là rất quan trọng và không thể thiếu ở đây.

    Cuối cùng, tất cả mọi điều tồi tệ nhất đều đã xảy ra. Chúng ta chỉ còn một sự lựa chọn là đối mặt với nạn dịch này bằng tất cả sự quyết đoán và trí lực của minh. Và chúng ta sẽ chiến thắng.

    7. Kẹt xe

    Đã nằm ngủ ở trong chăn
    Ừ chăn có rận, băn khoăn làm gì?

    Ở ta, sống trong các thành phố lớn cũng giống như "nằm trong chăn", phải biết chấp nhận những bất tiện nho nhỏ như tình trạng kẹt xe. Mỗi ngày có 8 giờ vàng ngọc, thì không khéo bạn phải bỏ đến 20% số vàng ngọc này để đứng yên một chỗ mà ngửi khói của các xe máy, ô tô ở phía trước và nghe còi của các xe ở phía sau. Xui xẻo thay, lần nào cũng vậy, bạn là tâm điểm của cái tập hợp vừa đông đúc, vừa inh ỏi, nhưng tuyệt nhiên không chuyển động kia. Kẹt xe là "một phần tất yếu của cuộc sống", và cái phần này đang ngày một kéo dài ra.

    Các số liệu thống kê cho thấy xe máy là thủ phạm số 1 của tình trạng kẹt xe và tai nạn giao thông. Nghĩa là, các phó thường dân chúng ta - những ông chủ, bà chủ của các phương tiện hai bánh và nhiều loại phân khối các kiểu, có lỗi. Tuy nhiên, không biết các nhà thống kê có để ý đến một chi tiết nho nhỏ là các phó thường dân thường rất đông đúc? Nếu số lượng những người đi xe máy nhiều gấp mười lần những người đi ô tô, và xe máy gây ra tai nạn hoặc ách tắc giao thông nhiều gấp chín lần thì quán quân, có lẽ, vẫn không phải là xe máy.

    Hạn chế số lượng xe máy trong các thành phố lớn là cần thiết nhưng, có lẽ, không phải là giải pháp cơ bản cho vãn đề ách tắc giao thông. Cuối cùng thì ô tô mới là phương tiện chiếm nhiều đường hơn chứ không phải xe máy. Mà đường sá ở ta thì chẳng có bao nhiêu. Trên thực tế, với các đường phố bé nhỏ và các ngã tư đầu mối không có cầu vượt, hệ thống giao thông của chúng ta không khéo chỉ có giao, mà không có thông. Vậy thì, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông công cộng hiện đại là giải pháp quan trọng hàng đầu để khắc phục tình trạng kẹt xe. Nếu sử dụng hệ thống giao thông công cộng thuận lợi hơn, tiết kiệm hơn, chắc chắn nhiều người từ bỏ xe máy mà không cần phải cấm đoán gì.

    Ngoài ra, nhớ lại thời kỳ bao cấp, chỉ cần hai người xếp hàng mua gạo là chúng ta đã có thể chen lấn nhau. Ý thức tôn trọng trật tự công cộng hay đúng hơn là sự thiếu vắng của nó là nguyên nhân của rất nhiều bất trắc trong đời sống của cư dân thành phố. Xe tốt, đường rộng phỏng có ích gì, nếu chúng ta cứ rồ máy vượt đèn đỏ. Những người vượt đèn đỏ, có thể, đã tiết kiệm được mỗi người 30 giây, nhưng hoàn toàn có thế đánh mất của xã hội hàng trăm tiếng đồng hồ. Đó là chưa nói đến những mất mát khó đo lường khác như thần kinh và sức khỏe. Nếu ý thức chấp hành pháp luật và lương tâm thường xuyên "đi vắng", thì cơ sở hạ tầng cũng như phương tiện giao thông càng hiện đại chỉ càng dễ xảy ra tai nạn mà thôi.

    8. Về sự cấm đoán và cuộc sống

    Nhớ lại thời kỳ bao cấp, sự khan hiếm đã biến quyền mua nhu yếu phẩm thành một thứ hàng hóa. Loại quyền năng này được đóng gói thành tem phiếu và người ta mua bán những thứ tem phiếu này. Hành vi mua bán tem phiếu (còn được gọi là phe tem phiếu) bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên, bất hợp pháp chưa chắc đã bất hợp lý. Việc mua bán này vẫn cứ tồn tại cho đến khi tem phiếu biến mất cùng với sự cáo chung của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp.

    Những tưởng bóng ma của quá khứ sẽ không bao giờ quay trở lại. Nhưng không, với quyết định mỗi người chỉ được mua 1 chiếc xe gắn máy, và đặc biệt là quyết định "tạm" đình chỉ đăng ký xe gắn máy ở một số quận nội thành của Thủ đô Hà Nội, quyền được mua (xe gắn máy) đang biến thành một thứ hàng hóa trở lại. Và đây là một thứ hàng hóa có giá khá đắt so với thu nhập của người dân hiện nay: 2,5 - 3 triệu đồng/quyền mua xe máy.

    Do nhu cầu đi lại, nhiều người dân sống ở nội thành đang sử dụng 1.001 cách để có xe gắn máy trong đó có cách mua lại quyền mua xe. Việc mua bán quyền năng này cũng là bất hợp pháp (và cũng chưa chắc đã bất hợp lý). Thế nhưng, có vẻ như các cơ quan chức năng hoặc đang chịu bó tay, hoặc đang nhìn qua kẽ tay. Và rủi ro là: Nếu chịu bó tay, chính sách hạn chế xe gắn máy sẽ thất bại; nếu nhìn qua kẽ tay, bày đặt ra chuyện cấm đoán, chuyện đình chỉ đăng ký xe gắn máy để làm gì?!

    Sự bùng phát của hiện tượng mua bán quyền năng và lách các quy định của chính quyền (đi xe do người khác đứng tên với giấy xác nhận viết tay về việc xe đã được bán cho người đang sử dụng) cho thấy pháp luật và cuộc sống đang xung đột với nhau. Sự xung đột này sẽ còn lớn hơn, nếu thêm 5 quận tiếp theo cũng sẽ bị đình chỉ đăng ký xe gắn máy. Trong trường hợp này, cầu về quyền mua xe máy sẽ tăng đột biến. Và xe mang biển số ngoại tỉnh chắc chắn sẽ tràn vào để lấp khoảng trống của sự thiếu hụt. Để khắc phục hiện tượng này, một số cơ quan tham mưu đang đề xuất chủ trương cấm tiếp xe gắn máy ngoại tỉnh. Như vậy, một sự cấm đoán đang đẻ ra vô tận sự cần thiết phải cấm đoán nhiều hơn và rộng hơn. Nạn nhân tiếp theo của xu thế này đang là karaoke.

    Nếu mại dâm có trước karaoke, thì nó không phải do karaoke đẻ ra. Nếu nó không phải do karaoke đẻ ra, thì cấm karaoke sẽ không làm nó biến mất. Nếu nó sẽ không biến mất, thì chủ trương cấm karaoke để chống mại dâm không khéo chỉ là việc kê toa nhầm thuốc mà thôi.

    Công bằng mà nói, các quán karaoke là nơi thuận lợi để những hành vi mại dâm và tiêu cực nảy sinh. Tuy nhiên, chúng chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho mại dâm và tiêu cực, chứ chúng không làm phát sinh các hành vi này. Lối sống và sự cùng cực của một bộ phận trong số chúng ta mới là nguyên nhân chính làm phát sinh các hành vi tiêu cực nói trên. Mà đã là lối sống và sự cùng cực thì khách sạn, vũ trường, nhà nghỉ, quán bia, quán cà phê, tiệm hớt tóc, bãi biển, rạp chiếu phim, Internet, công viên, đường phố v.v, và v.v... đều có tác dụng tương tự như các quán karaoke. Chẳng nhẽ lại tiếp tục cấm tất cả hay sao? Nếu cấm tất cả, chúng ta sẽ nhanh chóng biến đất nước thành một trại lính khổng lồ. Nếu không, tại sao lại đối xử thiếu công bằng như vậy với các quán karaoke?

    Để loại trừ mại dâm, xây dựng một lối sống lành mạnh, thủy chung là cần thiết. Tuy nhiên, những gì đã hình thành từ hàng triệu năm trong bản tính của loài người, thì một trăm năm chưa chắc đã đủ thời gian để làm chúng đổi thay. Vậy thì, "chống lũ" là cần thiết, nhưng "sống chung với lũ" là sự anh minh đáng có ở đời. Đối với hiện tượng mại dâm do sự cùng cực làm phát sinh, thì tạo ra nhiều cơ hội và nhiều sự lựa chọn hơn cho những cô gái nghèo là rất quan trọng. Bảo đảm việc làm và thu nhập nhiều khi chính là cách chống mại dâm hiệu quả hơn cả.

    Thực ra, karaoke thì cũng giống như truyền hình, Internet và mọi phát minh khác của loài người, cái lợi và cái hại luôn luôn tồn tại bên nhau và thông thường là tỷ lệ thuận với nhau. Vấn đề không phải là quay lưng lại với những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật mà là chấp nhận tính chất hai mặt của chúng, đồng thời tìm cách phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực.

    Trở lại với việc việc cấm kinh doanh karaoke, quyền tự do kinh doanh là quyền hiến định. Người dân có quyền kinh doanh mọi ngành nghề mà pháp luật không cấm. Cho đến ngày hôm nay, pháp luật nước ta không cấm kinh doanh karaoke. Muốn cấm việc kinh doanh này, các nhà quản lý phải biến được chủ trương của mình thành quy định của pháp luật. Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua một quy trình lập pháp chặt chẽ với sự tham gia ý kiến của nhân dân và phải được cơ quan có quyền lực lập pháp thông qua.

    Thực tế cho thấy cấm đoán không phải bao giờ cũng mang lại kết quả mong muốn. Đặc biệt là khi nó được sử dụng để hạn chế nhu cầu hơn là để điều chỉnh hành vi. Việc hạn chế nhu cầu không chỉ gây khó khăn cho người dân, mà còn có thể triệt tiêu hết động lực của nền kinh tế, cũng như khả năng phát triển của xã hội. Ngoài ra, việc hạn chế nhu cầu còn dẫn tới rủi ro là pháp luật sẽ xung đột với cuộc sống. Cuộc sống cuối cùng bao giờ cũng chiến thắng, tuy nhiên, đó có thể là sự chiến thắng với những khổ đau không đáng có.

    9. Cấm: dễ mà khó

    Cấm?! Không cấm?! Cấm?!... Đó là cách phản ứng của chúng ta đối với những chiếc xe máy, bị coi là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng ách tắc giao thông hiện nay. Những ai đã từng sống ở Nga chắc sẽ liên tưởng đến phong tục bói hoa của xứ sở bạch dương này. Bói hoa gắn với chuyện yêu đương, khi lứa đôi thừa xao xuyến, nhưng lại thiếu thông tin: "Người đâu gặp gỡ làm chi - Trăm năm biết có duyên gì hay không?" Duyên phận là chuyện hệ trọng, nhưng đầy rủi ro. Vì vậy, "Kể từ khi gặp chàng Kim" (Kim ở đây nên được hiểu là Ivan), các cô gái Nga thường bứt từng cánh hoa và đếm thầm: Yêu, không yêu, yêu, không yêu... Vậy thì giữa các cô gái Nga xinh đẹp và các nhà quản lý giao thông ở Việt Nam có nét gì chung? - Có lẽ, ít nhất là sự lãng mạn.

    Đã có lúc dư luận rộ lên về chủ trương tạm dừng đăng ký xe máy. Tuy nhiên, sau một hồi nghe ngóng, chủ trương trên đã không được nhắc tới nữa. Những tưởng thôi thật, nhưng vào dịp Lễ Tình yêu năm 2003, báo Tuổi trẻ ngày 14/2/2003 đã đưa tin về kế hoạch "dừng đăng ký xe máy trên toàn thành phố (Hà Nội) trong năm 2003". Cho dù, đối với nhiều người, đây chưa hẳn là một tin vui, nó đã được đưa ra vào một thời điểm hết sức lãng mạn.

    Mấy tháng trước, người tiêu dùng nháo nhác tìm mua xe máy vì sợ bị cấm. Nhu cầu giả tạo này đã đẩy giá cả lên trời. Có những loại xe giá tăng lên đến gần 1 ngàn USD. "Cấm", "không cấm"... đã trở thành những câu thần chú biến tiền của người này thành của người khác trong nháy mắt. Sau khi cơn sốt hạ nhiệt, những người dân "may mắn" mua được xe máy đành xót xa đứng nhìn quả bóng giá cả xìu xuống một cách không thể nào cưỡng lại theo quy luật của cung cầu - quy luật "năm bờ oăn" của nền kinh tế thị trường (cũng theo quy luật này, giá cả của một vài loại xe máy đang tăng lên trở lại vì khan hiếm). Những người kinh doanh xe máy đã thắng lớn. Tuy nhiên, "món quà" nhân ngày Lễ Tình yêu lần này có vẻ lại là câu thần chú đọc ngược đối với họ. Với "món quà" này, "những người đã thắng lớn" cần nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình, nếu họ muốn tiếp tục tồn tại để đón nhận "món quà" của ngày Lễ Tình yêu năm tới. Một môi trường kinh doanh với những "món quà" như vậy chứa đựng rủi ro lớn hơn việc bói hoa không biết đến mấy lần.

    Chính sách là một cách đối xử. Sự hơn thiệt xảy ra với những con người, chứ không phải với những chiếc xe máy. Xét từ góc độ xã hội, việc cấm đăng ký xe máy chỉ có lợi cho những người khá giả: những người đã có ô tô, xe máy hoặc đủ khả năng mua ô tô sau khi có lệnh cấm. Những người nghèo sẽ phải vĩnh viễn từ giã ước mơ cải thiện điều kiện đi lại của mình.

    Toàn bộ hy vọng chỉ còn trông chờ vào hệ thống xe buýt. Thế nhưng, dưới đây là điều dễ thấy: "Trong một thành phố rất to, có những con đường nho nhỏ. Trên những con đường nho nhỏ, có những chiếc xe buýt rất to...". Tăng cường thêm xe buýt thì sẽ chẳng còn thấy đường ở đâu nữa cả. Hệ thống xe buýt hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 5 - 10% nhu cầu đi lại của người dân ở Hà Nội, và có số lượng đầu xe công khiêm tốn khoảng trên dưới 400 chiếc. Tuy nhiên, với những chiếc xe buýt này trên đường, việc đi lại của bạn đã thấy "có vẻ không được an toàn". Đặc biệt là khi chúng tìm cách phóng nhanh để giành khách. Như vậy, phương tiện át chủ bài của chúng ta có khi vẫn chỉ là vấn đề, chứ không phải là giải pháp. Và lỗi không phải do những chiếc xe buýt, lỗi do những con đường, hay đúng hơn - do sự thiếu vắng và chật hẹp của chúng.

    Trong khi toàn bộ vấn đề nằm ở hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông thấp kém và lạc hậu, thì mọi cố gắng nhằm vào những chiếc xe máy chẳng giúp ích được gì nhiều. Cho dù chúng ta có cấm đăng ký xe mới, hoặc cấm xe số chẵn đi ngày lẻ, xe số lẻ đi ngày chẵn thế nào chăng nữa thì hàng triệu người dân vẫn phải đổ ra đường mỗi ngày. Và ở một thành phố mà đường sá chỉ được tính cho vài trăm ngàn người đi, một triệu người sẽ làm chúng tắc nghẽn. Việc cấm đăng ký xe máy có thể sẽ dẫn tới tình trạng ách tắc còn tồi tệ hơn. Đơn giản là sau khi các xe máy hết hạn sử dụng, nhiều người sẽ buộc lòng phải mua ô tô để tránh sự "phú quý giật lùi" của xe đạp. Chỉ cần khoảng 5 - 10% số người đang đi xe máy chuyển sang đi ô tô thì vấn đề giao thông của thành phố không biết sẽ vô vọng đến mức độ nào?! Vậy, chúng ta cấm nốt xe ô tô thì sao? Tất nhiên, không sao, mọi người sẽ phải đi xe đạp. Xe đạp chậm hơn xe máy 3 lần. Nghĩa là các con đường sẽ được giải phóng chậm gấp 3 lần. Thủ đô Bangkok của Thái Lan cũng đã phải đối mặt với tình trạng ách tắc giao thông hết sức tồi tệ. Nhưng chính quyền ở đó đã không tìm cách giải quyết ách tắc bằng việc cấm đoán hoặc hạn chế nhu cầu đi lại, đơn giản là họ xây thêm đường, dưới đất không còn chỗ thì họ xây trên trời (sky way).

    Việc cấm đoán nhiều khi không sai, nhưng, hình như, chưa bao giờ hoàn toàn đúng khi đó là một sự hạn chế các nhu cầu thiết yếu của con người. Đằng sau những nhu cầu thực chất là động lực phát triển của rất nhiều ngành kinh tế và sự năng động chung của toàn xã hội. Nếu nhu cầu mua xe máy bị triệt tiêu, không biết bao nhiêu người sẽ bị mất việc làm, bao nhiêu doanh nghiệp bị lao đao, bao nhiêu nhà đầu tư bị thua thiệt. Và không biết tất cả những người này có được tham khảo ý kiến hoặc ít ra là được chuẩn bị trước để giúp họ có thể vượt qua khó khăn và sớm ổn định cuộc sống sau khi một quyết định mang lại thua thiệt cho họ được ban hành?

    Theo số liệu điều tra, 95% số người được hỏi ở Thành phố Hồ Chí Minh đồng ý với các biện pháp hạn chế sử dụng xe máy. Số người có cùng quan điểm ở Hà Nội chắc cũng sẽ rất cao. Mặc dù hạn chế thì không phải là cấm đoán, nhưng sự ủng hộ của công chúng là cơ sở quan trọng nhất để ban hành những quyết định đụng chạm đến lợi ích của họ. Hy vọng, điều tra dư luận xã hội sẽ là nguồn thông tin quan trọng giúp các cấp chính quyền ban hành quyết định chuẩn xác và hợp lòng dân hơn.

    Thực ra, cấm cùng với cho phép là hai cách thức chính để điều chỉnh hành vi của con người. Nhưng vấn đề là cấm như thế nào? Việc quy định một cách chi tiết những điều được phép và dày đặc những điều cấm đoán là nét đặc trưng của phong cách quản lý hành chính mệnh lệnh trước đây. Và chỉ một số ít những điều cụ thể được cho phép, còn tất cả những điều còn lại đều bị cấm theo nguyên tắc: "Cấm tất cả những gì không được phép." Chân lý nhiều khi chỉ là điều ngược lại. Sức sống của một xã hội nằm ở khả năng tự do sáng tạo của hàng triệu con người "được làm những gì mà pháp luật không cấm". Theo nguyên tắc này, những điều pháp luật cấm bao giờ cũng chỉ là hữu hạn, còn khả năng tự do hành động của người dân là vô hạn. Tuy nhiên, khi chúng ta đã sống thành xã hội, sự cấm đoán là không thể thiếu. Và như một sự hạn chế quyền tự do, nó phải được ban hành đúng quy trình, thủ tục và phải rõ ràng, minh bạch.

    Cũng liên quan đến những chiếc xe máy, cũng là sự "cấm" nhưng một biện pháp khác lại được dư luận hưởng ứng (tạm giữ tối đa đến 60 ngày xe máy của những người vi phạm luật lệ giao thông như vượt đèn đỏ, đi vào đường ngược chiều, xe đi không giấy tờ...) Những người dừng xe trước vạch trắng khi có đèn đỏ không còn bị đánh đồng với những kẻ phóng bạt mạng qua ngã tư cố cướp lấy vài giây đồng hổ. Hóa ra, không phải cứ "cấm" là bị chỉ trích. Tạm giữ xe máy cũng là một "biện pháp cấm", nhưng lại được lòng dân vì nó chống ách tác bằng cách áp đặt việc tuân thủ pháp luật, chứ không phải - hạn chế nhu cầu được đi lại thuận tiện.

    Vấn đề giao thông của Hà Nội chắc phải được xử lý bằng giải pháp quy hoạch, khi các hoạt động thương mại, sản xuất, đào tạo được chuyển dần ra các thành phố vệ tinh, cùng với chúng là phần lớn các cư dân thành phố. Điều này chỉ xảy ra khi các thành phố vệ tinh của Hà Nội có hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị tốt hơn, hiện đại hơn (như mô hình khu đô thị Phú Mỹ Hưng của Thành phố Hồ Chí Minh). Hà Nội trong ranh giới hiện nay chỉ nên là trung tâm chính trị, hành chính và bảo tồn văn hóa. Điều đáng phấn khởi là những cố gắng của chính quyền thành phố đang đi theo hướng này.

    Trở lại với phong tục bói hoa, nếu cánh cuối cùng rơi vào "yêu" thì cô gái sẽ reo lên vui sướng, còn nếu rơi vào "không yêu", cô sẽ buồn chút ít, nhưng lại tự nhủ đó chỉ là điều vớ vẩn, bông hoa không thể quyết định vận mệnh của con người. Các cô gái Nga viện đến bói hoa là muốn tình yêu thêm phần thi vị. Tiếc thay, hoạt động quản lý công lại không phải là bói hoa, các quyết định quản lý buộc lòng phải dựa vào phân tích chính sách và, trong rất nhiều trường hợp, vào thỏa hiệp xã hội.

    Cấm - dễ mà khó lắm thay!

    I 10. Chiếc mũ với vấn đề tai nạn giao thông

    Đội mũ bảo hiếm xe máy khi tham gia giao thông là một sự cần thiết. Cũng giống như việc đeo dây an toàn, hành vi nói trên sẽ góp phần giảm thiểu hậu quả nặng nề của tai nạn giao thông. Luật đội mũ bảo hiểm bắt buộc vì vậy là nhân đạo và cần được tuân thủ.

    Tuy nhiên, giảm thiểu hậu quả với giảm thiểu tai nạn là hai chuyện khác nhau. Tai nạn bao giờ cũng là chuyện xảy ra trước. Hậu quả chỉ là chuyện xảy ra sau, cho dù xảy ra tức thì thì vẫn cứ sau. Vậy nên, tập trung nỗ lực cho chuyện xảy ra sau khó có thể giải quyết được vấn đề của chuyện xảy ra trước. Và chiếc mũ bảo hiểm với kích cỡ thế nào chăng nữa cũng vẫn là quá bé đối với vấn đề tai nạn giao thông.

    Một vấn đề xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân. Vấn đề tai nạn giao thông cũng vậy. Không loại bỏ được các nguyên nhân không giải quyết được vấn đề.

    Nguyên nhân đầu tiên của tai nạn giao thông là tình trạng xe nhiều, đường ít. Dân số của các thành phố ở nước ta, như cơ thể của con người, đang lớn lên từng ngày. Trong lúc đó, "chiếc áo"cơ sở hạ tầng lại không thể lớn lên. Thông thường, người ta phải thiết kế chiếc áo dựa vào kích cỡ của cơ thể con người. Với một cơ thể đang lớn lên liên tục, phải thiết kế chiếc áo như thế nào là điều không dễ. Tuy nhiên, trong bất cứ trường hợp nào, bắt cơ thể con ngưòi phải tuân theo kích cỡ của chiếc áo là trái với lẽ tự nhiên và tiềm ẩn muôn vàn rủi ro. Và nếu điều này đúng cho việc may áo, thì nó cũng đúng cả cho việc quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông, vẫn biết ở đời nhiều khi "cái khó bó cái khôn". Không ít người sẽ cho rằng: nói cải tiến công tác quy hoạch chung chung thì rất dễ, nhưng tiền lấy ở đâu ra mới là câu hỏi không dễ trả lời. Phản bác lập luận này là rất khó. Tuy nhiên, nếu chúng ta quy hoạch sai để sau đó vừa phải chi đền bù giải tỏa, vừa phải đầu tư để mở rộng cơ sở hạ tầng thì câu hỏi tiền lấy ở đâu ra chắc chắn sẽ còn khó trả lời hơn.

    Nguyên nhân thứ hai là ý thức chấp hành pháp luật (hay đúng hơn là sự thiếu vắng của ý thức này). Thực tế, nhìn vào cách hành xử của chúng ta trên đường phố, nhiều khách nước ngoài không thể tưởng tượng được là ở đất nước ta cũng có luật giao thông. Mà những điều luật giản dị như đèn đỏ thì phải dừng xe, rẽ xe thì phải báo hiệu... vẫn không áp đặt được, thì làm sao có thể tin rằng những điều luật phức tạp hơn sẽ được thực thi? Rõ ràng, sự không tuân thủ pháp luật chứ không phải tình trạng thiếu luật là vấn đề lớn nhất của đất nước ta.

    Pháp luật điều chỉnh hành vi. Nhưng để hành vi mong muốn có thể xảy ra tăng cường xử phạt là không bao giờ đủ. Tệ hơn, điều này có thể vừa buộc người ta phải che giấu vi phạm, vừa tạo điều kiện cho nạn tham nhũng bùng phát. Thực ra, có bảy yếu tố tác động lên hành vi của con người. Đó là: 1- Pháp luật. 2- Điều kiện. 3- Năng lực. 4- Thông tin. 5- Lợi ích. 6- Quy trình. 7- Lòng tin. Xử phạt, kể cả phạt tiền, phạt tù, phạt giữ xe v.v... chỉ là sự vận dụng đơn điệu một yếu tố lợi ích để tác động lên hành vi, mà như vậy thì không bao giờ đủ. Vấn đề là phải sử dụng được cả bảy yếu tố để điều chỉnh hành vi của con người. Và trước khi điều đó xảy ra, khả năng áp đặt sự tuân thủ pháp luật của chúng ta sẽ vẫn còn hạn chế.

    Trở lại với luật đội mũ bảo hiểm bắt buộc, những rủi ro của việc lạm dụng hình phạt đúng cho mọi điều luật, thì cũng đúng cho cả điều luật nói trên. Để áp đặt thành công hành vi đội mũ bảo hiểm xe máy, chúng ta cần phải nhìn được xa hơn các hình phạt hiện nay.