11. Phụ lục (done)

20/7/15
11. Phụ lục (done)
  • Phụ lục

    Tại sao tư tưởng của Keynes chưa bao giờ được giảng dạy ở các trường đại học Mỹ

    MỘT NHÀ HIỀN TRIẾT từng định nghĩa “sách kinh điển” là “một cuốn sách mà tất cả mọi người đều trích dẫn nhưng không ai đọc”. Với các giáo sư và những người viết giáo trình kinh tế học, cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ năm 1936 của Keynes, vì lý do này, thực sự là một cuốn sách kinh điển.

    Trong vài chục năm sau Thế chiến thứ hai, các nhà kinh tế học vẫn thường đề cập đến cuộc Cách mạng Keynes trong lý thuyết và chính sách kinh tế. Nhưng những gì mà các nhà kinh tế học tự coi mình là tín đồ trung thành của “cuộc Cách mạng Keynes” bàn luận với nhau lại không liên quan đến phần phân tích của Keynes về nền kinh tế tư bản định hướng thị trường sử dụng tiền. Chương này sẽ chỉ ra rằng hầu như các giáo sư kinh tế ở những trường đại học có uy tín nhất hay các tác giả của những cuốn giáo trình tự phong là về kinh tế học Keynes bán chạy nhất cũng chưa bao giờ hiểu được khung phân tích của Keynes.

    Những người này tiếp tục đưa ra phần phân tích giả mạo, không liên quan gì đến Keynes cho đến khi xảy ra lạm phát do cú sốc dầu mỏ của các nước OPEC. Điều đó cho thấy những tín đồ xuất chúng thuộc trường phái Keynes thời đó không hiểu gì về phân tích của Keynes về cả lạm phát hàng hóa lẫn lạm phát thu nhập, nên họ không thể đưa ra được chính sách chống lạm phát thuyết phục. Vì vậy, ho dễ dàng trở thành đích ngắm cho các tín đồ của lý thuyết thị trường tự do tấn công và phá bỏ những lập luận chính sách được coi là theo trường phái Keynes. Trong giới hàn lâm, phe thị trường tự do đã chiến thắng hoàn toàn, đến mức sinh viên được đào tạo để tin rằng các lý thuyết gia cổ điển đã chôn vùi mãi mãi những lời phê phán của Keynes về khiếm khuyết của nền kinh tế tư bản và vai trò cần thiết của chính phủ là phải chủ động khắc phục những khiếm khuyết đó.

    Lý thuyết cổ điển thực chất không phải hồi sinh từ cái chết và được tôn sùng vào thập kỷ 1970. Những nhà lãnh đạo có uy tín và những người đặt ra xu hướng mới trong ngành kinh tế học chưa bao giờ hiểu được phân tích của Keynes. Gần như ngay sau khi Keynes xuất bản lý thuyết tiền tệ mang tính cách mạng của ông, nó đã bị bỏ quên vì hai lý do. Thứ nhất, như chúng tôi sẽ trình bày ở đây, các giáo sư kinh tế học chính thống tin rằng phần giải thích thất nghiệp của Keynes là dựa trên tính cứng nhắc của lương và giá; họ không hề đặt thất nghiệp trong bối cảnh hoạt động của thị trường tài chính, trong đó mọi người đều ưa thích tính thanh khoản. Thứ hai, như chúng tôi sẽ chỉ ra ở cuối chương, bầu không khí chống cộng (chủ nghĩa McCarthy) bao trùm nước Mỹ trong những năm sau Thế chiến thứ hai đã ngăn cản việc giảng dạy thông điệp thực sự của Keynes.

    Tại sao cuốn sách của Keynes lại là kinh điển về kinh tế học

    Nếu còn sống, Keynes hẳn cũng không ngạc nhiên khi phân tích của mình không thể tạo đột phá trong cách thức xây dựng lý thuyết của các nhà kinh tế cổ điển nhằm giải thích thực tế. Trong bài phát biểu nhậm chức trước Viện Hàn lâm Anh vào ngày 22 tháng 4 năm 1971, nhà kinh tế học thuộc trường Cambridge là Austin Robinson đã trích một đoạn nằm trong bản thảo ban đầu, nhưng về sau không được in trong cuốn Lý thuyết tổng quát của Keynes như sau:

    “Trong kinh tế học, bạn không thể buộc tội đối thủ của bạn phạm sai lầm, bạn chỉ có thể thuyết phục anh ta. Và ngay cả khi bạn đúng, bạn vẫn không thể thuyết phục được nếu trong đầu anh ta chỉ toàn quan điểm đối lập với bạn, đến mức anh ta không thể nắm bắt được đầu mối bạn đưa ra để dẫn đường đến dòng tư duy của bạn”.

    Không chỉ những lý thuyết gia kinh tế học cùng thời kỳ với Keynes, mà như chương này sẽ cho bạn thấy, cả những nhà kinh tế học trẻ tuổi thời hậu Thế chiến thứ hai như Milton Friedman và Paul Samuelson - những người từng đoạt giải Nobel - cũng chứa đầy trong đầu cách nghĩ đối lập của lý thuyết cổ điển. Họ không thể nắm bắt được tư duy của Keynes dù ông đã trình bày cho tất cả những ai muốn nghe.

    Người viết tiểu sử Keynes, Robert Skidelsky đã chỉ ra rằng “các nhà kinh tế học dòng chính thống thời hậu Thế chiến thứ hai chỉ coi lý thuyết của Keynes là ‘một trường hợp đặc biệt’ trong lý thuyết cổ điển, chỉ áp dụng được trong điều kiện lương... ‘cứng nhắc’. Vì vậy lý thuyết của Keynes bị mất đi cơ sở vững chắc, nhưng vẫn phù hợp với chính sách thực tế".

    Nếu Keynes chỉ đơn thuần lập luận rằng thất nghiệp là kết quả của giá và lương cứng nhắc thì ông đã không xây dựng được một khung phân tích lý thuyết mang tính cách mạng về một vấn đề lớn của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa sử dụng tiền, đó là nó không thể đem lại môi trường có đầy đủ việc làm lâu dài. Vì các nhà kinh tế học thế kỷ 19 đã từng cho rằng việc lương và giá thiếu linh hoạt (các nhà kinh tế học hiện đại gọi đó là sự thiếu hoàn hảo về phía cung) là nguyên nhân duy nhất gây ra thất nghiệp.

    Trong chương 19 cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Keynes viết rõ rằng lý thuyết về thất nghiệp của ông không dựa trên giả định lương và/hoặc giá cả cứng nhắc. Keynes khẳng định lý thuyết này đem lại một cách phân tích khác, trong đó nguyên nhân của thất nghiệp có liên quan đến hoạt động của thị trường tài chính và mong muốn của công chúng là được nắm giữ tài sản có tính thanh khoản. Tuy nhiên, sau Thế chiến thứ hai, sinh viên ngành kinh tế được học rằng lý thuyết mang tính cách mạng của Keynes phải sử dụng đến giả định lương và/hoặc giá cả cố định mới giải thích được tình trạng thất nghiệp không tự nguyện. Rõ ràng các vị giáo sư tin rằng Lý thuyết tổng quát là một cuốn sách kinh điển vì hình như họ chưa đọc chương 19 trong sách - mặc dù họ vẫn trích dẫn cuốn sách với tư cách là một kiệt tác của Keynes.

    Sau đây là một minh chứng cho thấy rõ là các giáo sư lỗi lạc không đọc cũng như chẳng hiểu cuốn sách của Keynes. Năm 1972, tôi và một vài người khác có tranh luận với Milton Friedman trên tạp chí Journal of Political Economy. Năm 1974, các bài tranh luận trên báo này được xuất bản thành cuốn sách có tên “Lý thuyết tiền tệ của Milton Friedman: Tranh luận với phe chỉ trích” (Milton Friedman’s Monetary Framework: A Debate with his Critics"). Lúc đó, tôi chỉ cho Friedman thấy ở chương 19, trang 257 cuốn Lý thuyết tổng quát, Keynes đã viết rõ là lý thuyết của ông không dựa trên giả định lương và/hoặc giá cả cứng nhắc. Friedman trả lời rằng chương 19 và các chương sau trong cuốn sách của Keynes có thể rải rác có một vài nhận xét sắc sảo, nhưng những chương này không phải nội dung chính trong phân tích của Keynes. Trong những bài tranh luận được in, Friedman không đưa bất cứ trích dẫn nào từ sách của Keynes, nhưng ông khẳng định Keynes “sử dụng giả định giá cứng nhắc,... [một giả định] tùy tiện. Đây chỉ là một ông bụt hiện ra để giải quyết khó khăn chứ không có cơ sở vững chắc về lý thuyết”. Mặc dù Friedman không thể dẫn chứng cụ thể Keynes đưa ra giả định này ở đâu, nhưng khi nhất định quy kết Keynes đã dùng một giả định mà thực ra ông chưa bao giờ nhắc đến, Friedman và những người cùng phe dễ dàng bác bỏ Keynes với lý do Keynes đã đưa ra một lý thuyết không có cơ sở vững chắc.

    Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, một vài giáo sư đã cố gắng bênh vực giả định lương và giá cứng nhắc này bằng cách thêm một nguyên nhân khác của thất nghiệp, đó là lãi suất cứng nhắc. Lý luận về lãi suất [59] cứng nhắc được gọi là “bẫy thanh khoản”, và hiện nay các phương tiện thông tin vẫn dùng khái niệm này để giải thích tại sao nền kinh tế chưa thể thoát khỏi khủng hoảng. Tình trạng bẫy thanh khoản xảy ra khi ở một mức lãi suất thấp nhưng vẫn dương nào đỏ, nhu cầu giữ tiền được giả định là vô hạn và không ai nắm giữ bất cứ một loại công cụ nợ nào trong danh mục đầu tư. Do đó, theo các lý thuyết gia về bẫy thanh khoản, lãi suất không thể giảm thêm dẫn tới chính sách tiền tệ cũng không thể giúp tăng đầu tư để đưa nền kinh tế hướng tới điểm đầy đủ việc làm. Nhưng sau Thế chiến thứ hai, các nghiên cứu kinh tế lượng cho thấy trong số liệu trước đây không có bằng chứng chứng tỏ tồn tại bẫy thanh khoản.

    Tuy nhiên, nếu các nhà kinh tế học chính thống đã từng đọc cuốn Lý thuyết tổng quát thì họ sẽ biết ở trang 202, Keynes đã viết rõ rằng cầu tiền không bao giờ vô hạn khi lãi suất dương. Hơn nữa, khi xem xét kỹ lưỡng số liệu trong quá khứ, Keynes nhận thấy - như ông đã viết ở trang 207 - ông không hề thấy có trường hợp nào trong đó hàm ưa thích thanh khoản [tức đường cầu tiền] “tiến đến vô cùng”. Tóm lại, xét từ khía cạnh lý thuyết cũng như thực tế, Keynes đều bác bỏ sự tồn tại của bẫy thanh khoản. Vì vậy, những lý luận liên quan đến khái niệm bẫy thanh khoản không có mối liên hệ gì với phân tích của Keynes - mặc dù khái niệm này thường được những người tự cho là theo trường phái Keynes đưa ra thảo luận công khai.

    Từ đó, chúng ta thấy rõ ràng là phần lớn các nhà kinh tế thời hậu chiến chưa bao giờ đọc cũng như chưa bao giờ hiểu cuốn sách của Keynes. Thực tế là ở hầu hết các khoa kinh tế của những trường đại học nổi tiếng nhất, sinh viên được cho biết rằng cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes là rất khó hiểu, mơ hồ, do đó không cần đọc cũng như không cần hiểu. Ví dụ, N. Greg Mankiw, người tự cho mình là nhà kinh tế học trường phái “Keynes mới", giáo sư Đại học Harvard, cựu chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống George W. Bush cũng đã từng viết: “Lý thuyết tổng quát là một cuốn sách khó hiểu, một cuốn sách lạc hậu... Chúng ta đang có vị thế thuận lợi hơn nhiều so với Keynes để tìm hiểu cách thức vận hành của nền kinh tế... Một vài nhà kinh tế học vĩ mô vẫn hiểu kinh tế học cổ điển một cách mập mờ [giống như Keynes]... Kinh tế học cổ điển là đúng trong dài hạn. Hơn nữa, ngày nay các nhà kinh tế học quan tâm hơn đến cân bằng trong dài hạn... Kinh tế học cổ điển đang được chấp nhận rộng rãi"[60].

    Khi các giáo sư khả kính cũng nói như vậy thì rõ ràng sinh viên kinh tế sẽ không bao giờ đọc hay thử tìm hiểu thông điệp “mù mờ” của Keynes, và họ chỉ được nghe giảng rằng những lập luận của “trường phái Keynes” chung quy lại cũng giống lý thuyết cổ điển, đó là chính sự thiếu hoàn hảo của cung - đặc biệt do tiền lương trên thị trường lao động suốt nửa thế kỷ qua bị cứng nhắc vì nhà nước “phúc lợi" đã ưu ái người lao động với các quy định mức lương tối thiểu, khuyến khích thành lập công đoàn, trợ cấp thất nghiệp một cách “hậu hĩ”, v.v. - là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất nghiệp trong xã hội hiện nay.

    Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên tốt nghiệp từ những khoa kinh tế nổi tiếng nhất, những người cố vấn chính sách cho chính phủ cũng đưa ra đề xuất rằng nếu một quốc gia muốn chống lại tình trạng thất nghiệp thường xuyên mà nhiều nước phát triển đang gặp phải thì họ cần “tự do hóa” thị trường lao động. Các quy định đối với thị trường lao động phải được xóa bỏ, và mạng lưới an sinh xã hội đang có tác dụng bảo vệ người thất nghiệp khỏi rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn - ví dụ, thông qua đền bù thất nghiệp - cần được thu hẹp, nếu không muốn nói là vô hiệu hóa hoàn toàn.

    Nếu quá trình “tự do hóa" thị trường lao động được tiến hành triệt để về mặt lý thuyết thì có nghĩa là không còn quy định của chính phủ về điều kiện lao động tối thiểu hoặc thậm chí không có lệnh cấm sử dụng lao động trẻ em. Khi đó, thị trường lao động Trung Quốc sẽ là mô hình lý tưởng khiến các nước khác phải nỗ lực cạnh tranh theo. Để đạt được thị trường lao động toàn cầu lý tưởng đó, các nước phương Tây nên xóa bỏ mọi mạng lưới an sinh xã hội cho đến khi thị trường lao động ở các nước phát triển trở nên ngang bằng với thị trường lao động ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước châu Á khác, nơi có lực lượng công nhân vô cùng đông đảo, sẵn lòng làm việc với mức lương rất thấp cũng như cho con cái đi làm ở những xưởng sản xuất “bóc lột” sức lao động, điều kiện làm việc không an toàn.

    “Kinh tế học trường phái Keynes” được đưa vào giáo trình ở Mỹ như thế nào

    Để biết tại sao lý thuyết mang tính cách mạng của Keynes - đó là giải thích thất nghiệp qua nhu cầu nắm giữ tài sản có tính thanh khoản của người dân để làm nơi lưu giữ giá trị - chưa bao giờ trở thành cơ sở cho các phân tích kinh tế, chúng ta sẽ xem xét một ví dụ về nỗ lực tuyên truyền kinh tế học Keynes của Paul Samuelson ngay sau Thế chiến thứ hai.

    Với phần lớn sinh viên kinh tế thời nửa đầu thế kỷ 20, Paul Samuelson được coi là tín đồ của Keynes cũng như của lý thuyết tổng quát mang tính cách mạng Keynes đưa ra. Samuelson thường được coi là người sáng lập ra trường phái Keynes kiểu Mỹ mà ông gọi là Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển vì ông tin rằng phân tích của Keynes được dựa trên lý thuyết kinh tế cổ điển.

    Luận án tiến sỹ của Samuelson đã được trao giải Wells của trường Đại học Harvard và được xuất bản năm 1947 với nhan đề Cơ sở lý thuyết phân tích kinh tế (Foundations of Economic Analysis). Trong cuốn sách này, Samuelson giải thích cơ sở của lý thuyết kinh tế cổ điển đầu thế kỷ 20 bằng công cụ toán học. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi vào thập niên 1940, Samuelson đã sử dụng phần trình bày về lý thuyết tân cổ điển trong luận án của mình để làm cơ sở cho kinh tế học trường phái Keynes của ông. Không may là kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển của Samuelson lại không phù hợp với khung lý thuyết của Keynes trong cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ. Như chúng ta thấy, vào cuối năm 1969, Samuelson cho rằng tiên đề ergodic là yếu tố then chốt khiến kinh tế học trở thành một “môn khoa học” thực sự. Chỉ cần đánh giá này của Samuelson là đã đủ thấy người sáng lập ra trường phái Keynes kiểu Mỹ ngay sau Thế chiến thứ hai không hề hiểu ý tưởng mang tính cách mạng của Keynes, vì một trong những tiên đề cơ bản của lý thuyết cổ điển bị Keynes bác bỏ khi xây dựng lý thuyết mới chính là tiên đề ergodic.

    Hơn nữa, còn có một bằng chứng quan trọng nữa giúp giải thích tại sao kinh tế học trường phái Keynes của Samuelson lại không thuộc khung phân tích Keynes đưa ra, và tại sao vào những năm 1940 và 1950, không ai trong giới học thuật nghi ngờ cái mác theo trường phái Keynes của Samuelson.

    Trong cuốn sách tuyệt vời viết năm 1996 có tên Kinh tế học Keynes đến với nước Mỹ (The Coming of Keynesianism to America), các tác giả David Colander và Harry Landreth đã ghi nhận công lao của Samuelson vì ông đã cứu một cuốn sách sư phạm cơ bản về tư tưởng mang tính cách mạng của Keynes khỏi nguy cơ bị tư tưởng chống cộng (tức chủ nghĩa McCarthy) hủy bỏ khi tư tưởng này đang tàn phá nền học thuật và chính trị Mỹ trong những năm ngay sau Thế chiến thứ hai.

    Năm 1947, Lori Tarshis, một sinh viên Canada từng theo học lớp của Keynes ở trường Cambridge hồi đầu thập niên 1930 đã xuất bản một cuốn giáo trình nhập môn kinh tế học, trong đó Tarshis có giải thích những gì Keynes viết trong cuốn Lý thuyết tổng quát. Colander và Landreth cho biết mặc dù quyển giáo trình của Tarshis lúc đầu được ưa chuộng, nhưng số sách bán ra vẫn giảm mạnh vì nó bị ban quản trị và nhà tài trợ của các trường đại học coi là tuyên truyền một thứ kinh tế học “dị giáo”. Thái độ thù ghét cuốn sách của Tarshis lên đến cực điểm khi William F. Buckley đã dành hẳn một chương trong cuốn sách Thượng đế và loài người ở Yale (God and Man at Yale) năm 1951 để phê phán quyển giáo trình của Tarshis đang được Đại học Yale sử dụng là mang cảm hứng cộng sản.

    Trong một lần phỏng vấn vào tháng 8 năm 1986, Colander và Landreth hỏi Paul Samuelson về việc ông đã trở thành một nhà kinh tế học và là “tín đồ của Keynes” như thế nào. Samuelson trả lời rằng ông đã thấy “vụ tấn công độc ác vào Tarshis” nên ông viết cuốn sách của mình một cách "cẩn trọng, như một luật sư”, và thậm chí còn gọi lý thuyết mình đưa ra là Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển. Khi nhìn lại, chúng ta thấy rằng chính lời khẳng định và niềm tin của Samuelson rằng kinh tế học Keynes là thống nhất với (và dựa trên) các giả định của lý thuyết cổ điển đã giúp kinh tế học trường phái Keynes theo kiểu Samuelson ít bị công kích là tuyên truyền tư tưởng kinh tế “dị giáo" vào trường đại học hơn so với phân tích của Tarshis.

    Kinh tế học Keynes của Samuelson cũng được bổ sung thêm một số phương trình toán đơn giản mà Samuelson cho rằng mô tả được đầy đủ lập luận của Keynes. Khi có thêm biểu diễn toán học cộng với tính chất thống nhất với lý thuyết cổ điển, cuốn giáo trình Kinh tế học Keynes của Samuelson rất khó bị tấn công là mang động cơ chính trị. Vì vậy, với thế hệ các nhà kinh tế học được đào tạo sau Thế chiến thứ hai, cái tên Samuelson cũng đồng nghĩa với lý thuyết Keynes vì giáo trình Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển đã được in nhiều lần và là sách bán chạy trong gần nửa thế kỷ. Ngay cả các nhà kinh tế học trẻ tuổi hơn, những người đã bác bỏ Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển và tự xây dựng trường phái “Kinh tế học Keynes mới" cũng tiếp cận dựa trên phương pháp mà Samuelson đã sử dụng trong luận án tiến sỹ về Cơ sở lý thuyết phân tích kinh tế và nền tảng tiên đề của kinh tế học cổ điển.

    Xét từ quan điểm lịch sử, có lẽ Samuelson đã cứu được cuốn giáo trình sư phạm cơ bản về tư tưởng mang tính cách mạng của Keynes khỏi sự tàn phá của chủ nghĩa McCarthy. Cách của ông đơn giản là bỏ qua nền tảng tiên đề không quá cứng nhắc, chặt chẽ trong phân tích của Keynes. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu Samuelson có thực sự hiểu lý thuyết Keynes đưa ra không, và có phải ông chỉ dùng lý thuyết cổ điển để bảo vệ cho cuốn sách bán chạy của mình khỏi bị tấn công về mặt chính trị không?

    Năm 1986, trong một lần phỏng vấn, Samuelson đã nói rằng vào thời kỳ trước Thế chiến thứ hai, “những người bạn không phải nhà kinh tế học” của ông đã “coi tôi [Samuelson] là người rất bảo thủ”. Samuelson tốt nghiệp Đại học Chicago vào tháng 6 năm 1935, và nếu không được trao học bổng Hội đồng Nghiên cứu khoa học xã hội ngay sau khi tốt nghiệp, có lẽ ông đã trở thành bạn đồng môn của Milton Friedman, người cũng học ngành kinh tế tại Chicago thời gian đó. Vậy là chính bàn tay hữu hình của học bổng nghiên cứu kia đã đưa Samuelson đến Harvard vào năm 1936, đúng năm cuốn Lý thuyết tổng quát của Keynes được xuất bản. Tại Harvard, Samuelson đã được tiếp nhận những thông tin gì về cuốn sách?

    Robert Bryce là một người Canada từng theo học lớp do Keynes giảng dạy tại Cambridge từ năm 1932 đến 1935. Năm 1987, khi được Colander và Landreth phỏng vấn, Bryce kể rằng hồi mùa xuân năm 1935, ông [Bryce] thường học nửa tuần ở trường Kinh tế London [LSE] và nửa tuần còn lại ở Đại học Cambridge. Ở LSE, Bryce đã sử dụng những ghi chép trong giờ giảng của Keynes để viết một bài luận về tư tưởng mang tính cách mạng do Keynes đưa ra - mà không cần đọc cuốn Lý thuyết tổng quát - để phổ biến cho mọi người ở LSE. Bài luận của Bryce đã gây ấn tượng rất mạnh đối với giáo sư Frederick Hayek, một lý thuyết gia kinh tế cổ điển nổi tiếng thế giới. Vì vậy, Hayek đã mời Bryce tham gia cuộc hội thảo chuyên đề kéo dài bốn tuần liên tục của Hayek ở trường LSE để trình bày tư tưởng của Keynes theo như trong bài luận. Phần trình bày của Bryce ở LSE đã thu được thành công vang dội.

    Mùa thu năm 1935, Bryce đến Harvard và ở đây hai năm. Trong thời gian đó, vào buổi tối, có một nhóm không chính thức thường gặp nhau để thảo luận về cuốn sách của Keynes. Với bài luận Bryce viết từ trước khi cuốn Lý thuyết tổng quát được xuất bản và là cơ sở bài trình bày ở LSE, Bryce đã giới thiệu cho nhóm này những lập luận mà ông tin là Keynes viết trong cuốn sách - mặc dù lúc đó ông vẫn chưa hề đọc nó. Vì vậy, đến thời điểm năm 1936, bài luận của Bryce trở thành tài liệu cơ bản khiến hầu hết các nhà kinh tế học ở Harvard, có lẽ trong đó có cả Samuelson, tin rằng đó là lập luận của Keynes, bất kể Bryce chưa đọc Lý thuyết tổng quát khi ông trình bày bài luận của mình. Thậm chí hồi năm 1987, Bryce cũng nói rằng "bất cứ ai đọc cuốn sách cũng sẽ bối rối. Đó là một cuốn sách khó hiểu, kích động”.

    Vì vậy, câu hỏi ngay lập tức đặt ra là: “Liệu Bryce đã thực sự hiểu thấu đáo cơ sở lý thuyết của Keynes hay chưa?" Và nếu chưa thì điều đó có ảnh hưởng như thế nào đến hiểu biết về phân tích của Keynes của chàng Samuelson trẻ tuổi và những người khác ở Harvard hồi năm 1936? Phần trình bày của Bryce ở LSE và Harvard được coi là giúp tư tưởng của Keynes trở nên dễ hiểu - một điều mà Bryce cho rằng Keynes chưa làm được trong cuốn Lý thuyết tổng quát.

    Samuelson kể với Colander và Landreth rằng những hiểu biết đầu tiên của ông về Lý thuyết tổng quát của Keynes có được là nhờ Bryce. Quan trọng hơn, ngay cả sau khi đã đọc Lý thuyết tổng quát vào năm 1936, và có lẽ cũng phản ánh quan điểm của Bryce về sự khó hiểu của cuốn sách, Samuelson nói rằng ông thấy lập luận trong cuốn sách là “kém thú vị” và khó lĩnh hội. Trong buổi phỏng vấn với Colander, Samuelson cho biết: “Cuối cùng tôi phải tự thuyết phục bản thân bằng cách không lo nghĩ về nó [hiểu được lập luận của Keynes] nữa. Tôi tự nhủ: tại sao mình lại phủ nhận mô hình lý thuyết giúp mình giải thích được sự phát triển kinh tế thời Roosevelt từ năm 1933 đến năm 1937?... Tôi bằng lòng với giả định rằng giá tương đối và lương có tính cứng nhắc ở mức độ nào đó, vì thế lập luận của Keynes cũng là một dạng khác của mô hình Walras"[61]. Nói cách khác, Samuelson đã thừa nhận ông không hiểu phân tích của Keynes. Thay vào đó, ông cho rằng Keynes đang trình bày một dạng mô hình cân bằng tổng thể của lý thuyết cổ điển, trong đó tính cứng nhắc của lương và giá là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp.

    Những gì Samuelson trực tiếp nói ở trên cho thấy rõ ràng là lý thuyết cổ điển mang tính đối lập [với quan điểm của Keynes] đã phủ lún tâm trí Samuelson, vì vậy, ông không thể hiểu được cơ sở của những phân tích trong lý thuyết tổng quát của Keynes là phải bác bỏ ba giả định cổ điển. Năm 1986, năm mươi năm sau khi cuốn sách Lý thuyết tổng quát ra đời, Samuelson vẫn cho rằng “chúng ta [những nhà kinh tế học Keynes] luôn giả định rằng trạng thái cân bằng dưới mức đầy đủ việc làm mà Keynes đưa ra thường xuất hiện trong điều kiện giá bị kiểm soát và cạnh tranh không hoàn hảo”. Khi Colander và Landreth hỏi thêm liệu trong phân tích của ông có nêu rõ điều kiện giá và lương phải cứng nhắc không thì Samuelson trả lời: “Không cần thiết”. Tuy nhiên, nếu giá và lương cứng nhắc là nguyên nhân gây ra thất nghiệp thì lập luận của Keynes chẳng có gì là đột phá. Nói cho cùng, các nhà kinh tế học thế kỷ 19 cũng đã chỉ ra rằng trong mô hình lý thuyết cổ điển của Walras, nếu lương cứng nhắc thì sẽ dẫn tới thất nghiệp.

    Vào thời điểm Samuelson trở thành tín đồ của trường phái Keynes bằng cách tự thuyết phục bản thân không cần lo nghĩ về lập luận thực sự của Keynes là như thế nào thì Tarshis được nhận vào Đại học Tufts, cách Harvard chỉ nửa giờ đi đường. Tarshis thường gặp gỡ với nhóm chuyên thảo luận về Keynes ở Harvard, trong đó có Bryce. Trong cuộc phỏng vấn với Colander và Landreth, Tarshis có nói rằng “Paul Samuelson không phải thành viên nhóm nghiên cứu Keynes, ông ta bận làm việc riêng của mình, ông ta mà là tín đồ trường phái Keynes thì thật nực cười".

    Cho đến hiện tại, Paul Samuelson vẫn tự gọi mình là nhà kinh tế học trường phái Keynes, thậm chí còn là “hậu Keynes" như trong một vài cuốn giáo trình nổi tiếng mà ông viết. Tuy nhiên, rõ ràng Samuelson - người trở thành chuyên gia hàng đầu về kinh tế học Keynes của Mỹ thời đó - lại không hiểu thấu đáo cuốn Lý thuyết tổng quát của Keynes.

    Với sự thống trị của Samuelson trong bối cảnh kinh tế Mỹ sau Thế chiến thứ hai, cơ sở tiên đề của lý thuyết Keynes qua cách truyền bá của Samuelson hoàn toàn khác với Lý thuyết tổng quát của Keynes - đã ngăn cản việc áp dụng những phân tích mang tính cách mạng của Keynes trong thực tế như kinh tế học chính thống từng được áp dụng. Kết quả là trong giới chuyên môn hồi thập kỷ 1970, những nhà kinh tế học cổ điển, ví dụ người đứng đầu trường phái trọng tiền là Milton Friedman của Đại học Chicago, đã dễ dàng đánh bại “trường phái Keynes" của Samuelson chính bởi logic không thống nhất giữa cơ sở lý thuyết cổ điển và giải pháp chính sách trong lập luận của Samuelson.

    Thắng lợi của lý thuyết cổ điển trước trường phái Keynes của Samuelson đã làm thay đổi các lựa chọn chính sách kinh tế trong nước và quốc tế mà các chính trị gia và cố vấn kinh tế cho là sẽ được xã hội chấp nhận. Đó là các chính sách nhằm (1) giảm thiểu thất nghiệp, (2) đẩy mạnh phát triển kinh tế và thậm chí cả (3) cách thức tài trợ cho hệ thống an sinh xã hội của chính phủ sao cho không giống với đề xuất của Keynes trong cuốn Lý thuyết tổng quát nữa mà đi theo hướng chính sách thị trường tự do truyền thống vốn được lý thuyết cổ điển phổ biến vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ủng hộ. Trước khi lý thuyết cổ điển của Friedman giành thắng lợi trước Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển thì các chính phủ thời hậu chiến, bất kể thuộc phe tự do hay phe bảo thủ, đều chủ động theo đuổi những chính sách kinh tế được Keynes tán thành hồi thập niên 1930 và 1940, mặc dù các giáo sư và sinh viên theo trường phái Keynes - cố vấn của các chính trị gia - lại không hiểu phân tích của Keynes cho lắm.

    Thắng lợi của lý thuyết cổ điển của Friedman trước Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển vào thập kỷ 1970 dẫn tới kết quả là hình thành một trường phái được gọi là kinh tế học Keynes mới, có xu hướng thay thế kinh tế học Keynes tân cổ điển của Samuelson. Ngay khi lập luận của Friedman đánh bại lập luận Keynes của Samuelson bằng cách khai thác sự mâu thuẫn về mặt logic, lý thuyết cổ điển của thập niên 1980 có tên kinh tế học cổ điển mới với cốt lõi là thuyết kỳ vọng hợp lý của Robert Lucas - người được trao giải Nobel - đã ra đời. Nó dễ dàng giễu cợt phương pháp tiếp cận của kinh tế học Keynes mới vì trường phái này vẫn dựa trên tính cứng nhắc của giá và lương để đưa ra kết luận giống Keynes.

    Thuyết kỳ vọng hợp lý cần tiên đề ergodic làm nền tảng logic, vì vậy nó giả định rằng khi thị trường tự do đã đạt được trạng thái đầy đủ việc làm trong dài hạn, hành vi của mọi người và chính sách của chính phủ đều không thay đổi được tương lai của nền kinh tế. Vì vậy, các lý thuyết gia trường phái cổ điển mới cho rằng vấn đề chúng ta gặp phải chỉ liên quan đến cung trong ngắn hạn, chủ yếu là do chính phủ can thiệp vào thị trường lao động và hàng hóa. Nếu thị trường được giải phóng khỏi mọi sự can thiệp của chính phủ thì các lý thuyết gia cổ điển mới chứng minh được rằng ngay cả trong ngắn hạn, nền kinh tế cũng có thể đạt được trạng thái đầy đủ việc làm. Nếu không loại bỏ được những quy định hạn chế của chính phủ, thì như những lời giáo sư Mankiw đã nói ở trên, phải trong dài hạn mới có được kết quả đúng đắn như lý thuyết cổ điển đưa ra. Thắng lợi của lý thuyết cổ điển trước kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển và kinh tế học Keynes mới đã dẫn tới các nhà hoạch định chính sách áp dụng giải pháp tự do hóa mọi thị trường với niềm tin sai lầm rằng “tất cả sẽ đạt được trạng thái tốt nhất trong những khả năng tốt đẹp nhất có thể có nếu chúng ta để mọi thứ tự diễn ra”.

    Khi tiến vào thế kỷ 21, chỉ còn các nhà kinh tế học trường phái hậu Keynes là còn tiếp tục đi theo dấu chân của Keynes, phát triển lý thuyết và xây dựng chính sách phù hợp với quá trình toàn cầu hóa kinh tế trong thực tế.

    Một nhà kinh tế học đoạt giải Nobel khác cũng biến lý thuyết cổ điển thành lý thuyết của Keynes

    Năm 1939, khi nỗ lực tìm hiểu lập luận của Keynes, John Hicks đã viết ông “may mắn gặp được một phương pháp phân tích... Phương pháp cân bằng tổng thể [Walras] ra đời chuyên để nghiên cứu toàn bộ hệ thống kinh tế... [Với phương pháp này] chúng ta có thể xem xét tại sao Keynes lại đi đến kết quả khác với các nhà kinh tế thời trước đó”[62]. Hicks đã sử dụng phương pháp cân bằng tổng thể để xây dựng mô hình kinh tế nổi tiếng của ông với hàm lượng toán khá nhiều (nhiều hơn so với mô hình của Samuelson), trong đó ông cho biết nó giải thích được lập luận của Keynes. Mô hình Hicks đã được nhiều tác giả sử dụng để các cuốn giáo trình của họ sắc sảo hơn, cạnh tranh được với giáo trình của Samuelson.

    Năm 1971, tôi gặp John Hicks trong một hội thảo kéo dài sáu ngày về nền tảng của kinh tế học Keynes. Tại hội thảo, tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp đồng có giá trị bằng tiền, sự tồn tại của thị trường tài chính và sự cần thiết của tính thanh khoản. Trong buổi thảo luận cuối hội thảo, tôi khẳng định một thực tế rằng “mô hình cân bằng tổng thể" cổ điển “được dựng nên không phải và cũng không thể trả lời cho những câu hỏi thú vị về tiền tệ, lạm phát và thất nghiệp... Nếu chúng ta [những nhà kinh tế học] cố gắng đặt lập luận của Keynes lên nền tảng phương pháp cân bằng tổng thể [của kinh tế cổ điển] thì chúng ta không thể tiến xa hơn trong kinh tế vĩ mô; thậm chí chúng ta sẽ thụt lùi, quay lại giải pháp tồi tệ có từ thời trước Keynes đối với những vấn đề vĩ mô - chính trị - kinh tế phát sinh”[63]. Cuối hội thảo, Hicks cho tôi biết là cách tiếp cận kinh tế học của ông gần với phương pháp của tôi hơn bất kỳ ai khác trong hội thảo (trong số thành viên tham dự có những người sau này đoạt giải Nobel như Tjalling Koopmans và Joseph Stiglitz).

    Trong vài năm sau đó, Hicks và tôi có gặp nhau vài lần ở Anh để tiếp tục thảo luận về cơ sở lý thuyết tổng quát của Keynes. Giữa thập niên 1970, Hicks phải thừa nhận rằng mô hình của ông là một dạng đơn giản hóa lập luận của Keynes. Năm 1979, Hicks cho rằng kinh tế học phải gắn với bối cảnh thời gian, và không thể giả định một mối quan hệ từng tồn tại trong quá khứ sẽ vẫn tồn tại ở tương lai. Trong một bài báo đăng trên tạp chí Journal of Post Keynesian Economics có tiêu đề: “Giải thích mô hình IS-LM”, Hicks đã tự bác bỏ mô hình toán trong kinh tế học Keynes của mình, ông viết: “Theo thời gian, bản thân tôi ngày càng không hài lòng về nó”. Ông cũng thừa nhận rằng công thức của ông chưa hề mô tả được cách tiếp cận tổng thể của Keynes[64].

    Cuối cùng, sau khi đọc bài tôi viết về sai lầm của thuyết kỳ vọng hợp lý[65], Hicks có viết cho tôi một bức thư đề ngày 12 tháng 2 năm 1983[66] như sau: “Tôi đã đọc bài viết về thuyết kỳ vọng hợp lý của ông... Tôi rất thích nó... Ông đã giải thích rằng mối nghi ngờ của tôi là hợp lý, đồng thời cho thấy tôi đã bỏ lỡ cơ hội coi quan điểm của mình là phi ergodic. Cần có tính chất đó thì lập luận của tôi mới có tính thuyết phục hoàn toàn”.

    Như vậy, Hicks, người đoạt giải Nobel vì sử dụng lý thuyết cân bằng tổng thể, đã bác bỏ công thức nổi tiếng mô tả kinh tế học Keynes của mình, và thừa nhận nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không vận hành theo tính chất ergodic. Không may là không lâu sau đó Hicks qua đời, và sự thay đổi cách nhìn của ông chưa gây được ảnh hưởng lên ngành kinh tế học.

    Lạm phát năm 1973 - chiếc đinh đóng lên quan tài của Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển

    Năm 1973, khi cartel OPEC làm cho giá trên thị trường dầu thô lên rất cao, lạm phát ở Mỹ và các quốc gia tiêu dùng dầu mỏ khác cũng bắt đầu tăng nhanh. Những người theo trường phái kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển không biết Keynes viết gì về lạm phát nên họ cũng không đưa ra được giải pháp lý thuyết cho vấn đề này. Thay vào đó, họ tự coi mình là “những nhà khoa học nghiêm túc”, do đó họ sử dụng phân tích số liệu thống kê trong quá khứ để giải thích và tìm cách giải quyết lạm phát thời những năm 1970.

    Paul Samuelson và một đồng nghiệp của ông, cũng là nhà “kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển” khác là Robert Solow (cũng đã được trao giải Nobel) là những người đặc biệt quan trọng trong việc phổ biến rộng rãi mối quan hệ thống kê sau: khi tỷ lệ thất nghiệp giảm thì lương và lạm phát tăng. Samuelson và Solow viết rằng số liệu trong quá khứ cho thấy thực tế là ở Mỹ có xảy ra hiện tượng đánh đổi: “giá cả ổn định ở mức thất nghiệp khoảng 5,5%, còn nếu có 3% thất nghiệp thì giá sẽ tăng khoảng 4,5% một năm”[67].

    Với Samuelson và Solovv, giải pháp chính sách cho vấn đề lạm phát của thập niên 1970 nằm ngay trong phân tích số liệu thực tế - đó là thất nghiệp tăng lên luôn dẫn tới giảm lạm phát. Những nhà kinh tế học trường phái Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển này cho rằng chính phủ nên quyết định chấp nhận mức thất nghiệp là bao nhiêu để giảm lạm phát. Tất cả những gì chính phủ phải làm là đưa ra chính sách làm thất nghiệp tăng lên đến khoảng 5,5%, khi đó giá cả sẽ ổn định.

    Không may cho Samuelson và Solow là số liệu thống kê trong quá khứ lại không phải lời chỉ dẫn đáng tin cậy cho tương lai. Ví dụ, từ năm 1973 đến 1974, giá cả ở Mỹ đã tăng lên 12% trong khi thất nghiệp cũng tăng từ 5% lên 9%... Trái ngược với dự đoán của Samuelson và Solow, thực tế là thất nghiệp và lạm phát đã đồng thời cùng tăng. Báo chí thời đó nói rằng nước Mỹ đang rơi vào tình trạng “lạm phát đình đốn” - tức là nền kinh tế đình trệ cộng với thất nghiệp tăng cao. Rõ ràng giải pháp theo trường phái Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển của Samuelson và Solow không đem lại hiệu quả. Vì không thể giải thích được tại sao giá lại tăng nhanh nên trường phái Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển đã bị mất uy tín trong giới kinh tế học.

    Cùng lúc đó, lý thuyết gia cổ điển Milton Friedman đã đưa ra một khái niệm mà ông gọi là “tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên”, ông sử dụng phân tích thực tế để chứng minh rằng trong dài hạn không có mối quan hệ giữa biến động tỷ lệ thất nghiệp và biến động tỷ lệ lạm phát. Do đó, Friedman cho rằng việc chấp nhận thất nghiệp cao sẽ không đem lại mức lạm phát thấp hơn.



    Thay vào đó, Friedman nói nếu chúng ta để thị trường tự do hoạt động thì thông qua quá trình cạnh tranh, các tác động gây lạm phát sẽ bị triệt tiêu. Phe kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển không có ý kiến gì trước lập luận này, mặc dù suốt thập kỷ 1970 giá vẫn tiếp tục tăng lên. Kết quả là “trường phái Keynes” đã bị các nhà kinh tế học chính thống cũng như các cố vấn kinh tế cho giới chính trị gia quăng vào sọt rác. Kinh tế học Keynes của Samuelson đã chết, bất kể thực tế là nó chưa bao giờ phản ánh đúng tư tưởng của Keynes.

    Giải thích hiện tượng lạm phát thập niên 1970 bằng lập luận của Keynes

    Với khái niệm lạm phát hàng hóa và lạm phát thu nhập của Keynes, ta có thể giải thích hiện tượng lạm phát những năm 1970 một cách dễ dàng. Khi OPEC tăng giá dầu bằng cách hạn chế sản lượng của các nước thành viên, hậu quả là xảy ra lạm phát hàng hóa dầu mỏ ở mức cao và nhanh chóng lan ra toàn thế giới, dẫn tới chi phí vận chuyển hàng hóa và dịch vụ đến thị trường tăng lên đáng kể. Lạm phát hàng hóa ngay lập tức dẫn tới chỉ số giá tiêu dùng tăng.

    Vào thời gian đó, ở những ngành sản xuất hàng loạt của Mỹ, công đoàn công nhân đã đàm phán được điều khoản về điều chỉnh chi phí sinh hoạt (COLA) trong hầu hết các hợp đồng công đoàn ký kết với giới chủ doanh nghiệp. Điều khoản COLA này như sau: bất cứ khi nào chỉ số lạm phát do chính phủ công bố tăng thì lương trả cho mọi công nhân có tham gia hợp đồng của công đoàn cũng ngay lập tức phải được tăng tương ứng. Do đó, ngay khi lạm phát hàng hóa dầu mỏ làm cho lạm phát tăng, điều khoản COLA cũng gây ra lạm phát thu nhập khi chi phí lao động tăng, dẫn tới lạm phát còn cao hơn nhiều so với hiện tượng giá dầu tăng ban đầu. Vì vậy, khi thất nghiệp tăng, điều khoản COLA lại tiếp tục làm lạm phát tăng mạnh hơn nữa - một thực tế xảy ra hoàn toàn không giống với lập luận của Samuelson và Solow vốn dựa trên số liệu trong quá khứ khi chưa có điều khoản COLA hoặc nó chưa ảnh hưởng mạnh. Nếu Samuelson và Solovv hiểu được rằng Keynes đã bác bỏ tiên đề ergodic thì họ sẽ nhận thấy điều khoản COLA trong hợp đồng lao động đã làm thay đổi môi trường kinh doanh, do đó phân tích số liệu trong quá khứ không còn là cơ sở đáng tin cậy cho dự báo tương lai.

    Kết luận

    Paul Samuelson đã giữ lại được thuật ngữ “trường phái Keynes” trong các giáo trình kinh tế, nhờ đó nó không bị phong trào chống cộng của chủ nghĩa McCarthy hủy hoại. Tuy nhiên, cái giá phải trả là ý nghĩa của kinh tế học Keynes trong lý thuyết kinh tế chính thống đã bị tách rời khỏi gốc rễ phân tích ban đầu của nó là cuốn Lý thuyết tổng quát. Keynes đã tạo ra một cuộc cách mạng khi chứng minh rằng trong nền kinh tế định hướng thị trường có sử dụng tiền, sự thiếu hoàn hảo ở phía cung, trong đó có tính cứng nhắc của lương và/hoặc giá cả hoặc bẫy thanh khoản vẫn chưa phải điều kiện cần để nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gặp phải thất nghiệp cao và thường xuyên. Hơn thế, Keynes còn cho thấy lương và giá linh hoạt cộng với cạnh tranh hoàn hảo cũng chưa phải điều kiện đủ để đảm bảo nền kinh tế đạt được trạng thái đầy đủ việc làm, kể cả trong dài hạn.

    Quan điểm của Samuelson về kinh tế học Keynes đã khiến cho lập luận của Keynes không còn mang tính cách mạng khi bác bỏ các tiên đề cơ sở của kinh tế học cổ điển. Kinh tế học Keynes kết hợp lý thuyết tân cổ điển ra đời cùng lúc với toán học trở nên phổ biến trong kinh tế học. Do đó cái được gọi là sự thông thái của các nhà kinh tế học chính thống thời kỳ đầu thế kỷ 21 vẫn chỉ là phiên bản mới của lý thuyết cân bằng tổng thể Walras cổ điển của thế kỷ 19 với công nghệ cao hơn và hàm lượng toán nhiều hơn.

    Samuelson đã vượt qua được những thế lực ngăn cản việc giảng dạy kinh tế học Keynes ở trường đại học do lý thuyết này bị nghi là mang cảm hứng cộng sản, nhưng cuối cùng ông lại thất bại trong cuộc chiến mà Keynes đã khơi mào để chấm dứt việc sử dụng lý thuyết cổ điển làm cơ sở giải thích các vấn đề thất nghiệp, lãi suất và tiền tệ trong thế giới thực. Năm 1986, Lorie Tarshis đã nhận thấy điều này khi ông nói: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy tư tưởng của Keynes được tiếp nối với sự tôn trọng tuyệt đối hoặc hiểu biết đầy đủ về những gì ông đã từng viết. Và hiện tôi vẫn còn cảm giác đó”[68].

    Kinh tế học chính thống ngày nay - cho dù được gọi là trường phái Keynes tân cổ điển cũ, trường phái Keynes mới, kinh tế học cổ điển cũ hoặc kinh tế học cổ điển mới, kinh tế học Walras của Arrow-Debreu, lý thuyết hậu Walras hay lý thuyết hành vi - thì đều dựa trên các giả định cổ điển mà Keynes đã bác bỏ trong lý thuyết tổng quát của ông khi nỗ lực làm cho kinh tế học phù hợp với các vấn đề thất nghiệp, thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế trong thực tiễn. Hậu quả là những vấn đề này vẫn tiếp tục gây ra rất nhiều khó khăn cho nền kinh tế toàn cầu hóa trong thế kỷ 21.

    Cuốn sách này sẽ khuyến khích các nhà kinh tế học và các nhà cố vấn kinh tế của giới chính trị gia nghiên cứu lại tư tưởng của Keynes, vì đây là niềm hy vọng lớn nhất giúp xây dựng được nền kinh tế hướng đến thịnh vượng, văn minh.

    GIẢI PHÁP KEYNES

    Con đường dẫn đến sự thịnh vượng kinh tế toàn cầu

    PAUL DAVIDSON
    Nguyễn Hằng dịch

    Bìa sau

    "Paul Davidson là người gìn giữ ngọn lửa của Keynes. Lý thuyết Keynes trường tồn, và Davidson là một trong những lý do dẫn đến sự trường tồn đó".

    - Alan S. Blinder, giáo sư vinh danh Gordon S. Rentschler về kinh tế và chính sách công, Đại học Princeton

    "Paul Davidson đã cho ta câu trả lời đúng lúc và rõ ràng cho câu hỏi quan trọng: nếu còn sống, Keynes sẽ nói gì? Paul đặc biệt xuất sắc khi nói về tình hình nguy ngập của kinh tế học cổ điển, vốn phớt lờ Keynes hàng thập kỷ nay, và giờ đây đang bộc lộ yếu điểm vì hoàn toàn không chuẩn bị gì cho cuộc khủng hoảng ngay trước mắt".

    - James K. Galbraith, Đại học Texas ở Austin, tác giả sách Nhà nước dỡ thú: Những người bảo thủ đã từ bỏ thị trường tự do như thế nào và tại sao những người tự do cũng nên làm như vậy

    "Paul Davidson đã không ngừng công kích lý thuyết kinh tế truyền thống vì nó bỏ qua quan điểm của Keynes rằng tính không chắc chắn và việc sử dụng tiền tệ làm phương tiện lưu trữ giá trị có thể gây ra khủng hoảng kinh tế. Trong cuốn sách mới dễ hiểu này, ông trình bày những sai lầm về mặt lý thuyết đã làm cho kinh tế thế giới tuột dốc và cho biết bằng cách nào tư tưởng của Keynes sẽ giúp đem lại một xã hội kinh tế văn minh'".

    - Robert Skidelsky, tác giả sách John Maynard Keynes (1883-1946): Nhà kinh tế học, triết gia, chính khách