12. 346-hết - Bún (done)

20/7/15
12. 346-hết - Bún (done)
  • 11. Đường cho người đi bộ

    Ngày nay, "Ta đi trên đường Hà Nội rực rỡ chiến công" là lời của một bài hát hơn là hành vi thực tế của con người, đơn giản, vì những con đường này đã bị xe máy và ô tô chiếm hết.

    Điều đáng mừng là chính quyền thành phố đang triển khai kế hoạch để giành lại ít nhất là một vài con đường tiêu biểu cho người đi bộ. Đó sẽ là những con đường thuộc khu phố cổ của Hà Nội. Thực ra, chủ trương dành riêng một số con đường cho người đi bộ đã có từ lâu, nhưng do chưa được người dân đồng tình, ủng hộ nên đành hoãn lại. Lần này, chính quyền thành phố đã tỏ ra quyết tâm hơn trong việc triển khai chủ trương nói trên, và người dân có vẻ cũng lưỡng lự hơn trong cách phản ứng của mình.

    Thực ra, những bất lợi mà người dân băn khoăn lại chính là những ưu điểm mà đường cho người đi bộ mang lại.

    Trước hết, người dân băn khoăn về việc sẽ không bán được hàng hóa vì khách hàng không đi xe vào được. Tuy nhiên, những người đi xe không vào được thì những người đi bộ lại vào được và những người đi bộ này sẽ rất đông đúc suốt ngày đêm. Ngoài ra, người đi bộ sẽ mua nhiều hơn người đi xe, vì họ đi chơi và mua cũng thường để chơi. Nhu cầu mua sắm sẽ phát sinh trong quá trình đi dạo chơi nhiều hơn là do có chủ đích từ trước. Những người đi bộ thường đi lâu hơn và la cà đến nhiều cửa hàng hơn. Thêm vào đó, đã đi lâu thì phải ăn uống, phải tìm cách thưởng thức hương vị của các món ăn và đồ uống ở phố cổ. Tóm lại, khả năng bán hàng sẽ tăng lên rất lớn so với những đường phố cho phép đi xe. Tuy nhiên, khách du lịch đi bộ sẽ mua sắm những loại hàng hóa khác. Vì vậy người dân cần chuẩn bị để thay thế các hàng hóa của mình bằng những chủng loại mới. Hàng lưu niệm và hàng ăn, hàng giải khát sẽ dễ bán và có thể bán với giá cao hơn.

    Băn khoăn thứ hai là đi lại khó khăn. Những người dân sống trong phố cổ thì cũng phải đi lại bằng xe máy. Cấm xe máy, ô tô lưu thông, họ sẽ rất khó khăn. Điều này là có thật. Tuy nhiên, phố cổ của chúng ta tương đối nhỏ hẹp, đi sang một phố khác để bắt xe ôm là không quá khó khăn. Ngoài ra, cũng có thể tổ chức dịch vụ gửi xe ở những đường phố bên cạnh. Những người sẽ chịu thiệt nhiều hơn là những người sống ở khu vực không có khả năng kinh doanh phía sau. Tuy nhiên, bù lại họ vẫn có được một môi trường sống trong lành hơn.

    Thực ra, như một tấm huy chương, mỗi chính sách đều có hai mặt, được, mất luôn luôn đan xen nhau trong bất kỳ một chính sách nào. Tuy nhiên, cái được trong việc dành riêng đường cho người đi bộ chắc chắn sẽ nhiều hơn.

    12. Cơm tù

    Cơm tù là thứ thật khó nuốt! Nghẹn lại trong cổ không chỉ là những miếng thức ăn, mà cả sự uất ức. Với cơm tù, phẩm giá và tiền bạc đang bị trấn lột trên con đường xuyên Việt của chúng ta.

    Vấn đề đặt ra là tại sao hiện tượng cơm tù lại tồn tại dai dẳng như vậy?

    Có lẽ, trước hết, nó tồn tại vì nó có chỗ dựa. Không ít chủ quán cơm tù có mối quan hệ dây mơ, rễ má với các quan chức ở địa phương, thậm chí cả với các quan chức liên quan đến quản lý giao thông. Đã là thân quen, là người nhà, thì cách hành xử thường được áp dụng là "giơ cao, đánh khẽ". Hậu quả là cơm tù đã nhanh chóng "kháng thuốc" và tồn tại dai dẳng trên tuyến đường "từ Bắc vô Nam".

    Nó tồn tại còn do sự kém hiệu năng và kém trách nhiệm của các cấp chính quyền sở tại. Nếu "chưa tìm được cán bộ đi rút giấy phép" còn là lý do của tình trạng án binh bất động, thì chính quyền sở tại, hoặc là hoàn toàn không có năng lực, hoặc là hoàn toàn không có trách nhiệm. Trong hai thứ này, không biết thứ nào sẽ an ủi chúng ta hơn?!

    Mối quan hệ lợi ích không thật minh bạch và không thật lành mạnh của các tài xế cũng là một nguyên nhân. Nếu cánh tài xế có thể thuộc lòng tất cả các trạm gác giao thông và cách hành xử rất đa dạng của chúng trên tuyến đường Bắc Nam, thì thật ngây thơ nếu tin rằng họ không hề biết tí gì về những quán cơm tù. Biết mà vẫn cho xe đậu lại vì họ có lợi ích trong việc làm này: hoặc là lợi ích trực tiếp hoặc là lợi ích của việc không bị gây phiền nhiễu trên đường.

    Sự thụ động của hành khách có thể cũng là một nguyên nhân khác. Các tên "cai tù" có thể ép buộc một vài hành khách, nhưng không thể ép buộc cả một xe khách. Rất tiếc, cả một xe khách chỉ là sự tập hợp lỏng lẻo của những hành khách riêng lẻ. Và những hành khách này đã không có ý thức tập hợp nhau lại thành một khối để bảo vệ lợi ích và nhân phẩm của mình.

    Cuối cùng, chính những người hành khách mới là lực lượng có thể làm nên sự khác biệt trong cuộc chiến chống nạn cơm tù. Cứ nghĩ mà xem, tất cả các chủ quán và "cai tù", tất cả các chủ xe và lái xe đều đang sống dựa vào các bạn chứ không phải là ngược lại, vậy thì, hãy sử dụng quyền lựa chọn của mình để trừng phạt bất cứ chủ quán, chủ xe vô lương tâm nào. Điều quan trọng là hãy kết hợp với các cơ quan báo chí (như báo Tuổi trẻ chẳng hạn) để cung cấp thông tin thật rộng rãi về các quán cơm tù và các xe khách có liên quan. Bộ Giao thông Vận tải cũng nên góp sức vào chiến dịch truyền thông này, biết đâu đây sẽ chẳng là việc làm hữu ích hơn các quy định rối rắm và bất khả thi khác.

    13. Nước

    Nước là một thực thể trong thiên nhiên và là một vấn đề trong các thành phố của chúng ta. Bản chất của vấn đề này là: nước lúc thiếu, lúc thừa - thiếu lúc ở trong nhà và thừa lúc ở ngoài đường.

    Cứ mưa xuống lại thương lời một bài hát quen thuộc: "em đến thăm anh một chiều mưa". Tại sao lại cứ phải chọn một chiều mưa để đến thăm nhau? Ai chẳng biết một chiều mưa là một chiều nước ngập, đường phố có thể biến thành sông mà đã thế thì cái chuyện "quên đường về" (như lời của bài hát) là đương nhiên, là chuyện văn xuôi, đời thường, chuyện không có gì lãng mạn.

    Để khắc phục tình trạng ngập lụt, chúng ta đã tìm cách nâng cao các đường phố. Tôn cho đường "cao, cao mãi" là cách chống ngập, lụt dễ thấy hiện nay. Cách làm này thoạt đầu thấy có lý nhưng cứ nghĩ cho kỹ thì không khỏi băn khoăn. Lý do là: bèo nổi theo nước, nước nổi theo đường. Đường cứ cao lên mãi thì nước chỉ còn có cách là chảy vào nhà của chúng ta mà thôi. Không biết có nên làm ngược lại là đào rộng, khơi sâu hệ thống thoát nước không? Có thể, đây là việc làm khó khăn, nhưng sẽ cơ bản hơn nhiều. Ngoài ra, cũng cần coi xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng là một phần của việc xây nhà và nó là cái phần cần phải làm trước.

    Điều đáng phấn khởi về việc thừa nước ở ngoài đường là nó xảy ra không thường xuyên như việc thiếu nước ở trong nhà. Dưới thời bao cấp, chúng ta đã từng phải đối mặt với tình trạng: "Ban đêm cả nhà lo việc nước, ban ngày cả nước lo việc nhà." Hiện nay, ban ngày không biết cả nước có còn lo việc nhà nữa không, nhưng ban đêm cả nhà lo việc nước thì vẫn còn xảy ra ở rất nhiều nơi. Thật ra, đây là một sự lỗi nhịp so với thời cuộc. Từ khi chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường, việc bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như thế nào là vấn đề của mọi vấn đề. Và thị trường, như chiếc đũa thần, đã biến mọi người tiêu dùng thành "thượng đế". Tuy nhiên, bạn chớ nên tin mình là "thượng đế" của các nhà cung cấp nước sạch. Trong lĩnh vực này, có vẻ như nước đang chảy theo chiều ngược lại với thời gian. Lý do là cơ chế thị trường vẫn còn chưa làm sao vận hành được trong lĩnh vực này (và nhiều lĩnh vực dịch vụ công khác). Mọi động lực của lợi nhuận và cạnh tranh đều chết chìm trong sự độc quyền. Bạn và tôi đang sống trong một ốc đảo mà quan hệ giữa những người cung ứng dịch vụ và những người tiêu dùng vẫn còn vận hành theo cơ chế "Bắt phanh trần phải phanh trần - Cho may ô mới được phần may ô", hoàn toàn không tồn tại bất kỳ một sự cạnh tranh nào cả!

    Thực ra, trong mọi công việc, nếu không chấp nhận cơ chế thị trường, bạn buộc lòng phải áp đặt cơ chế trách nhiệm. Ở ta, hệ thống cung cấp nước sạch vẫn thích chảy thì chảy, thích không thì không, nên có lẽ, cơ chế trách nhiệm đang có vấn đề.

    Thiết nghĩ, nếu chúng ta có vẻ như đang thất bại trong việc xác lập chế độ trách nhiệm, thì cũng nên nghĩ đến cơ chế lợi nhuận và thị trường. Ở các nước, như Anh và Pháp chẳng hạn, toàn bộ dịch vụ cung cấp nước sạch là do các công ty tư nhân đảm nhiệm, thế nhưng, không thể cho rằng người dân ở đó được cung cấp nước sạch tồi hơn ở ta. Điều đáng mừng là ở ta các công ty tư nhân cũng đã bắt đầu được phép kinh doanh dịch vụ cung cấp nước sạch. Cho dù mới chỉ là bước làm thí điểm, đây vẫn là tín hiệu đáng mừng. Biết đâu sắp tới, cơ chế thị trường lại không biến chúng ta thành những "thượng đế" không chỉ thực quyền hơn, mà còn sạch sẽ, thơm tho hơn.

    14. Nhà ống

    "Vợ già, nhà ống" là một sự tấm tức ở đời. Tuy nhiên, vợ già chưa chắc đã là một khuyết điểm: "Có phúc lấy được vợ già, vừa sạch cửa nhà lại dẻo cơm canh." Ngoài ra, thời gian ban tặng tuổi tác giống như cô phụ trách Đội chia kẹo Trung thu, ít có lý do để tin rằng vợ sẽ được phần nhiều hơn.

    So với vợ già, nhà ống là điều khó an ủi chúng ta hơn. Tại sao con người đã mất công từ bỏ hang lại chỉ để chui vào ống sau một quá trình tiến hóa dài dòng như vậy? Câu trả lời là tại vì chính sách đất đai nan giải của chúng ta. Nhà ống là hệ quả tất yếu của chính sách hạn chế diện tích đất cấp cho việc xây nhà ở trong nội đô. Cụ thể, nhiều thành phố đã hạn chế diện tích này ở mức tối đa là không quá 60 m2 cho mỗi hộ gia đình. Điều luật này còn rất hay ở chỗ: nó chỉ hạn chế mức tối đa, nhưng lại mở ra khả năng vô tận cho mức tối thiểu. Hậu quả là hàng loạt các ngôi nhà đã được xây cất trên những miếng đất chỉ rộng từ 30 - 35 m2, thậm chí chỉ 15 m2. "Sự năng động, sáng tạo" này đến lượt mình đã biến nhiều khu phố của chúng ta thành những khối bê tông nham nhở như bề mặt sao Hỏa. (Tin hay không thì tùy nhưng một trong những lý do giải thích tại sao sự sống không thể tồn tại ở trên sao Hỏa là vì nó quá nham nhở.)

    Với một miếng đất dưới 60 m2, lại có mặt tiền rất hẹp (vào khoảng 4 m), bạn chỉ có thể xây được một chiếc nhà ống. Một nét đặc trưng của nhà ống là nó chỉ có một mặt không gian ở phía trước: phía sau, gối lưng với một chiếc nhà ống khác; và hai bên, kề hông với hai chiếc nhà ống tương tự. Hậu quả tất yếu là rất ít ánh sáng tự nhiên và không khí. Toàn bộ hy vọng về những ngày tươi sáng của đời người chỉ còn biết trông chờ vào ngành điện lực. Mất điện, nhà ống sẽ chẳng khác gì hang; mà mất điện là điều rất có thể xảy ra.

    Thiết kế một ngôi nhà ống cho đẹp thật sự là một "sứ mệnh không thể". Với 4 mét mặt tiền chật hẹp, thiên tài kiến trúc chỉ còn mỗi một cơ hội để thể hiện là làm khung nhôm kính và ốp đá mặt tiền như thế nào. Tuy nhiên, như thế nào thì các ngôi nhà ống cũng không thể có bản sắc kiến trúc và văn hóa riêng của mình. Chúng giống nhau như một mớ khoai tây: củ nào cũng như củ nào không tròn, không méo đều đều như nhau. Để thoát khỏi sự đơn điệu ngột ngạt và tẻ ngắt, nhiều gia chủ đã tìm cách cắm cho ngôi nhà của mình một chiếc mũi Buratino màu cà chua và chổng ngược lên trời (phía ấy còn chưa bị vướng)... tạo nên nỗi buồn không thể an ủi được của "Em ơi, Hà Nội chóp".

    Từ một căn hộ tập thể 24 - 28 m2 trong thời kỳ bao cấp tiến tới một miếng đất xây nhà 60 m2 là một bước tiến dài. Tuy nhiên, có vẻ như nó chưa đủ dài để không biến các khu phố mới của chúng ta thành bề mặt sao Hỏa, mà hai ngôi sao Hỏa cho một hệ Mặt Trời chắc chắn sẽ là quá nhiều. Trong tương lai, nếu những ngôi nhà ống bị con cháu của chúng ta phá bỏ thì đó sẽ là điều hoàn toàn dễ hiểu. Tuy nhiên, toàn bộ sự không may nằm ở chỗ: thay vì những di sản kiến trúc và văn hóa, chúng ta chỉ để lại cho hậu thế những chi phí phát sinh và sự bực mình.

    Có lẽ, cách tốt hơn là chúng ta nên xem xét lại chủ trương hạn chế diện tích xây nhà trong phố. Nghĩa là, thay vì chính sách hạn chế mức tối đa, nên chăng chấp nhận chính sách hạn chế mức tối thiểu. Những người muốn xây dựng nhà ở tư phải đủ khả năng trang trải chi phí cho tối thiểu là 400 m2 đất chẳng hạn. Những người không có đủ khả năng sẽ phải lựa chọn phương án ở nhà chung cư cao tầng. Thuế bất động sản được đánh ở mức hợp lý sẽ tạo điều kiện cho Nhà nước có thêm nguồn thu để hỗ trợ các chương trình nhà ở cho người nghèo. Với một chính sách như vậy, các khu phố mới của chúng ta chắc chắn sẽ đẹp đẽ và khang trang hơn.

    Trong lúc phong trào nhà ống ở thành phố chưa có dấu hiệu thoái lui, thì hiện tượng này đang từ một sự cần thiết trở thành một thứ mốt của người đời. Những người nông dân sống ở ven đô hoặc gần các con đường liên tỉnh, liên huyện, liên thôn các loại đang phá bỏ những ngôi nhà truyền thống với vườn cây, ao cá để vươn ra mặt đường xây những chiếc nhà ống của mình. Hiệu ứng domino này mới là điều thật sự đáng quan ngại. Không khéo, sự vô vọng của các khu nhà ống sẽ được nhân rộng ra một cách vô tận trong phạm vi cả nước.

    Để khắc phục hiện tượng này, bên cạnh một chính sách đất đai phù hợp, đòi hỏi phải có một chiến dịch truyền thông hữu hiệu và vấn đề không thể giải quyết được trong ngày một, ngày hai.

    15. Phố cổ với thời gian

    Thời gian vừa mang đến, vừa lấy đi giá trị của mọi vật. Đây là một quy luật mập mờ, một sự thật nằm ở bờ rìa của linh cảm và nhận thức. Đại loại, cái mới thường hơn cái cũ, nhưng lại kém cái rất cũ (cổ). Mọi cái mới đều trở thành cũ. Mọi cái cũ lại không nhất thiết đều trở thành cổ. Cái gì cổ thì thời gian càng ngày càng làm cho có giá. Cái gì cũ thì bị hành xử theo cách ngược lại.

    36 phố phường của Hà Nội là cổ (hoặc ít nhất đã từng là cổ trước khi bị biến thành cũ bởi lối sửa chữa, cơi nới hoàn toàn "tùy hứng qua cầu"). Tất cả "em ơi, Hà Nội chóp" cho dù mới xây dựng đều cũ một cách vô vọng. Các phố cổ sẽ thu hút khách du lịch; nhưng phố cũ thì không. (Công bằng mà nói, mọi loại phố, loại nhà ở Hà Nội đều đang rất có giá (mặc dù không nhất thiết phải có giá trị). Những cơn sốt triền miên đã liên tục đẩy giá nhà đất ở Thủ đô lên tận mây xanh và cứ sau một đêm ngủ dậy, đất nước ta lại có thêm những nhà tỷ phú. Thế nhưng, sự giàu có này của một cá nhân, cũng như của cả xã hội có khi chỉ là thứ bong bóng xà phòng, vì nó không phản ánh giá trị thực của khối bất động sản mà chúng ta đang có, một khối bất động sản "tân cổ giao duyên", Tây Tàu lẫn lộn và không được quy hoạch đến nơi, đến chốn. Quả bong bóng xà phòng có thể nổ tung vào một ngày đẹp trời và gây ra những hậu họa khôn lường.

    Trở lại với phố cổ, giá trị của các phố cổ là giá trị của thời gian lắng đọng ở những mái ngói, những bức tường rêu phong của chúng. Họa sĩ nổi tiếng của các phố cổ Hà Nội Bùi Xuân Phái đã từng nhận xét là trong sự rêu phong cổ kính có "màu thời gian". Thời gian cũng đã làm cho các bức tranh "phố Phái" càng ngày càng có giá trị (từ chỗ mỗi bức chỉ đổi được vài lạng cà phê, dăm bao thuốc lá dưới thời bao cấp, đến chỗ mỗi bức là cả một gia tài). Tuy nhiên, thời gian đã làm điều này quá chậm đối với cá nhân nhà họa sĩ tài năng.

    Phố cổ Hà Nội là một trong những tài sản lớn nhất của Thủ đô. Thời gian đáng ra phải mang lại giá trị ngày càng lớn hơn cho phố cổ thì lại đang biến nhiều nơi trong đó thành những thứ nửa mới nửa cũ chẳng có giá trị gì. Điều này thật đáng buồn biết bao nhiêu! Vậy thì, chúng ta hãy làm tất cả để trả lại "màu thời gian" cho phố cổ. Đây là sứ mệnh của chúng ta đối với tương lai.

    16. Hà Nội là của ai?

    Tất nhiên, là "Thủ đô yêu dấu của chúng ta". Điều này càng đúng hơn khi chính quyền thành phố đồng ý từ bỏ chủ trương: "có hộ khẩu mới được đăng ký nhà ở, và có nhà ở mới được đăng ký hộ khẩu", một chủ trương đã làm héo hắt ước mơ của nhiều người dân trong nước, nhưng... "ngoại tỉnh" về việc sở hữu nhà ở ở Thủ đô.

    Sau Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã từ bỏ những quy định tương tự của mình. Và thành phố "rực rỡ tên vàng" này cũng đang trở thành thành phố của mọi công dân đất Việt.

    Thực ra, quyền có nhà ở là quyền hiến định của các công dân. Điều 58, Hiến pháp năm 1992 không chỉ quy định về việc công dân có quyền sở hữu nhà ở, mà còn quy định về nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo hộ quyền sở hữu của công dân. Vậy thì cấp sổ đỏ là việc cần cho cơ quan quản lý không kém gì so với việc cần cho các công dân. Cứ nghĩ mà xem, nếu Nhà nước không có điều kiện để biết được nhà nào là của ai thì làm sao mà bảo hộ?

    Trên thực tế, quyền sở hữu nhà ở của công dân là không thể ngăn cản bằng các quy định hành chính. Quyền sở hữu này được cấu thành từ ba quyền gốc: 1. Quyền được hưởng lợi tức do tài sản mang lại. 2. Quyền chuyển nhượng. 3. Quyền quản lý. Khi người chủ sở hữu thực hiện quyền thứ hai (chuyển nhượng) của mình thì một ông chủ mới sẽ xuất hiện. Và điều này rất ít khi phụ thuộc vào ý chí của cơ quan quản lý. Thế nhưng, về mặt pháp lý, quyền sở hữu của ông chủ mới sẽ đương nhiên được xác lập sau khi hợp đồng mua bán, tặng cho được hoàn thành. Quyển sổ đỏ trong trường hợp này chỉ là hành vi hành chính xác nhận việc chuyển giao tài sản đã xảy ra trên thực tế và đã hoàn thành trước đó mà thôi.

    Công bằng mà nói, Hà Nội cũng như Thành phố Hồ Chí Minh đang phải chịu một sức ép rất lớn trước việc gia tăng dân số cơ học. Hệ thống cơ sở hạ tầng chỉ được quy hoạch cho một số lượng dân cư nhất định đang bị quá tải hết sức nghiêm trọng vì hiện tượng nhập cư. Tuy nhiên, sự gia tăng dân số cơ học thì vẫn có thể là sự gia tăng "tự nhiên". Điều này xảy ra do sự thôi thúc của các quy luật kinh tế, chứ không hẳn là vì sự hấp dẫn của thị trường nhà đất ở Thủ đô. Kinh tế của Hà Nội đang phát triển, và thành phố đang cần những lao động nhập cư. Trên thực tế, không ai có thể di cư đến nơi không tìm được việc làm, đặc biệt là trong trường hợp hệ thống phúc lợi xã hội kém phát triển như ở nước ta. Về cơ bản, người lao động nhập cư đã tìm được việc làm vì người dân Hà Nội không chọn những công việc đó.

    Dùng biện pháp không đăng ký nhà ở để hạn chế nhập cư là một việc làm khó khăn. Điều dễ nhận thấy là những người lao động nhập cư ít có khả năng mua được nhà ở. Phần lớn những người này phải tá túc trong những căn nhà cho thuê lụp xụp hoặc thậm chí bên hè phố. Vì vậy, một chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho những người nhập cư có được cuộc sống dễ chịu hơn là rất quan trọng. Suy cho cùng, chất lượng sức khỏe của đội ngũ lao động này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của Hà Nội. (Điều này cũng đã được nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải nêu ra khi phát biểu với các vị đại biểu Hội đồng nhân dân Hà Nội.)

    Một số người tỏ ra băn khoăn về việc nếu cấp sổ đỏ là dễ dàng, các quan chức tham nhũng ở địa phương sẽ kéo về Hà Nội mua nhà và đẩy giá cả lên cao. Điều này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho chính quyền và nhân dân Thủ đô. Băn khoăn nói trên là có cơ sở, nhưng chỉ đúng một phần. Giá nhà đất cao bất thường hiện nay do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó việc quan chức các tỉnh đua nhau mua nhà ở Hà Nội có thể là một trong những nguyên nhân như vậy. Tuy nhiên, để khắc phục hiện tượng tiêu cực này, điều quan trọng là phải chống tham nhũng, chứ không phải là hạn chế quyền của người dân.

    Cuối cùng, việc Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã từ bỏ những hạn chế về đăng ký nhà ở không chỉ là một tin vui cho những người dân, mà còn là một bước tiến mới của pháp quyền. Các quy định của Hiến pháp đang được tuân thủ trên đất nước ta.

    17. "Chân bước đi xa, quyền còn để lại"

    Trong những năm gần đây, mỗi năm, hàng chục vạn cư dân nông thôn đã đổ về thành phố để tìm kiếm việc làm và mưu cầu một cuộc sống khấm khá hơn. Đây có vẻ như là một xu hướng tất yếu của quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra trên đất nước ta. Mặc dù vậy, xu hướng ly nông vẫn là một hiện tượng hết sức đa nghĩa và là một bài toán hóc búa cho các nhà hoạch định chính sách.

    Trước hết, ở cái nghĩa tích cực, xu hướng ly nông giúp cho quá trình tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp có thể xảy ra. Thiếu một quá trình như vậy, nền nông nghiệp nước ta sẽ không thể cạnh tranh được với thế giới. Trong lúc ở các nước phát triển chỉ có 2 - 3% dân số làm nông nghiệp, thì ở nước ta tỷ lệ này là trên 70%. Với một tỷ lệ như vậy, ruộng đất có thể chia được cho các gia đình nông dân là rất nhỏ bé. Ruộng đất nhỏ bé thì lại không áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất được. Những thửa ruộng nhỏ lẻ, manh mún chỉ có thể vắt kiệt mồ hôi của những người nông dân, chứ khó có thể mang lại sự giàu có cho họ. Hơn thế nữa, sự chênh lệch quá lớn về năng suất lao động so với các nước khác chính là rủi ro khôn cùng cho những người nông dân trong quá trình hội nhập. (Những người nông dân Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với một rủi ro như vậy, sau khi nước này gia nhập WTO.)

    Hai là, xu thế ly nông đang giúp cho đất đai được chuyển dịch vào tay những người có khả năng sử dụng đất đai hiệu quả hơn. Đây là điều cần thiết không chỉ để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mà còn để việc sử dụng nguồn nhân lực nói chung của đất nước đạt hiệu quả cao hơn. Rõ ràng, những người có năng khiếu hơn về nghề thủ công, về nghề buôn, về nghề làm dịch vụ... thì không nên bị bắt buộc phải làm ruộng suốt đời để bị thiếu đói suốt đời.

    Ba là, xu thế ly nông đang góp phần cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho các khu công nghiệp đang mọc lên ngày càng nhiều trên đất nước ta. Đồng thời, nó cũng góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và bán thất nghiệp xảy ra rất lớn ở nông thôn. Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cho phát triển đã và đang được cảm nhận ngày càng rõ hơn ở khắp tất cả các khu công nghiệp trong cả nước. Tình trạng này sẽ ngày càng trầm trọng hơn nếu nguồn lao động từ nông nghiệp không được giải phóng để bổ sung kịp thời.

    Ở cái nghĩa tiêu cực, trước hết, xu thế ly nông có thể gắn với hiện tượng nông dân bị mất đất - ly nông không phải là một sự lựa chọn tự do, mà là bước đường cùng của những người thất cơ, lỡ vận. Những người nông dân vừa bị mất đất, vừa không có nghề sẽ nhanh chóng rơi vào cảnh đói nghèo.

    Hai là, việc nhập cư ào ạt vào các thành phố lớn đang làm cho hạ tầng cơ sở của các thành phố này bị quá tải. Tình hình trật tự, an ninh, an toàn giao thông và văn minh đô thị cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Tuy nhiên, các công cụ mà chính quyền của các thành phố có để phản ứng lại với xu thế này là không nhiều, ngoại trừ chế độ quản lý theo hộ khẩu.

    Xét từ góc độ của các thành phổ, việc áp dụng chế độ quản lý theo hộ khẩu là hoàn toàn có thể biện minh được. Tuy nhiên, xét từ góc độ lợi ích quốc gia, bảo đảm cho quá trình nhập cư và đô thị hóa diễn ra dễ dàng lại có vẻ quan trọng hơn. Và việc bảo đảm cho mọi công dân đều được hưởng các quyền của mình có vẻ lại còn quan trọng hơn nữa. Vấn đề đặt ra là rất nhiều trong số các quyền này lại phụ thuộc vào hộ khẩu. Ví dụ, quyền tiếp cận các dịch vụ công, quyền đăng ký xe ô tô, xe máy, quyền học hành, v.v... đều khó thực hiện được nếu thiếu hộ khẩu. Và đây chính là tình cảnh "chân bước đi xa, quyền còn để lại" mà những người rời bỏ nông thôn đến lập nghiệp ở các đô thị đang phải đối mặt. Mà họ phải đối mặt nghĩa là sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đang phải đối mặt.

    18. Công nghệ thông tin và truyền thông: vấn đề nhận thức

    Ở nước ta, công nghệ thông tin đang thực sự là một thứ mốt thời thượng. Sự nghiệp "tin học hóa" được triển khai rầm rộ không thua kém gì phong trào bình dân học vụ trước đây. Tuy nhiên, phong trào bình dân học vụ có vẻ thiết thực hơn: nó nhắm vào những nhu cầu có thực và những mục tiêu được xác định rõ ràng. Với "phong trào công nghệ thông tin", những điều ở cấp "bình dân học vụ" như vậy không phải bao giờ cũng được làm rõ. Xã hội ta đang đối mặt với các công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), giống như Alibaba đứng trước kho báu. Chỉ có điều, Alibaba thì có câu thần chú "Vừng ơi, hãy mở ra!", còn xã hội ta hình như vẫn loay hoay trước cánh cửa im im đóng.

    Tuy nhiên, câu thần chú để mở kho báu ICT lại không thể nghe lén từ một lão phù thủy nào đó, nó nằm ngay trong nhận thức (vision) của chúng ta. Vậy thì, nội dung của nhận thức về ICT bao gồm những vấn đề gì?

    Trước hết, chúng ta chỉ quen nói tới công nghệ thông tin (Information Technology = IT) hoặc tin học, trong lúc đó thế giới lại chủ yếu nói về các công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technologies = ICT). Thông tin không gắn với truyền thông thì chẳng khác gì hàng hóa không gắn với việc phân phối trên thị trường. Vậy thì, thế giới tỏ ra có lý hơn: ICT chứ không phải chỉ IT là thứ có thể tạo ra động lực cho phát triển. Và, đó xin được coi là nội dung khởi đầu của nhận thức.

    Hai là, ICT là để thông tin và truyền thông, chứ không phải để làm điều ngược lại. Nếu chúng ta muốn xây dựng một xã hội khép kín và cát cứ thông tin, thì chớ nên làm bạn với ICT! ICT chắc chắn sẽ phản bội chúng ta, hoặc trong trường hợp ít xấu hơn, sẽ làm lãng phí tiền bạc của chúng ta. Đây xin được coi là nội dung quan trọng thứ hai của nhận thức (thứ hai là theo thứ tự được kể ra đây, chứ không phải theo mức độ quan trọng của vấn đề).

    Ba là, ICT có thể tạo ra động lực cho sự phát triển vì các tính năng ưu việt của chúng. Các tính năng này tồn tại khách quan. Chúng ta chỉ có thể tận dụng các tính năng này phục vụ cho các mục tiêu phát triển, chứ không thể bắt chúng phải thay đổi theo ý muốn chủ quan của mình. Đây là nội dung quan trọng thứ ba của nhận thức.

    Bốn là, nếu các tính năng của ICT không thể thay đổi, thì cách tổ chức công việc của chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi được. Và muốn tận dụng tối đa các tính năng ưu việt của ICT, chúng ta cần phải thay đổi cách thức tổ chức, điều hành công việc của mình cho phù hợp. Đây là nội dung quan trọng thứ tư của nhận thức.

    Bước tiếp theo của nhận thức sẽ dẫn chúng ta đến với các tính năng ưu việt của ICT. Dưới đây xin được liệt kê tám tính năng ưu việt chủ yếu của ICT:

    1. ICT có khả năng lan tỏa rộng khắp và đa năng. Có thể áp dụng ICT cho rất nhiều hoạt động của con người từ nhu cầu cá nhân, đến việc kinh doanh và công việc của Nhà nước.

    2. ICT là nhân tố cơ bản để xây dựng các mạng và cho phép những người kết nối mạng hưởng lợi ngày càng tăng khi việc sử dụng mạng ngày càng được mở rộng.

    3. ICT thúc đẩy việc phổ biến thông tin và tri thức bằng cách tách nội dung ra khỏi vị trí địa lý của chúng. Dòng chảy của thông tin vượt qua mọi sự ngăn cách địa lý, cho phép những cộng đồng dân cư ở vùng sâu, vùng xa hội nhập với mạng toàn cầu và làm cho thông tin, tri thức, văn hóa trở nên tiếp cận được về lý thuyết đối với mọi cá nhân.

    4. Bản chất "số" (digital) và "thực tế ảo" (virtual) của nhiều sản phẩm và dịch vụ ICT cho phép có được mức chi phí bằng 0 hoặc rất nhỏ bé. Việc nhân bản nội dung sẽ gần như là miễn phí bất kể dung lượng lớn bao nhiêu; chi phí phân phối và truyền thông cũng gần như bằng không. Kết quả là ICT có thể cắt giảm đến tối thiểu chi phí giao dịch.

    5. Khả năng lưu trữ, gọi ra, sắp xếp, lọc, phân phối và chia sẻ thông tin liên tục của ICT có thể dẫn tới những lợi ích lớn trong hoạt động quản lý, cũng như trong việc sản xuất, phân phối và chiếm lĩnh thị trường. ICT có thể sắp xếp các công đoạn của quy trình công việc, của sản xuất và cung ứng và làm cho quy trình ban hành quyết định, quy trình kinh doanh và giao dịch nhanh chóng và hiệu quả hơn.

    6. Do tính hiệu quả được nâng cao và chi phí được giảm thiểu, ICT là động lực thúc đẩy sự sáng tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, cũng như các kênh cung ứng mới cho các ngành công nghiệp truyền thống, cũng như các loại hình kinh doanh sáng tạo, các ngành công nghiệp mới. Ngoài ra, trong nền kinh tế mới, các tài sản vô hình, đặc biệt là tư bản trí tuệ đang ngày càng là nguồn giá trị cơ bản. Với nền kinh tế này, đầu tư ban đầu chỉ bằng một phần rất nhỏ so với đầu tư trong nền kinh tế dựa vào tài sản hữu hình. Hệ quả tiếp theo là các rào cản sẽ được cắt giảm đối với việc tham gia kinh doanh, đổng thời cạnh tranh sẽ được tăng cường.

    7. ICT hỗ trợ việc cắt giảm các khâu trung gian, chúng cho phép người dân tiếp cận trực tiếp được với các cơ quan chức năng; khách hàng nhận được sản phẩm và dịch vụ trực tiếp từ nhà cung ứng gốc. Đây không chỉ là nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh, mà còn tạo ra cái gọi là "thị trường cho mỗi khách hàng", "chính quyền cho mỗi người dân", nghĩa là các tiềm năng của ICT được khai thác để đáp ứng nhu cầu và sở thích của các công dân, khách hàng trên cơ sở từng cá nhân một.

    8. ICT mang tính toàn cầu. Bằng cách tạo ra và mở rộng các mạng, ICT có thể vượt qua mọi sự ngăn cách về văn hóa và địa lý, tạo cơ hội cho mọi cá nhân và cộng đồng, bất luận họ sống ở nơi đâu trên Trái đất, trở thành một phần hữu cơ của mạng kinh tế toàn cầu. Đây đồng thời là một thách thức đối với hệ thống chính sách, pháp luật và cấu trúc quan hệ giữa các quốc gia hiện nay.

    Các tính năng này của ICT đối với chúng ta chẳng khác gì nguồn lợi hải sản vô tận trong lòng đại dương. Đại dương hứa hẹn rất nhiều điều, nhưng cũng rất dễ dàng thất hứa. Mỗi cách tiếp cận ICT trong việc hoạch định chính sách phát triển đều có những ưu điểm và những nhược điểm nhất định. Dưới đây là một vài cách tiếp cận mà chúng ta có thể tham khảo:

    Một là, phát triển ICT nhằm mục đích xuất khẩu (như mục tiêu xuất khẩu 500 triệu USD phần mềm của nước ta chẳng hạn). Cách tiếp cận này có thể mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể, như sự tăng trưởng và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, những thành tựu như vậy không đương nhiên dẫn tới sự phát triển chung cho cả xã hội. Với các trung tâm công nghệ cao và các loại phần mềm, đường cày của những người nông dân sẽ chẳng bớt nhọc nhằn hơn được chút nào. Ví dụ cụ thể về việc phát triển ICT định hướng xuất khẩu là trường hợp của Costa Rica và Đài Loan.

    Hai là, phát triển năng lực sản xuất các sản phẩm ICT trong nước. Cách làm này có thể đáp ứng nhu cầu nội địa, củng cố các mối quan hệ kinh tế trong nước, tuy nhiên, không sớm thì muộn, nó sẽ hạn chế khả năng tiếp nhận công nghệ mới và làm giảm ưu thế cạnh tranh của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Trong ICT không thể có vinh quang cho cả đời người. Sản phẩm mới liên tục xuất hiện trên thế giới, và nền sản xuất trong nước, trong đa số các trường hợp, không đuổi theo kịp. Ví dụ cụ thể về việc sản xuất các sản phẩm ICT trong nước là trường hợp của Brazil, Ấn Độ, Hàn Quốc.

    Ba là, sử dụng ICT như động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Cách tiếp cận này lại có thể chia được ra thành hai loại:

    1. Sử dụng ICT để tái định vị nền kinh tế quốc dân nhằm bảo đảm ưu thế cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Ví dụ, Malaysia, Tobago.

    2. Sử dụng ICT để theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Ví dụ, Nam Phi, Estonia.

    Cách tiếp cận cuối cùng (3.2.) có vẻ phù hợp nhất đối với nước ta. Tuy nhiên, đây là cách khó nhất vì rằng mọi chuyện không chỉ nằm ở ICT, mà ở khả năng sử dụng chúng như "đôi đũa thần" để tạo nên sự biến đổi kỳ diệu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo cách tiếp cận này, có năm loại công việc cần làm: a. Xây dựng cơ sở hạ tầng ICT. b. Phát triển nhân lực. c. Xây dựng hệ thống chính sách phù hợp. d. Tạo động lực kinh doanh. e. Bảo đảm nội dung thông tin và các ứng dụng thiết thực. (Xem: Báo cáo "Creating a Development Dynamic" năm 2001 của Accenture, Markle Foundation và UNDP). Trên đây là những phần cấu thành của khái niệm khung về phương pháp tiếp cận ICT như một nhân tố để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Và như vậy, chúng không hoàn toàn nằm trong phạm vi của bài viết này.

    Cuối cùng, nhận thức là thứ không thấy và không sờ được, tuy nhiên, thiếu nó, những thứ thấy được và sờ được cứ rối tinh, rối mù lên. Chúng ta đều biết, nhận thức là sản phẩm quan trọng nhất của tư duy mà tư duy lại chính là cuộc sống của con người. Một triết gia đã từng khẳng định: "Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại." Liên quan đến ICT, chỉ xin được bổ sung thêm một chút như sau: "Tôi tư duy như thế nào nghĩa là tôi tồn tại như thế ấy."

    19. "Xuất khẩu" cô dâu

    Cô dâu không bao giờ là một món hàng. Dịch vụ môi giới hôn nhân thì lại có thể là một thứ như vậy. Tuy nhiên, với cách làm nửa kín, nửa hở như hiện nay, nhiều trẻ đang bị biến thành những món hàng, và dịch vụ môi giới hôn nhân - thành một kiểu buôn người.

    Thị trường dịch vụ là một phần của thị trường. Nó hình thành do con người có nhu cầu, chứ không nhất thiết là do Nhà nước có chính sách. Vấn đề đặt ra là: hoặc chúng ta công nhận nó để quản lý nó, hoặc chúng ta cấm đoán nó để thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi và phẩm giá của những cô gái trẻ Việt Nam.

    Nhu cầu lấy chồng Đài Loan, buồn thay, là một thứ nhu cầu có thật. Chúng ta có thể sử dụng các quy phạm đạo đức để soi xét và tìm ra rất nhiều điều cần bị phê phán ở đây. Thế nhưng ai trong số chúng ta có thể hứa được với những cô gái trẻ nghèo khó của miệt vườn một sự lựa chọn tốt hơn? Một cuộc sống đầu tắt, mặt tối với những ông chồng suốt ngày nhậu nhẹt và say xỉn là tất cả những gì đang chờ đón những cô gái này ở Việt Nam. Vẫn biết, làm thê thiếp ở đất khách quê người là rất cực nhục nhưng tại sao các cô gái trẻ vẫn tiếp tục tìm cách ra đi? "Người no không hiểu lòng kẻ đói", chắc gì chúng ta đã thấu hiểu được nỗi lòng của những cô gái bị nghèo khổ và túng quẫn đẩy đến bước đường cùng? Một điều có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu những cô gái trẻ vẫn còn tiếp tục ra đi thì đó vẫn đang là sự lựa chọn tốt hơn cho đa số những cô gái này.

    Giữ lại cho mình những cô gái trẻ của Đồng bằng sông Cửu Long là lợi ích và danh dự của những chàng trai người Việt. Tuy nhiên, muốn như vậy, họ sẽ phải làm được nhiều hơn so với bây giờ. Trước hết, họ phải biết làm cho cuộc sống ở những miền quê nghèo khó trở nên tốt đẹp hơn, đồng thời, phải từ bỏ lối sống rượu chè bê tha, và phải học cách yêu thương, trân trọng vợ. Người phụ nữ có thể chấp nhận những khó khăn về vật chất, nhưng khó lòng chấp nhận cùng một lúc cả sự thiếu hụt về tình nghĩa vợ chồng.

    Làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp, cũng như thay đổi lối sống của con người là điều không dễ. Và trước khi điều đó xảy ra, để bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm cho những cô gái trẻ, cần hợp thức hóa và quản lý các dịch vụ môi giới hôn nhân. Nhà nước sẽ từ chối đăng ký kết hôn và cấp hộ chiếu cho bất kỳ ai tổ chức cưới chui, mà không thông qua các dịch vụ nói trên. Đồng thời, các công ty kinh doanh dịch vụ này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước về chế độ thông tin (cho các cô gái), về hình thức, thủ tục tổ chức cho hai bên gặp gỡ nhau, về quyền lựa chọn của những cô gái Việt Nam. Cứ nghĩ mà xem, tại sao ở ngay trên đất nước mình mà những người đàn ông Đài Loan có quyền lựa chọn, còn các cô gái trẻ Việt Nam lại không? Cho dù khả năng lựa chọn là không lớn, thì trong hai chú rể lớn tuổi vẫn có thể có một chú đáng yêu hơn.

    Cuối cùng, yêu đương và hôn nhân là quyền tự do của mỗi con người. Chúng ta sẽ cảm thấy thanh thản biết mấy khi các cô gái Việt lấy Tây, lấy Tàu là theo sự đòi hỏi của trái tim, chứ không phải theo sự thúc bách của đói nghèo. Tuy nhiên, muốn đạt được điều này, trước hết, chúng ta phải chiến thắng được đói nghèo trên đất nước Việt Nam.

    20. Quá trẻ

    Sự không may của những người quá trẻ nằm ở chỗ: Sau một thời gian, họ sẽ quá già. Nếu Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng có tuổi đời chỉ ngoài hai mươi, nếu nhạc sĩ Mozart sáng tác những bản nhạc bất hủ lúc mới 13 tuổi thì bao nhiêu tuổi là quá trẻ?

    Quá trẻ, vì vậy có thể chỉ là một cách cư xử hơn là một sự hạn chế của tuổi tác. Trong thể thao, không ai đưa ra lý do quá trẻ để loại bỏ một cầu thủ ra khỏi cuộc chơi. Và hình như nhờ đó mà chúng ta đã trở thành cường quốc thể thao hàng đầu khu vực Đông Nam Á sau Sea Games 22. Rất tiếc, những điều hoàn toàn sáng tỏ trong thể thao lại có vẻ không được thông suốt cho lắm trong những lĩnh vực khác.

    Trong cuộc sống, quá trẻ hoặc quá già, tồn tại chủ yếu trong cách cư xử. Tuy nhiên, cách cư xử ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội thành công của con người. Lớp trẻ hôm nay sẽ thành đạt hơn nếu quá trẻ không được coi là một dấu trừ trong quá trình đánh giá, lựa chọn, tuy nhiên, mọi sự đánh giá và lựa chọn đều ít nhiều mang tính ban ơn. Điều quan trọng hơn vẫn là bảo đảm một môi trường thuận lợi cho lớp trẻ thể hiện tài năng và sức sáng tạo của mình.

    Lòng tin là một trong những phần cấu thành của môi trường đó. Mỗi khi nghe các bạn trẻ hứa sẽ cố gắng phấn đấu để xứng đáng, chúng ta thật sự xúc động, nhưng cũng thật sự băn khoăn. Nếu thế hệ đi trước là những chuẩn mực không thể vượt qua, và lớp trẻ có phấn đấu cũng chỉ để xứng đáng mà thôi, thì chúng ta đang phát triển theo chiều hướng gì, đi lên hay đi xuống? Cha ông ta đã từng khẳng định: "Con hơn cha là nhà có phúc." Phúc phận lớn nhất của một dân tộc thể hiện ở niềm tin bất diệt rằng con cháu họ sẽ tài giỏi hơn.

    Một hệ thống giá trị được chấp nhận và chia sẻ giữa các thế hệ là phần cấu thành thứ hai của một môi trường thuận lợi. Người ta không thể ban hành một mệnh lệnh xuyên qua các thế hệ. Một mệnh lệnh như vậy, nếu có, phải được chuyển tải thông qua hệ thống giá trị được chia sẻ thực lòng. Chia sẻ thì không phải là áp đặt. Những gì không được khối óc và con tim chấp nhận thì không thể nối chặt các thế hệ với nhau. Một điều đang được các thế hệ chia sẻ nhưng chưa chắc đã là một giá trị hay, đó là tâm lý thích "làm quan". "Làm quan" là một sự thành đạt. Tuy nhiên, nếu coi đó là sự thành đạt quan trọng nhất và duy nhất thì cuộc sống sẽ chật hẹp biết chừng nào cho lớp trẻ. Một nhà thơ tài giỏi, một họa sĩ trứ danh sẽ trường tồn, một bộ trưởng sau ngày nghỉ hưu sẽ chẳng còn ai biết tới. Vậy thì tại sao lại phải quá hao tâm tổn lực cho chức tước như vậy? Chức tước là quan trọng, nhưng khẳng định tài năng và sự đóng góp của con người phải được coi là quan trọng hơn. Điều này hoàn toàn không dễ, nhưng sẽ là một sự giải thoát cần thiết để tài năng của lớp trẻ có thể bừng nở trong mọi lĩnh vực của đời sống hiện đại.

    Cơ hội bình đẳng cũng là một phần của môi trường thuận lợi. Trong thể thao, và một phần nào đó trong hoạt động kinh doanh, những người trẻ tuổi đã thành công, nguyên nhân chủ yếu là vì họ đã có cơ hội để làm điều đó. Nếu khả năng tiếp cận tri thức, tiếp cận vốn, tiếp cận quá trình ban hành quyết định được mở rộng hơn nữa, thì lớp trẻ chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội hơn để thành công.

    Cuối cùng, việc chàng sinh viên năm thứ hai Bill Gates bỏ học để lập nghiệp và trở thành người giàu có nhất hành tinh là điều do chính Bill Gates quyết định. Ở thời điểm cậu thanh niên Bill Gates quyết định thành lập Công ty Microsoft và phát triển hệ điều hành Windows, không ai nhìn xa trông rộng được như cậu ta. Các bạn trẻ hôm nay hãy là những Bill Gates của Việt Nam. Có nhiều việc sẽ không ai nhìn xa trông rộng được hơn các bạn. Và trong những công việc này, các bạn sẽ không bao giờ quá trẻ.

    21. Thế hệ @

    Thế hệ trẻ hôm nay đang được nhiều người gọi là thế hệ @, một thế hệ của thực tế ảo và những lo toan rất thực.

    Thực tế ảo là một thách thức. Những lo toan lại càng không phải là cơ hội.

    Các công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã làm thay đổi thế giới. Bên cạnh một thế giới vật lý, chúng ta đang có thêm một thế giới của thực tế ảo. Trong thế giới vật lý, việc kiếm tiền đang ngày càng trở nên khó khăn. Trong thế giới của thực tế ảo, cơ hội nhiều hơn, nhưng cũng mờ ảo hơn. Gắn với thực tế ảo là nền kinh tế tri thức. Đây là nền kinh tế dựa trên những căn bản vô hình: tư bản tri thức và tài sản phi vật thể. Có người còn gọi nền kinh tế này là canh bạc lớn với những luật chơi chỉ hình thành trong quá trình chơi. Ai đoán trước được luật chơi sẽ giàu có đến vô cùng, vô tận. Ai chỉ thấy mà không hiểu thì cố nhiên là thua "cháy túi". "Canh bạc phi vật thể" này, có lẽ, sẽ là nhiệm vụ quá sức đối với lớp người thuộc thế hệ cha anh.

    Tuy nhiên, thế hệ trẻ đã sẵn sàng để vào cuộc và giành phần thắng chưa?

    Có lẽ, đây là câu hỏi của lớp trẻ và cả của lớp không còn trẻ nữa. Lớp trẻ phải học, phải nhanh chóng nắm bắt được những quy luật của thời đại mới. Lớp không còn trẻ nữa cần tạo điều kiện tối đa để lớp trẻ vươn lên.

    Về những lo toan của thế hệ @, việc đói ăn, việc thiếu tiền và việc không đủ phương tiện để học tập có vẻ thường tồn tại bên nhau. Đã đói ăn thì thường không đủ tiền để học. Tình hình đặc biệt khó khăn đối với các bạn sinh viên xuất thân từ các gia đình nghèo. Tuy nhiên, làm sao bạn có thể là thành viên của thế hệ @ nếu Internet là một thứ vừa xa xỉ, vừa xa vời đối với bạn?! Có thể, các bạn sinh viên nghèo vẫn cần phải tiếp tục làm gia sư, phải bưng bê ở các nhà hàng để kiếm tiền ăn học, nhưng Nhà nước và xã hội cần tạo điều kiện tối đa cho những sinh viên này vượt qua sự phân cách về công nghệ số (digital divide) và tiếp cận Internet.

    Hỗ trợ, chăm lo cho thế hệ @ là hết sức quan trọng. Cuối cùng, các thế hệ không thể làm thay cho nhau, nhưng có thể đứng trên vai nhau để làm nên một đất nước khổng lồ.
lanphuongphan thích bài này.