12. thomas (done)

30/7/15
12. thomas (done)
  • Lý luận về công lý, đối lập ở mặt thứ hai với chủ nghĩa vị lợi ở chỗ trong khi chủ nghĩa vị lợi mở rộng ra toàn xã hội nguyên tắc lựa chọn thích hợp cho một cá nhân thì luận công như công bằng vốn là học thuyết về khế ước hội lại đặt ra nguyên tắc về lựa chọn và cho rằng chính bản thân nguyên tắc công lý cũng là đối tượng của một thỏa ước khởi thủy.

    Không chỉ đối lập với những người theo chủ nghĩa vị lợi mà cả với người theo chủ nghĩa thực chứng, những người tôn sùng quá đáng toán kinh tế.

    Rawls cho rằng việc lựa chọn các vấn đề nghiên cứu và các giả thuyết để thực hiện phải ở ngoài việc kiểm soát của toán kinh tế bởi vì chúng chứa đựng những phán đoán giá trị (những giá trị tinh thần) mà những phán xét chính trị đó không thể nào tách khỏi khoa chính trị. Rawls viết: “Những lựa chọn chung nhất trong số tất cả những lựa chọn mà người ta có thể làm được trong xã hội, chẳng hạn như những lựa chọn các nguyên lý đầu tiên xác định một quan điểm về công lý, quan điểm đó lại quyết định hết thảy mọi sự phê phán và sự cải cách sau này của các thiết chế”.

    Sự lựa chọn chính trị cuối cùng đã được xác định như thế cho nên Rawls đề nghị một phương sách đẩy lùi càng xa càng hay thời điểm cần thiết đưa ra những phán đoán giá trị. Rawls cho rằng phải xuất phát từ “vị thế khởi thủy” trong đó: “Không ai biết chỗ đứng của mình trong xã hội, vị trí giai cấp hoặc cương vị xã hội của mình giống như không ai biết số phận đã được dành cho mình như thế nào trong sự phân phối các năng lực và các năng khiếu thiên bẩm”.

    Giả thuyết xuất phát là một hoàn cảnh ở đó mọi người đều hoàn toàn bình đẳng, mọi người không hay biết gì về địa vị xã hội, về tư chất, về quan niệm của mình và xu hướng tâm lý của mình. Giả thuyết đó của "bức màn không hay biết” tương ứng với bức màn của tình trạng tự nhiên của những nhà lý luận về khế ước.

    Giả thuyết xuất phát về “vị thế khởi thủy” và “bức màn của sự không hay biết” là nội dung chính của lý luận về công lý và cũng đóng góp quan trọng nhất của Rawls về lý luận công lý. Tác giả đã thấy rõ tầm quan trọng có tính then chốt của giả thuyết trong nghiên cứu khoa học, đánh dấu sự trừu tượng cao của tư duy khoa học hiện đại.

    HAI NGUYÊN TẮC: TỰ DO VÀ CÔNG LÝ, NỀN MÓNG CỦA KHẾ ƯỚC XÃ HỘI

    Một khi con người đã được đặt vào một “vị thế khởi thủy” như thế thì sẽ có cơ may để tán đồng những nguyên tắc sau đây về công lý.

    - Nguyên tắc bình đẳng: mỗi người phải có quyền bình đẳng trong một hệ thống rộng lớn nhất của những tự do cơ bản ngang nhau cho mọi người.

    - Nguyên tắc chênh lệch: những bất bình đẳng phải được tổ chức sao cho: a) người ta có ý trông đợi rằng chúng sẽ mang lại thuận lợi cho mọi người và b) chúng được gắn liền với những địa vị và những chức năng được mở ra cho tất cả mọi người.

    - Khái niệm chủ thể hay khái niệm người mà trên đó dựa vào là không đồng nhất. Theo nguyên tắc thứ nhất, những con người là những chủ thể cá nhân đơn độc, không cộng đồng, có trước mọi xã hội. Còn nguyên tắc thứ hai, chúng đối lập với những chủ thể vững chắc hơn, tha thiết với sự sung túc cộng đồng, coi xã hội như một viễn cảnh sống. Đối với chủ nghĩa tự do, giá trị, sở hữu tài sản luôn luôn được coi là những thuộc tính ngoại lai chứ không như những yếu tố hợp thành của con người. Trái lại phải coi cá nhân như được xây dựng bởi một cộng đồng và bởi một lịch sử.

    Bất bình đẳng có thể tìm thấy được một hình thức chính đáng của nó: qua những kích thích mà nó tạo ra được, điều đó cho phép có thêm sản phẩm, thêm đổi mới... nhờ vậy tình cảnh của những người bất hạnh nhất cũng sẽ được khá lên chút ít so với trường hợp mà ở đó về hình thức thì có vẻ như bình đẳng hơn. Tự do chỉ có thể bị hạn định nhân danh chính bản thân tự do chứ không phải nhân danh sự thu hẹp cái bất bình đẳng.

    Thế nhưng trong thực tiễn phải làm cách nào để ứng dụng “lý luận về công lý như là công bằng” như đã nêu? Rawls trả lời rằng: trong ý thức, các cá nhân phải tự đặt mình trong một tình huống thuần túy giả định gọi là “vị thế khởi thủy” đã nói ở trên.

    Các nguyên tắc công lý mà cá nhân lựa chọn dưới “tấm màn không hiểu biết” này rõ ràng in đậm nét tình đoàn kết, thậm chí quan điểm bình quân chủ nghĩa.

    Rawls cho rằng đây chính là điều đã tạo lập tính ưu việt của bình đẳng dân chủ.

    Bình đẳng dân chủ là gì? Bình đẳng dân chủ khác các tổ chức chính trị khác. Có khả năng hình thành bốn tổ chức chính trị sau đây.

    Hệ thống tự do tự nhiên với một sự bình đẳng thuần túy hình thức về cơ hội, về các sự kích thích mạnh mẽ dẫn tới hiệu quả.

    Hệ thống quý tộc tự nhiên, trong đó vẫn có bình đẳng hình thức về cơ hội, đẳng cấp ngôi thứ, nhưng vì tư cách quý tộc mà phải làm; người ta chuẩn cấp ăn ở cho kẻ cùng khổ nhất.

    Hệ thống bình đẳng tự do (với một bình đẳng thực tế hơn về cơ hội sau cùng được thực hiện với một lý tưởng công lý thuần túy cá nhân rất gần với những điều diễn ra trong thi đấu thể thao) thực chất đó là một hệ thống không ổn định và sẽ dẫn tới chỗ thủ tiêu thiết chế gia đình.

    Cuối cùng là hệ thống bình đẳng dân chủ với bình đẳng thực tế về cơ hội và thái độ tôn trọng nguyên tắc chênh lệch; trong đó “chiếc bánh ga tô xã hội” không còn chỉ đem chia theo tỷ lệ của trình độ giỏi giang của từng người trong cuộc đua tranh căng thẳng trên thị trường lao động và của cải như trước kia nữa. Hệ thống bình đẳng dân chủ không trái ngược với tự do. Thực ra nó đảm bảo công lý hơn cho những người bất hạnh nhất, thiếu thốn nhất, song vẫn duy trì một liều lượng thỏa đáng cho tính hiệu quả, hơn nữa nó lại có độ ổn định cao hơn. Đặc sắc của nó thể hiện trong khẩu hiệu với những nguyên tắc lớn “tự do”, “bác ái” hoặc “đoàn kết”, “bình đẳng” tức khẩu hiệu gồm những nguyên tắc chính thể cộng hòa ra đời từ năm 1789 ở Pháp, đã được đảo lại. Đó là tính ưu việt của bình đẳng dân chủ so với các tổ chức khác.

    CÁCH PHÂN PHỐI LẠI

    Từ hệ thống bình đẳng dân chủ. Rawls đề xuất một hệ quy chiếu cho vấn đề phân phối.

    Trong cấu tạo cơ sở, một tổ chức có quyền hạn và có nghĩa vụ sẽ tỏ ra là hữu hiệu, nếu không xảy ra khả năng thay đổi được các quy tắc và khả năng duy trì các hệ thống quyền hạn và nghĩa vụ sao cho có thể tăng thêm các điều trông đợi của một cá nhân đại diện nào đó, đồng thời không phải vì thế mà giảm bớt các điều cần trông đợi một cá nhân khác. Điều cần lưu ý là các thay đổi này đều phải tương hợp với các nguyên tắc khác. Nói thế có nghĩa là khi thay đổi cấu tạo cơ sở, chúng ta không được bóp nghẹt nguyên tắc tự do ngang nhau với mọi người và cũng không đòi hỏi phải duy trì các địa vị mở ra cho tất cả mọi ngưòi. Cái mà ta có thể thay đổi là sự phân phối thu nhập hay của cải cũng như cách thức mà những người nắm quyền hoặc chịu trách nhiệm có thể vận dụng để điều khiển việc hợp tác. Nếu nó tương hợp với những ràng buộc của tự do và khả năng thừa hưởng sự tự do đó thì việc cung cấp các thứ “của cải ban đầu” này có thể hiệu chỉnh thế nào để thay đổi các mong đợi của những cá nhân đại diện. Một tổ chức của cấu tạo cơ sở sẽ là hữu hiệu khi chẳng có một phương tiện nào để thay đổi sự phân phối này theo cách tăng triển vọng cho một số, đồng thời không giảm triển vọng cho một số khác.

    Dưới “cái màn che của sự không hay biết”, tình trạng không hay biết các sở thích và từ đó kéo theo sự không hay biết về địa vị của mình trong xã hội sẽ dẫn cá nhân duy lý tới việc chấp nhận cái vị thế khôn ngoan tựa như cái vị thế mà sự chấp nhận quy tắc maximin dẫn tới.

    Quy tắc maximin là gì? Rawls giải thích như sau: đó là phương pháp gợi mở (heuristique) nó có ích nếu hai nguyên tắc công lý được xử lý như giải pháp của maximin cho vấn đề công lý xã hội. Có một quan hệ giữa hai nguyên tắc này và quy tắc maximin cho những lựa chọn trong cái không chắc chắn. Điều đó là dĩ nhiên, vì một người nào đó sẽ lựa chọn hai nguyên tắc ấy để lập kế hoạch cho một xã hội mà kẻ thù của anh ta đã định địa vị cho anh ta. Quy tắc maximin cho ta biết cách sắp xếp thang bậc của các giải pháp có thể tùy thuộc vào kết quả tốt nhất có thể của chúng, từ đó chúng ta phải chọn một giải pháp mà kết quả tồi tệ của nó vẫn còn cao hơn so với từng kết quả của các giải pháp khác. Đáng lưu ý một điều là: những con người được đặt vào vị thế khởi thủy đều không nghĩ rằng địa điểm ban đầu của họ trong xã hội đã bị định đoạt bởi một kẻ thù có ác ý.

    Rawls nhận xét: những con người ấy không nên suy lý xuất phát từ những tiên đề ban đầu. Tấm màn che sự không hay biết không hề mâu thuẫn gì với tư tưởng này, chừng nào tình trạng sự thiếu vắng thông tin không phải là một thông tin giả mạo. Nhưng, hai nguyên tắc về công lý lại được lựa chọn, nếu hai đối tác buộc phải tự bảo vệ chống lại sự bất tất như thế, thì điều đó cắt nghĩa khi nào quan niệm đó là giải pháp maximin.

    Ta bắt gặp ở đây một tư tưởng độc đáo của Rawls rằng: sự bất bình đẳng tự bản thân nó không phải là điều xấu trong khi nhiều bình đẳng vẫn chỉ làm cho con người nghèo khổ hơn.

    Đã nói tới phân phối, người ta không thể nói tới của cải. Ở đây người ta sẽ thấy thái độ của chủ nghĩa tự do mà Rawls là đại biểu đối với bản tính của của cải ra sao.

    Rawls nhấn mạnh rằng trước khi lựa chọn nguyên tắc của công lý được áp dụng cho mọi người, những con người có tính giả thuyết được bao phủ bởi “bức màn không hay biết” không hề ý thức đối với ý niệm về của cải của họ, tức những hoạt động và những mục tiêu mà họ coi là tư bản trong cuộc sống. Theo ông, đó là điều kiện cần thiết để xã hội sản xuất trở thành công minh đối với tất cả những ai đến từ những truyền thống đạo đức hay triết học khác nhau. Nhưng rõ ràng là để nhận thức về những nguyên tắc phân phối của cải, những cá nhân phải có một ý niệm về cái được phân phối. Nhằm mục đích đó, Rawls đề xướng một lý luận gọi là "lý luận tối thiểu về của cải” tức là một bảng liệt kê “những của cải đầu tiên”, ví như: tự do, sự giàu có, thu nhập và bằng cách đó, theo ông, một khối lượng lớn nhất thì bao giờ cũng tốt hơn số lượng nhỏ nhất, và tất cả những cái đó thuộc mọi cá nhân bất kể quan niệm cá nhân ra sao.

    Trong bảng liệt kê đó, Rawls nói về những của cải sơ cấp như những phương tiện để thực hiện một quan niệm về của cải. Bảng liệt kê của ông gần với lập trường của Kant về sự tự trị và về sự duy lý mà ông đã sử dụng rõ ràng để mô tả những người sáng lập được đặt ở “vị trí khởi thủy”. Nhưng dường như mặc dù tất cả nhằm khẳng định rằng những yếu tố đó là có giá trị bất chấp quan niệm về của cải ra sao và rằng một số lượng lớn về những của cải luôn luôn có giá trị hơn số lượng nhỏ. Bảng liệt kê “tối thiểu” đó mới đủ để cơ cấu một kiểu công phân phối. Điều này cũng cần thiết khi người ta đi tới tạo lập một sự vận hành đáng mong đợi của nhân loại.

    Nói tới công lý phân phối, lập tức phải đặt ra vấn đề nhiệm vụ đối với thế hệ tương lai.

    Một thế hệ không chỉ bảo tồn những thiết chế công bằng được xác lập mà từng thời kỳ còn phải để dành một số lượng tư bản thực tế khá đủ để tích lũy khối lượng tiết kiệm dành dụm lại bằng cách này có thể thực hiện được với nhiều hình thức rất đa dạng kể từ vốn đầu tư vào văn hóa và giáo dục. Hãy tạm giả định trong một thời điểm rằng chúng ta đã nắm được một nguyên tắc đúng đắn về tiết kiệm để biết rõ phải đầu tư tới đâu, khi ấy quả là mức tối thiểu xã hội đã được xác định xong.

    Về công lý giữa các thế hệ theo ý kiến của Rawls chủ nghĩa vị lợi sẽ dẫn tới tình trạng thái quá về tiết kiệm, chẳng hạn sẽ xảy ra trường hợp đòi hỏi các thế hệ nghèo phải gánh chịu nhiều hy sinh để phục vụ sự hưởng thụ quá đầy đủ mà các thế hệ tương lai sẽ tiếp nhận, những thế hệ này chắc chắn tự bản thân sẽ giàu có rất nhiều so với những lớp tiền bối. Nhưng Rawls cũng thừa nhận rằng các thế hệ đều phải có những bổn phận đối với nhau.

    Nguyên tắc chênh lệch đã bao hàm một điều ràng buộc trong bản thân nó. Đó là yêu cầu phải thực hiện nguyên tắc tiết kiệm, nếu nguyên tắc thứ nhất về công lý và nguyên tắc bình đẳng về thời cơ là những nguyên tắc hàng đầu đi trước so với nguyên tắc chênh lệch trong nội bộ một thế hệ thì nguyên tắc tiết kiệm sẽ hạn định việc ứng dụng nguyên tắc chênh lệch trong mối tương quan giữa các thế hệ.

    BỐN CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC

    Tất cả các suy nghĩ trên đây của tác giả đã dẫn ông tới luận chứng cần xác lập một chức năng về phân phối. Đó cũng là một trong những lý do chính về vai trò can thiệp của Nhà nước.

    Trong việc xác lập thiết chế này, theo sáng kiến của Rawls, Chính phủ có thể phân chia thành bốn ban, mỗi ban gồm nhiều tiểu ban mà hoạt động của chúng là đảm bảo một số điều kiện xã hội và kinh tế. Các ban này có chức năng riêng không “dẫm chân” lên tổ chức thông thường của chính phủ.

    Ban trợ cấp phụ trách theo dõi hệ thống giá cả, có thực sự mang tính cạnh tranh hiệu quả hay không cũng như việc ngăn ngừa sự hình thành các vị trí thái quá trên thị trường. Loại hình quyền lực này không tồn tại lâu bằng các thị trường, không thể đảm bảo là có thêm tính cạnh tranh mà không xung đột với tính hiệu quả, với sự kiện địa lý và với sở thích việc nội trợ của gia đình.

    Vai trò của ban này còn thể hiện chỗ mỗi khi giá cả không thích đáng thì cần phản ảnh chính xác các lợi thế, ưu điểm và giá thành xã hội nhằm phát hiện uốn nắn các biến dạng dễ nhận thấy nhất đối với nguyên tắc hiệu quả. Để thực hiện chức năng ấy nó được sử dụng các khoản thuế má, lệ phí cũng như trợ cấp thỏa đáng và những điều chỉnh về luật sở hữu.

    Ban chuyên trách công tác ổn định: Cơ quan này phải nỗ lực phấn đấu bảo đảm gồm đủ việc làm cho mọi người. Yêu cầu đó được hiểu theo nghĩa: tất cả ai đi tìm việc đều có việc, đồng thời quyền tự do lựa chọn việc làm và tình hình tài chính của đất nước phải được hỗ trợ bằng một “sức cầu thực tế".

    Đại thể hai ban này gộp lại phải thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo hiệu lực kinh tế thị trường.

    Ban chuyển nhượng chăm lo bảo đảm cái tối thiểu xã hội.

    Có những lý do vững chắc để chống lại cách xác định tổng thu nhập chỉ dựa vào một căn cứ duy nhất là cạnh tranh, bởi lẽ cạnh tranh bao giờ cũng không biết tới nhu cầu và đòi hỏi của mức sống phải chăng. Đứng trên quan điểm của giai đoạn lập pháp, sẽ là hợp lý, nếu biết tự bảo vệ bản thân mình, cũng như con cháu mình trước những điều bất ngờ của thị trường. Thực ra, đây cũng là những điều mà nguyên tắc chênh lệch đòi hỏi phải có. Song một khi đạt tới cái tối thiểu phải chăng nhờ các chuyển nhượng thu nhập đó rồi thì có thể sẽ hoàn toàn đúng đắn khi xác định phần còn lại của tổng thu nhập bằng hệ thống giá cả, với điều kiện là hệ thống này phải tương đối hữu hiệu và không chịu những trói buộc mang tính chất độc quyền, lũng đoạn cũng như đã loại trừ được hết mọi hậu quả hướng ngoại quá đáng. Thêm nữa, cách thức thỏa mãn nhu cầu như trên tất phải hữu hiệu hơn so với cách thức ấn định mức lương tối thiểu để can thiệp vào việc xác định thu nhập.

    Đối với từng ban, tốt hơn hết là chỉ quy định những nhiệm vụ có khả năng phù hợp với nhau, bởi vì thị trường sinh ra vốn không phải là để thỏa mãn các nhu cầu. Muốn thỏa mãn được nhu cầu cần phải trông cậy vào một tổ chức khác nó. Lúc đó sự thỏa mãn các nguyên tắc về công lý lại tùy thuộc vào mức tổng thu nhập của những người khó khăn nhất, bất lợi nhất (tiền lương cộng với chuyển nhượng xã hội), mức tổng thu nhập này phải bảo đảm cực đại hóa được các trông đợi dài hạn, cố nhiên phải tôn trọng các điều kiện các quyền tự do ngang nhau đối với mọi người cũng như quyền bình đẳng đúng với công lý về cơ hội.

    Ban cuối cùng là ban chăm lo công việc phân phối. Nhiệm vụ cơ quan này là bảo đảm một công lý nhất định trong phân phối theo chế độ thuế khóa và các biện pháp điều chỉnh cần thiết về quyền sở hữu. Mục tiêu của Ban phân phối không nhằm cực đại hóa mức thỏa mãn ròng, đối với các nhu cầu mà chính xác là xác lập các thiết chế cơ bản chính đáng. Hình thức các chức năng hiệu ích chẳng đóng một vai trò gì ở đây. Nó đặt ra một bài toán cho chủ nghĩa vị lợi chứ không phải cho chủ nghĩa khế ước xã hội.

    Quan điểm “thu nhập tối thiểu” hơn hẳn quan điểm “lương tối thiểu”. Bằng quan điểm đó, Rawls đã tiến gần sát các tác giả chủ trương vận dụng chế độ thuế âm (impôt négatif). Khi đã đạt tới mức tối thiểu đó thì cứ mặc cho thị trường thả sức đóng vai trò của nó. Còn về vấn đề phân phối lại, Rawls thừa nhận tầm quan trọng của một phán đoán chính trị liên quan đến mức độ bất bình đẳng mà ta nên chấp nhận. Ông viết “trong thực tiễn ta thường bắt buộc phải lựa chọn giữa những hệ thống với mức độ bất công lý hoặc nhiều hoặc ít”.

    Tác phẩm luận công của Rawls mang tính thời đại bởi vì Triết học đạo đức, chính trị đó của ông đã tập trung vào vấn đề con người, vấn đề dự phóng cuộc sống của con người duy lý.

    Ở đây công bằng và chủ nghĩa cá nhân đã được tái hòa hợp với nhau ở trong luận về công , ở đó bao hàm một lý luận về hạnh phúc và về điều thiện.

    Ông viết như sau: “Một xã hội được xếp đặt với trật tự tốt sẽ thỏa mãn được các nguyên tắc về công lý, đó là những nguyên tắc duy lý một cách tập thể xét trong viễn cảnh từ “vị thế khởi thủy” và đứng trên quan điểm cá nhân, sự mong muốn tôn trọng quan điểm công cộng về công lý để điều khiển dự phóng cuộc sống của mình, phù hợp với các nguyên tắc của chọn lựa duy lý”.

    Tác phẩm luận công đã đưa Rawls lên danh vọng cao của nhà triết học chính trị của chủ nghĩa tự do Mỹ và có lẽ của thế giới hiện đại.

    Các tác giả của bộ Lịch sử tưởng kinh tế ở Pháp đã đặt Rawls ở vị trí là những “cửa mở ra một chung kết” có nghĩa là ông vừa là một đỉnh cao khép lại quá khứ và mở ra một hướng mới cho tương lai của xã hội Mỹ.

    Rawls mất ngày 24 tháng 11 năm 2002, thọ 82 tuổi. Vĩnh biệt ông, giáo sư Lawrence N. Summers, chủ tịch Đại học Harvard nói: “Ở tiến sĩ Rawls có sự kết hợp giữa một trí tuệ uyên bác và một tính nhân văn sâu sắc... rất ít nếu không muốn nói là không có nhà triết học hiện đại nào có được ảnh hưởng quyết định đến cách mà chúng ta suy nghĩ về công lý như Rawls. Các học giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của các thế hệ sau sẽ vẫn còn tiếp tục học được rất nhiều ở ông”.

    CHƯƠNG IV

    TRIẾT HỌC KHOA HỌC

    1. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC MỚI

    Chủ nghĩa hiện thực mới có mấy đặc điểm sau đây.

    PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC

    Chủ nghĩa hiện thực mới tuyên bố dùng phương pháp khoa học để lý giải các vấn đề triết học. Đó là phương pháp phân tích logic, triết học cần sử dụng ngôn ngữ để phân tích những vấn đề lộn xộn phức tạp thành những vấn đề rõ ràng nhằm khắc phục tính lỏng lẻo của ngôn ngữ và tư tưởng. Chủ nghĩa hiện thực và triết học phân tích đã gặp nhau ở đây. Người ta chú ý tới những thành tựu của toán học và logic toán học đương đại. Lời nói đầu của Chủ nghĩa hiện thực mới viết rằng: “Logic học và toán học là mẫu mực truyền thống của trật tự nhất định, đã cung cấp cho tư duy chính xác những nguyên tắc, những dòng suy nghĩ mới... triết học cần dựa vào logic... đối tượng của triết học chính là sản phẩm của phân tích...".

    Một trong những mục đích chính của chủ nghĩa hiện thực mới là chứng minh cho phương pháp logic và phương pháp khoa học chính xác, và phổ biến nó rộng rãi. Nhiệm vụ của triết học theo chủ nghĩa hiện thực mới là tiến hành phân tích khái niệm logic một số khái niệm và mệnh đề trong khoa học. Rõ ràng đường lối này đã thống nhất với triết học phân tích. Tuy họ chưa định ra được những phương pháp có hệ thống nhưng đã chuẩn bị điều kiện cho sự ra đời của triết học phân tích.

    Hơn nữa, các nhà hiện thực mới còn cho toán học và logic học là tiên nghiệm, là sự phân tích, là hệ thống diễn dịch của khái niệm trừu tượng thuần túy, cho nên triết học cũng trở thành sự phân tích và diễn dịch của khái niệm tiên thiên và thuần túy.

    Trước sau chủ nghĩa hiện thực mới chỉ thừa nhận là một “phương pháp khoa học” do đó nó chỉ quan tâm tới nhận thức học mà không màng gì tới bản thể học như các triết học đã có trong truyền thống. “Chủ nghĩa hiện thực mới chủ yếu là một học thuyết về quan hệ giữa quá trình nhận thức và sự vật được nhận thức”.

    LÝ LUẬN "THỰC THỂ TRUNG TÍNH" VÀ CHỐNG CHỦ NGHĨA DUY TÂM

    Chủ nghĩa hiện thực mới cho rằng đối tượng được nhận thức (sự vật cá biệt, sự vật đặc thù) tồn tại độc lập không dựa vào ý thức của chúng ta. Khi chúng ta chưa nhận thức được chúng, chúng đã tồn tại, Pitkin viết “Người theo chủ nghĩa hiện thực cho rằng sự vật được cảm nhận không phải là sản phẩm của quan hệ nhận thức, sự tồn tại và tác dụng của chúng căn bản không dựa vào quan hệ ấy". Montague nói: “Chủ nghĩa hiện thực cho rằng sự vật được nhận thức khi chưa được nhận thức có thể tiếp tục tồn tại như vậy, hoặc sự vật có thể không làm hại tính hiện thực của mình mà nhập vào và thoát khỏi quan hệ nhận thức, hoặc sự tồn tại của một sự vật không liên quan hoặc dựa vào bất kỳ người nào kinh nghiệm về nó, cảm nhận nó, tưởng tượng về nó hoặc dùng bất kỳ phương thức nào nhận thức nó”. Đó là một trong những niềm tin cơ bản của những người theo chủ nghĩa hiện thực mới. Họ cho rằng nguyên tắc ấy được suy luận từ kinh nghiệm thường ngày của chúng ta, kinh nghiệm đó chứng tỏ tuy ý thức hoặc nhận thức là một nhân tố tất nhiên khi chúng ta ý thức hoặc nhận thức một đối tượng nào đó, nhưng không phải tất nhiên chứng minh sự tồn tại của đối tượng dựa vào ý thức của chúng ta.

    Với cách nhìn đó, chủ nghĩa hiện thực mới đã đối lập với chủ nghĩa duy tâm. Nó phê phán chủ nghĩa duy tâm ở cái mà họ cho rằng đó là do “hoàn cảnh khó khăn của trung tâm cái tôi" của chủ nghĩa duy tâm đó.

    Cụm từ trên đã được Perry giải thích như sau: con người không thể tách rời quan hệ nhận thức của họ khỏi sự vật để nhận thức sự vật đó, con người không thể có quan hệ với bất kỳ đối tượng nào mà không dựa vào nhận thức, vì vậy khi họ ý thức được đối tượng thì ý thức của họ thường trùng với đối tượng hoặc nói cách khác đối tượng đã trong ý thức của họ. Cái khó ở đây là chúng ta không thể đứng ngoài đối tượng nhận thức để so sánh với đối tượng nhận thức, Perry nói tiếp “muốn phát hiện (nếu có khả năng) một sự vật biến đổi như thế nào trong quan hệ nhận thức, tôi có thể phát hiện một số ví dụ về những sự vật bên ngoài mối quan hệ để có thể so sánh chúng với những ví dụ về các sự vật bên trong mối quan hệ ấy. Nhưng tôi không thể phát hiện những ví dụ sự vật như thế, vì “phát hiện” cũng là một cách muốn tránh mối quan hệ đó". Như thế có nghĩa là, chúng ta không thể so sánh cái ở trong và cái ở ngoài mối quan hệ nhận thức để từ đó chứng minh trực tiếp sự vật có thể tồn tại độc lập tách rời nhận thức của con người, hoặc như trong quan hệ nhận thức chúng ta không thể chứng minh đối tượng tồn tại độc lập không tùy thuộc sự biến đổi của nhận thức. Montague giải thích tiếp: “Chúng ta có thể dắt một con chó trước mặt con mèo và thấy nó sủa, sau đó dắt nó đi và không thấy nó sủa nữa, do đó chúng ta có kết luận: chó sủa vì nó đứng trước mèo. “Nhưng chúng ta không thể xem xét sự vật trước hoặc sau khi chúng ta nhìn thấy sự vật để chúng ta xem xét nó có thay đổi hình dáng hay không?”. Nghĩa là nếu chúng ta không cảm giác được sự vật, chúng ta không thể phát hiện quá trình xảy ra như thế nào: chúng ta không thể loại ra khỏi hoạt động nhận thức trong bất kỳ hoạt động nhận thức nào đều có thể nhận thức tham gia, không có chủ thể nhận thức thì không thể nói tới đối tượng nhận thức (khách thể), đối tượng chúng ta ý thức được thường đồng tồn tại với ý thức. Đó là “hoàn cảnh khó khăn của trung tâm cái tôi”.

    Những người theo chủ nghĩa hiện thực mới cho rằng những người theo chủ nghĩa duy tâm lợi dụng “hoàn cảnh khó khăn” nói trên để chứng minh ngoài kinh nghiệm cụ thể, ngoài ý thức con người, không tồn tại tất cả cái gì hoặc nói rằng sự vật tồn tại là dựa vào sự nhận thức đối với nó.

    Perry cho rằng có tồn tại “hoàn cảnh khó khăn của trung tâm cái tôi” nhưng nó không phục vụ cho mục đích của chủ nghĩa duy tâm. Những người theo chủ nghĩa duy tâm lợi dụng “hoàn cảnh khó khăn” để chứng minh luận đề của mình là hoàn toàn không có hiệu quả. Vì sao? Vì “hoàn cảnh khó khăn” đó chỉ là khó khăn về phương pháp học. Hoàn cảnh khó khăn đó quả thực bao gồm một mệnh đề rằng: “Mỗi một sự vật bàn đến là một quan niệm”, nghĩa là một sự vật mà khi chúng ta suy nghĩ hoặc đề cập tới thì những mệnh đề ấy trên thực tế là một mệnh đề lặp lại “chỉ là lời rỗng tuếch” do đó nó chỉ gây tư tưởng hỗn loạn, và không chứng minh được cái gì. Montague kết luận rằng sự võ đoán về sự tồn tại của ý thức và đối tượng chỉ là một loại “trùng ngôn” (tautologie). Ông viết tiếp rằng sai lầm lớn nhất và căn bản của chủ nghĩa duy tâm từ Berkeley đến Bratley là võ đoán về mối quan hệ giữa người nhận thức và đối tượng ở chỗ cho rằng đây là một loại “quan hệ nội tại”. Với luận đề trên, các nhà duy tâm rơi vào “hoàn cảnh khó khăn" về vũ trụ quá dài, quá lớn không thể dựa vào những kinh nghiệm hạn chế của bản thân nhà duy tâm và những người láng giềng của họ. Vì vậy các nhà duy tâm đó phải đề ra luận đề thứ hai bổ sung cho luận đề trên bằng cách giả định rằng có một kinh nghiệm vô hạn và tuyệt đối: nó gồm cả thế giới và thế giới dựa vào nó. Tóm lại các nhà hiện thực mới phủ nhận cả hai luận đề trên của chủ nghĩa duy tâm, chủ trương sự tồn tại của đối tượng không cần phải dựa vào ý thức, cũng không giả định có một kinh nghiệm tuyệt đối, sự tồn tại của ý thức tuyệt đối.