14. thomas (done)

30/7/15
14. thomas (done)
  • Trong khoa học hiện đại, con người không đứng ngoài để quan sát mà nằm ở trung tâm khoa học. Chính chủ nghĩa quyết định trong khoa học trước 1900 với tính chuyên chế của nó càng thúc đẩy các nhà triết học nhìn thấy rõ nhiệm vụ bảo tồn những quyền lực của sự sống của thế vị con người và những giá trị tinh thần khác.

    Chủ nghĩa hiện thực mới không chỉ phục hồi lại chủ nghĩa Platon mà cả chủ nghĩa Kant, bởi vì theo Kant lý tính không thể đạt tới siêu hình học. Điều này đã gây hứng khởi lớn một khía cạnh của chủ nghĩa phi duy lý.

    Chủ nghĩa hiện thực mới (ở Anh và ở Mỹ) phá vỡ cái khung triết học Kant đã thống trị lâu đời. Chủ nghĩa hiện thực không hoàn toàn là phi duy lý nhưng nó và chủ nghĩa phi duy lý có cùng một hiệu quả khi nó trình bày siêu hình học (siêu hình học hiện thực). Siêu hình học trước kia chỉ là một phong trào phụ, giờ đây ngày một trở thành một học thuyết lớn của thời đại.

    Truờng phái triết học phân tích là một chủ nghĩa duy khoa học cực đoan, nó khẳng định rằng nhiệm vụ duy nhất của triết học là phân tích ngôn ngữ, phương pháp khoa học của nó đã trở nên quá chật hẹp: nó là một thứ không triết học loại bỏ không thương tiếc mọi siêu hình học.

    Triết học Mỹ ít biết tới thời kỳ độc tài đó của chủ nghĩa duy khoa học. Cho nên chủ nghĩa hiện thực mới đã có một thành công là đi thẳng tới siêu hình học hiện thực và cả chủ nghĩa phi duy lý ngày một gõ mạnh cánh cửa của thời đại.

    Các nhà triết học Mỹ như A.W. Whitehead, W. Quine, S. Kripke, R. Rorty là những nhà triết học phân tích Mỹ đã mở con đường cho cuộc vận động mới này phát triển mạnh mẽ, làm suy yếu Triết học phân tích cùng với chủ nghĩa hiện tượng, chủ nghĩa duy danh, chủ nghĩa duy vật lý của nó và hòa vào dòng chảy của chủ nghĩa thực dụng ngày một đi sâu vào đời sống của nước Mỹ.

    AEFRED NORTH WHITEHEAD

    A.N. Whitehead (1861 - 1947) là nhà triết học Anh, nhưng người ta vẫn xem ông là nhà triết học Mỹ vì từ năm 1924 ông sang Mỹ và dạy học ở Harvard và cũng chính trong thời kỳ này, ông cho ra đời cuốn Khoa học thế giới hiện đại. Tác phẩm chủ yếu của ông là Quá trình hiện thực (Process and Reality) được coi như một hệ thống tư tưởng hoàn bị nhất.

    Căn cứ vào các ấn phẩm, người ta có thể thấy cuộc đời hoạt động khoa học của Whitehead được phân ra thành ba thời kỳ - Từ 1898, ông cho ra đời những tác phẩm về logic toán học và từ 1910 đến 1913, ông nhận được giải thưởng về một tác phẩm viết chung với B. Russell: Principia Mathematica (Nguyên lý Toán học).

    Thời kỳ dạy học ở London (1919 - 1922) ông chủ yếu nghiên cứu về cơ sở lý luận của vật lý học. Thời kỳ này ông cho ra đời nhiều tác phẩm triết học như Nghiên cứu về nguyên tri thức tự nhiên, Khái niệm của tự nhiên, Nguyên thuyết tương đối. Thời kỳ thứ ba là thời gian ông ở Mỹ làm cho ông trở thành “một triết gia hàng đầu” của Anh và Mỹ. Đây là thời kỳ siêu hình học ở Cambridge Mỹ.

    Whitehead là một nhà triết đa diện, là một nhà toán học có tiếng, một trong những người sáng lập logic toán học hiện đại đồng thời là tác giả của triết học về hữu cơ (organisme).

    Như Russell, ông được coi là một trong những nhà triết học hiện thực mới của Anh vì sử dụng phương pháp phân tích và vì ông chia sẻ quan điểm hiện thực cũng như đề cao khoa học như họ. Đương thời ít có người nào đưa những thành quả của khoa học tự nhiên vào một hệ thống hoàn bị như ông.

    Ông là một nhà triết học theo chủ nghĩa Platon theo nghĩa hẹp nhất, và chính ông cũng tự nhận như vậy. Nhưng dù ông có nói rằng triết học Châu Âu chỉ là những phụ chú của Platon, nhưng chủ nghĩa Platon của ông vẫn có một cái gì đặc biệt, ví như, theo ông những ý tưởng (idée) không có hiện tính (actualité) nhưng chúng lại là những khả tính thuần túy (pures possibilités).

    Nhiều dấu vết của chủ nghĩa Aristote cũng có mặt trong tác phẩm của ông. Có thể kể ông là một nhà triết học thuộc trường phái Triết học phân tích ở Mỹ vì ông đã cung cấp một công cụ quan trọng là logic toán học cho cuộc vận động của Triết học phân tích, tạo lập một ngôn ngữ nhân tạo, coi ngôn ngữ là cái phổ biến của mọi khoa học. Nhưng ông lại xa lìa Triết học phân tích ở chỗ không những “chống lại siêu hình” mà còn xây dựng một siêu hình học đồ sộ đánh dấu một nét mới của thời đại, mở đường cho sự phục hồi siêu hình học ở nhiều nhà triết học khoa học tiếp theo.

    Ở một vài phương diện (như trong thuyết về ngộ tính - prehension) ông giống Leibniz.

    Trong chỗ khác như về “thực thể” (substance), ông giống Spinoza. Còn trong Mỹ học, ông thừa hưởng Kant và truyền thống Aristote. Whitehead bênh vực thuyết động lực và thuyết tiến hóa như Bergson và cũng chia sẻ với Bergson thái độ phê bình nhằm vào chủ nghĩa duy khoa học và ông nhấn mạnh rằng đường tiến đến Thượng đế của chúng ta phải là đường thuần lý và không thể tiến hành trực giác duy nhất vì chúng ta không có được một trực giác nào như thế.

    Nói như trên không có nghĩa rằng Whitehead là một người chiết trung, sắc thái nổi bật của ông lại chính là sự nhất trí sâu xa của nó. Ông là một nhà triết học của thế giới siêu hiện đại: đó là thời đại liên hệ sâu xa với vật lý học, toán học, sinh học và triết học của thế kỷ XX. Đồng thời, ông duy trì tư biện siêu hình trên bình diện vô thời (intemporal) trên đó Platon đã đặt ra những vấn đề triết học của mình.

    Dừng lại lâu hơn ở triết học về hữu cơ là lý thuyết nổi bật của Whitehead. Triết học về hữu cơ còn gọi là “Triết học hoạt động quá trình” (activities philosophy of process) được nổi lên trong làn sóng chống lại chủ nghĩa duy tâm Hegel. Nó trải qua một quá trình diễn biến lâu dài để cuối cùng trở thành một hệ thống siêu hình.

    Triết học về hữu cơ không giống với chủ nghĩa hiện thực mà Whitehead đã từng theo đuổi. Triết học này chịu ảnh hưởng rõ ràng của khoa học tự nhiên (thuyết tương đối lực học lượng tử) và triết học về đời sống của Bergson. Whitehead chống lại việc coi thế giới là sự tổng hòa và sự chất đống của vật thể. Ông chủ trương giải thích giới tự nhiên như một quá trình sáng tạo, tiến hóa sôi động có sức sống, như là tổng hợp mối liên hệ hữu cơ của nhiều sự kiện (event). Triết học về hữu cơ hoặc triết học quá trình rõ ràng trái ngược với chủ nghĩa cơ giới trong truyền thống. Theo Whitehead, những phát minh mới của chủ nghĩa khoa học tự nhiên đã phá bỏ nhanh chóng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật truyền thống. Theo vật lý học mới, thế giới là thể thống nhất của những “sự kiện” trong quan hệ thời gian, không gian nhất định đã tổ hợp nên. Lý luận lượng tử đã chứng minh “năng lượng tức là chất lượng”, vật chất chẳng qua là một phương thức của chấn động".

    Triết học Whitehead xuất phát từ lý luận về “sự kiện”. Từ khi lý thuyết tương đối ra đời đến nay, “sự kiện” đã trở thành khái niệm quan trọng và khác với khái niệm “sự vật” (thing). Whitehead coi “sự kiện” là yếu tố cơ bản của thế giới, sự thực cuối cùng của giới tự nhiên. Toàn bộ giới tự nhiên nếu không có sự kiện thì không con vật nào khác, thời gian, không gian cũng dung hợp trong sự kiện. Vũ trụ là trường sự kiện.

    Lý luận về sự kiện là hạt nhân triết học về hữu cơ. Chính trên cơ sở này ông đã sửa đổi, phát triển và làm thành hệ thống siêu hình học hoàn chỉnh của mình. Khái niệm trung tâm của hệ thống đó là “khách thể vĩnh hằng” (eternal object) gồm những khách thể đơn thuần vĩnh hằng (như cảm giác, màu sắc...) và những khách thể vĩnh hằng phức tạp như lý tưởng mô thức toán học tức là những “cái phổ biến” hoặc “hình thức” của Platon. Khách thể vĩnh hằng là nhân tố bất động trong tự nhiên khi chúng tách khỏi dòng chảy sự kiện thì chỉ là một loại trừu tượng tạo nên một thế giới trừu tượng tức là “lĩnh vực có tính khả năng” (thế giới khả năng). Chỉ sau khi chúng hòa nhập vào dòng sự kiện tổ hợp nên, chúng mới có thể trở thành thời cố (occurrence) cũng là thực thể hiện thể (actual entity). Khách thể vĩnh hằng là tính khả năng, là trừu tượng, thực thể hiện thể là tính hiện thực là cụ thể. Biến cái trừu tượng thành cụ thể, biến khả năng hiện thực mà động lực vốn có cao nhất của nó là Thượng đế. Nói cách khác, Thượng đế từ trong thế giới tiềm tàng khả năng vô hạn, lựa chọn ra cái thế giới hiện thực của chúng ta.

    Theo Whitehead, sự tồn tại của Thượng đế là sự phi lý tột cùng. Không thể suy luận bản tính của Thượng đế từ lý tính. Thượng đế là giới hạn cuối cùng và sự tồn tại của Thượng đế là phi lý tính cuối cùng.

    Qua triết học hữu cơ của Whitehead, người ta thấy tuy ông là người xây dựng nên logic toán học mà triết học phân tích cho đó là sự cứu nguy cho triết học này, nó ra sức nghiên cứu toán học và logic học, các khoa học tự nhiên khác. Nhưng Whitehead đã vượt qua cái phi - triết học, phi siêu hình học, đồng thời xây dựng một siêu hình học mới đầy tinh thần sùng đạo. Phải chăng nhà triết học độc đáo này đã báo trước một đặc điểm của nền văn hóa Mỹ: ấy là sự chính xác của tư duy khoa học đi đôi với niềm tin tôn giáo.

    WILLARD VAN ORMAN QUINE

    Quine sinh năm 1908. Sự nghiệp của ông hoàn toàn diễn ra ở Harvard: từ lúc là sinh viên cho đến khi trở thành thầy giáo ở đây. Tác phẩm của ông phần lớn dành cho nghiên cứu về lý luận nhận thức dựa trên những kết quả kỹ thuật của logic hiện đại.

    Những công trình nghiên cứu của ông: Logic toán học, Phương pháp logic, Thế giới đối tượng, Triết học về logic, luận sự vật. Bài Hai giáo điều của Chủ nghĩa kinh nghiệm đã bác bỏ khả năng của tiêu chuẩn cuối cùng để phân biệt, phân tích, tổng hợp cũng như khả năng giải thích sự đồng nghĩa. Công trình này đánh dấu vừa sự cắt đứt với chủ nghĩa thực chứng logic, vừa là bước ngoặt lịch sử triết học anglo - saxon hiện đại. Bước ngoặt đó dẫn tới sự hình thành của luận đề gọi là luận đề Duhem - Quine, tới sự phê phán những lý thuyết về nghĩa và tới việc xây dựng một tri thức học tự nhiên (chấp nhận giải pháp kinh nghiệm chủ nghĩa của sự nối tiếp giữa thế giới của tri giác và của khoa học). Điều này đã làm cho Quine trở thành một trong những nhà triết học quan trọng nhất của triết học Mỹ đương đại.

    Trước hết, thành tích nổi bật của Quine là chống lại Triết học phân tích về vấn đề bản thể, chủ trương phục hồi lại bản thể học. Ông cho rằng địa bàn chính của triết học là bản thể học.

    Ông vạch ra rằng trên thực tế, lúc nào người ta cũng thực hiện sự nhập cuộc của bản thể học (engagement ontologique) nào đó, trên nguyên tắc mỗi người tiếp thu một bản thể học giống như tiếp thu một loại lý luận khoa học. Chủ nghĩa quy ước và chủ nghĩa tương đối của bản thể học ấy đã bất đồng với vấn đề bên ngoài, bên trong mà Carnap đã phân biệt rõ ràng. Ông nhấn mạnh rằng những nhập cuộc đó chính là một trong chức năng của triết học.

    Lý luận của Quine về nhập cuộc bản thể học thực chất là biến bản thể học thành việc lấy cái gì đó làm vấn đề giả thiết lý luận của số hạng biến số. Vì vậy, đương nhiên là dẫn đến chủ nghĩa quy ước và chủ nghĩa tương đối của bản thể học. Chúng ta thừa nhận một loại lý luận nào đó tức là lý luận ấy giả thiết về sự tồn tại của một số vật, là nhập cuộc một loại bản thể học.

    Nhưng Quine không nhập cuộc như nhau đối với tất cả bản thể học, có một thước đo để phán đoán sự hợp lý của bản thể học. Trước hết ông nhấn mạnh tính quan trọng của tính đồng nhất với bản thể, không có tính đồng nhất thì không có bản thể, tính đồng nhất là linh hồn của bản thể. Nếu đối tượng nào thiếu tiêu chuẩn thỏa mãn tính đồng nhất thì việc tiếp nhận sự tồn tại của nó là đáng nghi ngờ. Ngoài ra bản thể học còn chú trọng tới tính giản đơn và tính thực tiễn. Đó là tiêu chuẩn để phán đoán tính đúng đắn của bản thể học. Do đó, người ta có thể suy luận rằng ý tưởng của Quine về bản thể học là chủ nghĩa hiện thực của “vật thể”, của “tập hợp”.

    Tóm lại, như Quine thừa nhận nguyên nhân của sự tồn tại của “vật thể", của “tập hợp” là: 1) khi “vật thể” “tập hợp” đều thỏa mãn tiêu chuẩn tính đồng nhất, tức chúng có thể phân chia và phân biệt; 2) do yêu cầu của khoa học, chúng ta cần phải dựa vào khoa học, phương pháp học khoa học đòi hỏi thừa nhận sự tồn tại của những bản thể đó. Vì vậy bản thể học do khoa học, toán học, logic nêu lên, tức phạm vi giá trị của biến số ràng buộc là đối tượng vật lý, là tập hợp vật thể, tập hợp của tập hợp vật thể.

    Đương nhiên, luận đề nói trên thể hiện sự bất đồng giữa Quine và Carnap. Camap phân biệt vấn đề bên trong và bên ngoài, chống lại vấn đề bên ngoài cho rằng nó không có ý nghĩa nhận thức, nhiều lắm nó là một loại kiến nghị về cái khung ngôn ngữ. Quine chống lại sự phân chia đó. Đó chỉ là vấn đề nội bộ điển hình: có “tồn tại con bò” (danh từ chung) không? Và có “tồn tại thế giới sự vật” không? Giữa hai cái đó chỉ có sự khác biệt về mức độ to nhỏ có tính phổ biến, nhưng không có sự khác biệt căn bản. Giữa mệnh đề tồn tại (khoa học) của bản thể học (triết học) và cục bộ tương đối không có sự khác biệt về chủng loại. Cho nên kết luận của logic là: vấn đề của triết học với vấn đề khoa học không có ranh giới rõ ràng.

    Điều kể trên đã nói lên sự liên minh trở lại giữa khoa học và triết học trong Triết học phân tích, ở đây cũng thể hiện rõ quan điểm của chủ nghĩa chủ toàn (holism) về tri thức nhân loại của Quine.

    Về phê phán hai giáo điều của chủ nghĩa kinh nghiệm logic, trước hết về việc trường phái đó, theo Wittgenstein, chia ra ba loại mệnh đề: 1) mệnh đề tổng hợp, 2) mệnh đề phân tích, 3) mệnh đề siêu hình. Mệnh đề siêu hình bị loại bỏ vì không có ý nghĩa. Theo Quine, giả hay thật không phải ở có ý nghĩa hay không mà ở chỗ chúng có phù hợp với kinh nghiệm hay không, không mệnh đề phân tích nào mà không liên quan tới kinh nghiệm.

    Người ta nghĩ rằng chân lý dựa vào hai bộ phận là ngôn ngữ và sự thực. Nhưng theo Quine, phân chia rõ ràng hai bộ phận chỉ là ảo tưởng và là một giáo điều.

    Quine cũng khảo sát tỉ mỉ vấn đề chân lý logic khác với mệnh đề phân tích có tính đồng nghĩa. Ông vạch ra lĩnh vực logic thành đối tượng của một phạm vi khác: đó là lĩnh vực ký hiệu logic nhằm phân biệt với lĩnh vực ký hiệu miêu tả. Sau khi quy định các ký hiệu logic (xác lập bằng ký hiệu) cái gọi là chân lý logic tức mệnh đề có ký hiệu logic chiếm vị trí căn bản và nếu dùng một ký hiệu logic thay thế cái khác thì mệnh đề có giá trị thật của nó đã thay đổi.

    Chân lý logic không có tính chính xác tuyệt đối, vĩnh hằng, bất biến siêu thời gian và không gian. Nó chỉ là sự phản ánh có tính phổ biến nhiều hơn các khoa học khác mà thôi. Vì vậy giữa hai chân lý đó không có hố ngăn cách. Chúng đều nằm trong một “trường tri thức”.

    Quine cũng chống lại giáo điều thứ hai của chủ nghĩa kinh nghiệm logic về chủ nghĩa qui giản. Ông cho rằng sự tường thuật có ý nghĩa ngang giá với cấu tạo logic xây dựng trên từ vựng kinh nghiệm trực tiếp, cũng có thể dịch thành một loại ngôn ngữ quan sát kiểu đặc thù, tức ngôn ngữ tư liệu cảm giác.

    Quine vạch rõ trước hết giữa ngôn ngữ lý luận và ngôn ngữ quan sát không có giới hạn phân chia rõ ràng, tuyệt đối vì quan sát dựa vào lý luận, vào hệ thống khoa học không phải do tường thuật cá biệt mà trở thành một chỉnh thể tổ chức hóa đứng trước tòa án kinh nghiệm cảm giác.

    Việc phê phán hai giáo điều của chủ nghĩa kinh nghiệm logic đã làm rõ tri thức học hay chủ nghĩa chủ toàn tức lý luận về “trường tri thức”, đó là tri thức hay toàn thể niềm tin của chúng ta từ sự kiện ngẫu nhiên nhất của định lý và lịch sử đến quy luật sâu sắc nhất của vật lý học nguyên tử thậm chí của toán học đơn thuần và logic học. Hoặc nói theo một hình tượng khác, toàn bộ khoa học là một trường lực, ranh giới của nó là kinh nghiệm dẫn đến sự điều chỉnh lại nội bộ, phân phối lại giá trị thật cho tường thuật cơ bản của chúng ta.

    Kết luận của Quine có thể viết như sau; bất cứ sự tường thuật riêng biệt nào đều không thể được kiểm chứng, không thể được chứng thực giả, không thể được quy giản. Đơn vị có đầy đủ ý nghĩa kinh nghiệm là toàn bộ khoa học.

    Đây là tri thức học kết hợp giữa chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa chủ toàn. Trong lịch sử triết học, người ta thấy triết học phân tích đánh dấu sự suy yếu của chủ nghĩa thực chứng logic, người ta thấy tầm quan trọng của mối quan hệ qua lại và tính chỉnh thể, tính chủ toàn của tri thức.

    Để tiếp tục tìm tòi sâu hơn về quan hệ giữa lý luận với kinh nghiệm, ông còn khảo sát về một quan hệ giữa hai ngôn ngữ và kinh nghiệm tức là lý luận về “phiên dịch căn bản”. Giữa hai loại ngôn ngữ có khoảng cách tự do rất rộng, không thể có sự nhất trí. Sự giải thích khác nhau đối với mỗi từ cũng như tài liệu kinh nghiệm cho nên không thể khẳng định chắc chắn rằng loại giải thích nào là duy nhất đúng.

    Mục đích và động lực lý luận của Quine là muốn loại bỏ sự tồn tại của “ý nghĩa” với tính cách là bản thể, chỉ ra không có tồn tại đối tượng mang ý nghĩa. Ông đi gần lại lý thuyết kích thích - ý nghĩa của chủ nghĩa hành vi (behaviorism).

    Quine là một nhân vật tạo nên bước ngoặt trong lịch sử Triết học phân tích. Chủ nghĩa quy ước trong bản thể học và chủ nghĩa chủ toàn trong tri thức học, sự phê phán và việc vứt bỏ lý luận về ý nghĩa trong truyền thống của ông đã để lại nhiều dấu tích trong cả một thế hệ nhà triết học Mỹ sau này.

    SAUL KRIPKE

    Kripke (1941 -) là giáo sư trường Đại học Princeton Mỹ, là nhà logic học có tiếng của Mỹ. Ông đã có nhiều quan điểm mới mẻ về nhiều vấn đề của triết học phân tích. Những tác phẩm chính của ông: Đồng nhất tính tất nhiên, Đặt tên tính tất nhiên, Cương yếu bàn về chân , Quan hệ nói chuyện quan hệ ngữ nghĩa học, Logic của tên riêng và nhiều bài về logic mô thức (modal logic).

    Ông phê phán lý luận từ mô tả (description). Ông nêu lên rằng một tên riêng phổ thông (từ mô tả) không có tính tất nhiên. Kripke cho rằng có sự khác nhau căn bản giữa tên và từ mô tả, cái trước là từ ký hiệu cố định, cái sau là ký hiệu ngẫu nhiên. Viết về Kripke, các tác giả cuốn Từ điển, các tác giả các chủ đề triết học viết: “Giải pháp của Leibniz đã buộc Rripke phải coi những tên riêng như những cái chỉ rõ cứng rắn ở trong mọi thế giới có thể”.

    Từ mô tả không quyết định quan hệ danh từ riêng. Cái gì quyết định quan hệ ấy? Kripke đưa ra lý luận danh từ riêng nhân quả - lịch sử. Một đứa trẻ mới sinh có quan hệ với nhiều người. Tình hình đó đã tạo nên một mạng lưới và một dây chuyền giao thông. Cái quyết định quan hệ ở đây quyết không phải một tên gọi hay một từ miêu tả mà là một dây chuyền giao thông. Vậy điều quan trọng là nguồn gốc và lịch sử chứ không phải là tri thức hay niềm tin của người nói.

    Về lý luận danh từ chung khi bàn về tri thức học và danh từ chung. Kripke bàn tới những phạm trù về quan hệ “bẩm sinh” và “sau mới có”, “tất nhiên” và “ngẫu nhiên”.

    Từ sau Kant, người ta thường cho rằng “bẩm sinh” và “tất nhiên” là đồng nghĩa. Theo Kripke “bẩm sinh” là khái niệm của nhận thức học, còn “tất nhiên” là khái niệm của siêu hình học. Bẩm sinh là cách truy tìm tri thức không thể dựa vào phương thức kinh nghiệm. Cho nên một số kiến thức sẵn có, tức những tri thức không dựa tư liệu kinh nghiệm thì không cần có những từ mô thức như “tất nhiên”. "Tất nhiên” không có liên quan với phương thức thu nhận kiến thức mà là siêu hình đơn thuần. Vấn đề đặt ra là phải chăng thế giới tồn tại ra sao? Nếu không thể có, thì đó là sự thật tất nhiên, còn nếu có thể có thì đó là sự thực ngẫu nhiên.

    Tri thức trong nhận thức học phân chia “bẩm sinh” và “cái có sau”, còn trong bản thể học thì phân chia thành “tất nhiên” và “ngẫu nhiên”. Vì vậy, theo Kripke, có một vấn đề bẩm sinh, lại vừa là mệnh đề tất yếu. Ở đây Kripke không gặp Quine, vì Quine phân biệt mệnh đề phân tích và mệnh đề tổng hợp. Chỉ có phân biệt bẩm sinh và tính tất yếu mới có thể khảo sát đúng đắn vấn đề bản chất của đối tượng.

    Sự phân biệt giữa “tính bẩm sinh” với “tính tất nhiên” và sự phân biệt giữa “tính sau mới có” và “tính ngẫu nhiên” nhằm một mục đích quan trọng là giải quyết vấn đề lý luận về danh từ chung (danh từ phổ thông).

    “Danh từ chung” tức danh từ phổ thông (như "người”, “con bò”, “vàng”...) được Kripke nhấn mạnh, giống như danh từ riêng, ở đây cũng cần phân biệt phương thức quan hệ được xác định và phân biệt hàm nghĩa của nó. Phương thức quan hệ được xác định của danh từ chung, tức là thuộc tính bẩm sinh của danh từ chung và hàm nghĩa của danh từ chung tức là thuộc tính tất nhiên của danh từ chung ấy.

    Danh từ chung trở thành ký hiệu cố định, quan hệ của nó có một định nghĩa xác định.

    Danh từ chung có thể do dây xích lịch sử truyền đến nối tiếp và truyền đi. Đối tượng mới được tiếp tục phát hiện, cho nên danh từ chung tăng lên.

    Tóm lại danh từ chung và danh từ riêng giống nhau đều là ký hiệu cố định trong các thế giới có thể, đối tượng quan hệ của chúng giống nhau. Khi định nghĩa (đặt tên) thuộc tính đã biết không phải là thuộc tính tất nhiên nhưng đều là thuộc tính bẩm sinh. Thuộc tính tất nhiên có thể do nghiên cứu khoa học phát hiện được theo kinh nghiệm.

    Ý nghĩa triết học của Rripke là chống lại định kiến truyền thống của Triết học phân tích: nó thông qua phân tích chính xác tỉ mỉ, nó lợi dụng lý luận danh từ riêng để chống lại quan niệm cá thể là “nhóm thuộc tính” và coi trọng lịch sử đặt tên, để từ đó khôi phục lại vị trí của cái thường nhật.

    Ngoài ra, lý luận về “tính sau mới có”, “tính tất nhiên” của chân lý khoa học cũng chống lại phán đoán tổng hợp bẩm sinh của Kant, đồng thời chống lại chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng khoa học không có chân lý tất nhiên. Có thể kể đây là những sáng tạo của Kripke có ý nghĩa phá vỡ truyền thống.

    RICHARD RORTY

    Richard Rorty là nhà triết học đương đại Mỹ nổi tiếng. Bằng những chứng minh phức tạp, ông đã vạch ra mối quan hệ giữa Triết học phân tích và truyền thống triết học phương Tây.

    Trong lịch sử triết học hiện đại đã xảy ra cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm về nguồn gốc tri thức của loài người. Nhưng Rorty xem xét cuộc tranh luận ấy giữa hai xu hướng mà ông gọi: một bên là chủ nghĩa nền tảng (foundationalism) và bên kia là chủ nghĩa liên đồng (coherentism).

    Tác phẩm quan trọng nhất của Rorty Triết học chiếc gương tự nhiên hướng sự phê phán vào chủ nghĩa nền tảng đã tạo thành một truyền thống bắt nguồn từ triết học Hy Lạp mà Descartes, Kant đã góp phần quan trọng để xây dựng nên truyền thống đó, theo Rorty, được tạo nên ba yếu tố hạt nhân sau đây:

    1) Học thuyết về chân lý và tri thức của Platon là một thứ triết học về biểu tượng, là một chủ nghĩa trung tâm thị giác coi con người là một chiếc gương soi tự nhiên.

    2) Trong học thuyết của Descartes, cái gương soi đã di chuyển vào bên trong, vào tâm linh trở thành cái nhìn từ bên trong của tâm linh. Từ đây tri thức của Platon là lý luận của biểu tượng được phát triển thành tri thức tức lý luận biểu tượng bên trong của thực tại ngoại giới. Như vậy theo đuổi “biểu tượng đặc ân” (privileged representation) và chủ nghĩa nền tảng của nhận thức là kết quả phát triển của Descartes.

    3) Quan điểm triết học của Kant. Kant tiếp tục sứ mạng của triết học là nghiên cứu cơ sở khoa học, nghệ thuật, văn hóa, tôn giáo. Sự phê phán của Kant, theo Rorty, về thực chất cũng là “chiếc gương” để kiểm tra và sửa chữa.

    Sau Kant, ba hạt nhân truyền thống trên lại chia thành hai hướng: triết học phân tích và hiện tượng học. Rorty cho cả hai xu hướng trên đều là biến dạng mới của triết học của Kant: về căn bản chúng chưa thoát khỏi sự chi phối của khái niệm biểu tượng. Triết học phân tích thông qua phân tích ngôn ngữ nhận được biểu tượng chính xác kiểu ngôn ngữ học. Hiện tượng học thông qua quy giản bản chất và quy giản kinh nghiệm đã là những biến dạng đó.

    Tiếp theo Russell, Wittgenstein, phải kể tới Husserl, Heidegger đều là những người thực hiện trung thành truyền thông trên.

    Rorty kế thừa những ý tưởng của các nhà triết học Mỹ như W. Sellars, W. Quine để chĩa mũi nhọn phê phán chủ nghĩa nền tảng.

    Như đã thấy, Quine phê phán sự phân chia chặt chẽ giữa “phân tích” và “tổng hợp” vạch rõ không có ranh giới chặt chẽ giữa “ngẫu nhiên” (ảnh hưởng của vật cấp cho) và “tất nhiên” (chịu sự khống chế của tâm linh) và từ đó đập tan ranh giới của ngôn ngữ và sự thực.

    Rorty tiếp tục thúc đẩy kết luận của các nhà triết học trên, và ông vạch ra rằng việc duy trì sự phân biệt truyền thống về “cấp cho" mà Sellars gọi người được cấp cho là “huyền thoại của cái cho” (Myth of the Give) và việc đi tìm cơ sở tri thức bền vững là không có ý nghĩa. Đã không tồn tại biểu tượng đặc ân thì nhận thức học không thể biện hộ cho tri thức. Vì vậy đây là dự báo đã xảy ra về một thời đại hậu nhận thức.

    Từ sự phê phán chủ nghĩa nền tảng, Rorty đề xuất chủ nghĩa liên đồng xã hội của ông.