03. Trang 40 -104 - @hero229 - Ducko(done)

22/7/15
03. Trang 40 -104 - @hero229 - Ducko(done)
  • Tài liệu viết tay năm 1625 của Đắc Lộ



    Ngày 16-6-1625, Đắc Lộ viết một bức thư bằng chữ Bồ Đào Nha, gửi cho L.m. Nuno Mascarenhas, Phụ tá Bề Trên Cả Dòng Tên vùng Bồ Đào Nha [66] trình bày việc ông từ Áo Môn đến Đàng Trong bị nguy hiểm (bão) ở gần đảo Hải Nam, về sự tiến triển cuộc truyền giáo ở đây, về việc học tiếng Việt, về vấn đề mở cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài và ông xin lãnh trách nhiệm thực hiện công việc này. Bức thư dài gần hai trang giấy, viết trong khổ 15,50 X 23 cm.



    Trong thư tác giả phiên âm hai địa danh Hải Nam và Đông Kinh (Đàng Ngoài) là Ainão, Tunquim, Tunquin, ngoài ra không còn chữ nào có dáng vẻ là chữ quốc ngữ như ba chữ trên đây. Nên nhớ rằng vào tháng 6-1625, Đắc Lộ đã tạm nói được tiếng Việt [67].



    Tài liệu viết tay năm 1626 của Gaspar Luis



    Trên đây chúng ta đã có dịp bàn đến một tài liệu viết tay của Gaspar Luis năm 1621, nhưng lúc đó ông chưa đặt chân tới Đàng Trong. Trái lại khi Gaspar Luis soạn tập tài liệu này là lúc ông đã ở Đàng Trong được hơn một năm, bởi vì ông viết tại Nước Mặn ngày 1-1-1626. Chúng ta biết Gaspar Luis từ Áo Môn đi Đàng Trong cùng một chuyến tầu với Đắc Lộ và 5 Linh mục khác vào tháng 12-1624 [68] . Ông phải rời bỏ Đàng Trong hoàn toàn vào năm 1639, lúc Chúa Nguyễn Phúc Lan ra lệnh trục xuất tất cả các nhà truyền giáo khỏi xứ.



    Tài liệu là một bản tường trình hàng năm [69] viết bằng La văn gửi cho L.m. Bề trên Cả Dòng Tên Mutio Vitelleschi ở La Mã, dài 15 tờ, tức 30 trang, nhưng tác giả chỉ viết 29 trang, cỡ chữ vừa phải trong khổ 13 x 20,50 cm. Bản tường trình gồm ba phần: phần một, “Residentia Fayfó” (Cư sở Hội An) thuật lại những việc xảy ra ở Hội An năm 1625; Phần hai, “Residentia Dinh Cham uulgò Cacham” (Cư sở Dinh Chàm, bình dân gọi là Ca Chàm [Kẻ Chàm] ghi lại hoạt động truyền giáo ở Kẻ Chàm, tức thủ phủ Quảng Nam Dinh; Phần ba, “Residentia Nuocman, vulgò Pullocambi” [70] (Cư sở Nước Mặn, bình dân gọi là Pullocambi), kể lại việc truyền giáo ở Nước Mặn, tức vùng Qui Nhơn ngày nay [71]. Sau đây là những chữ quốc ngữ, phần nhiều là địa danh, trong bản tường trình của Gaspar Luis.



    Dinh Cham, Cacham: [72] Dinh Chàm, Ca Chàm (Kẻ Chàm).

    Nuocman, Quanghia, Quinhin, Ranran [73] : Nước Mặn, Quảng Nghĩa, Qui Nhơn, Ran Ran (Đà Nẵng).

    Bendâ [74] : Bến Đá. Một làng cách Qui Nhơn ngày nay chừng 80 cs về phía Bắc. Năm 1622 Bến Đá mới làm nhà thờ.

    Bôdê [75] : Bồ Đề. Một làng ở phía Nam Bến Đá. Giáo hữu ở Bồ Đề góp công của dựng một nhà thờ mới. Khi các Linh mục đến dâng Thánh Lễ, dân chúng tới tham dự rất đông.

    Ondelimbay : «Horum princeps hoc anno fuit Andreas ille, magistratus proenomine Ondelimbay, de quo proximis litteris mentionem fecimus» [76] (Trong số những người cai trị [ở Qui Nhơn] năm nay, có một viên quan chỉ huy của họ tên thánh là An Rê, có chức quan là ông Đề lĩnh Bẩy, [77] mà trong những thư từ gần đây tôi đã nhắc tới).

    Ondelim, Ondedoc : «Etenim rex ob exationem prosperè confectam, mutato Andreae titulo Ondelim, appellari jussit Ondedoc, maiori dignitatis gradu, ac reliquis universae provinciae praeesse Mandarinis»[78] (Vì vua [Chúa Nguyễn Phúc Nguyên] muốn hoàn thành [công việc] cho thịnh vượng, nên đã truyền đổi tước hiệu của An Rê là ông Đề lĩnh ra ông Đề đốc, một cấp bậc lớn hơn và ông được đứng đầu các Quan trong tỉnh [79]).

    Unghe chieu : « Alius hoc anno mandarinus ad Ẹcclesiam ascriptus est, patrio nomine Unghe chieu, christiano Ignatius»[80] (Năm nay một viên quan tên là Ông nghè Chiêu [81] đã gia nhập Giáo Hội có tên là thánh Y Nhã).

    Nhit la Khaum, Khaum la nhit [82] : Nhất là không, không là nhất.


    Tài liệu viết tay năm 1626 của Antonio de Fontes


    L.m. Antonio de Fontes, người Bồ Đào Nha, đến Đàng Trong cùng một chuyên tầu với Gaspar Luis vào tháng 12- 1624. Khi tới xứ này, G. Luis liền xuống Nước Mặn để học tiếng Việt còn Antonio de Fontes ỏ lại cư sở Dòng Tên tại Kẻ Chàm cùng với Đắc Lộ và F. de Pina. Lúc ây Pina là Bề trên cư sở này và đã thông thạo tiếng Việt. Chính Pina là Thầy dạy tiếng Việt cho Fontes và Đắc Lộ : «Ao presente temos ja tres residencias, as duas estavão formadas ; a 3a assẽtis (?) eu agora na Corte do principe, onde ficão tres Pes dassento o Pe Franco de Pina que sabe muito bem a lingoa por superior, e mestre, e os Pes Alexandre Rhodes e Anto de Fontes por subditos, e discipulos» [83] (Hiện nay chúng tôi có ba cư sở mà hai trong số này [Hội An, Nước Mặn] đã được hoàn thành [theo giáo luật]; còn cư sở thứ ba tại “thủ phủ” quan “trân thủ” [84], nơi mà lúc này tôi [đang tạm trú], có ba Linh mục định cư : L.m. Francisco de Pina biết tiếng [Việt] khá lắm, làm bề trên và là giáo sư [dậy tiếng Việt], và các L.m. Đắc Lộ cùng Antonio de Fontes là thuộc viên và học viên).


    Ngày 1-1-1626, L.m. Fontes viết tại Hội An một bản tường trình hàng năm bằng tiếng Bồ Đào Nha gửí L.m. Mutio Vitelleschi, Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã. Tài liệu dài 17tờ tức 34 trang, viết chữ cỡ nhỏ trong khổ 14, 50 x 23 cm. Bản tường trình về năm 1625 chia ra ba phần : Phần một, “Casa de Taifõ” (Nhà Hội An) ; Phần hai, “Residencia de Dĩgcham, chamada vulgarmte Cacham” (Cư sở Dinh Chàm, bình dân gọi là Ca Chàm) ; Phần ba, “Residencia de Nuocman na pua de Quinhin ” (Cư sở Nước Mặn trong tính Qui Nhơn) [85]. Sau đây là những chữ quốc ngữ trong bản tường trình của Antonio de Fontes.


    Tuy số chữ quốc ngữ không nhiều, nhất là đối với một bản tường trình dài 34 trang ; nhưng cũng như tài liệu trên đây của G. Luis, nó giúp chúng ta hiểu hơn về giai đoạn thành hình 1626.


    Dĩgcham [86] : Dinh Chàm.

    Núocmam [87] : Nước Mặn.

    Quinhin [88] : Qui Nhơn.

    Sinua [89] : «No principio de Janro foi o Pe Visitor a corte de Sinua visitor a Rei» (Đầu tháng giêng, L.m. Giám sát [G. de Matos] đến chầu vua [Chúa Sãi] ở triều đình Xứ Hóa [Thuận Hóa]).

    Sinua [90] : Xứ Hóa.

    Orancaya : «Entre todos estas pessoas a principal foi huã Orancaya, uo molher pequena do Rej velho ja defunto (...) Chamouse no bautismo Maria» [91] (Trong số" những người [đã chịu Thánh Tẩy] có một người quan trọng là Orancaya, hay là thứ phi của vị tiên vương đã từ trần. Khi chịu phép Thánh Tẩy bà mang tên thánh là Maria). Chúng tôi không hiểu chữ Orancaya bây giờ phải viết thế nào, chỉ biết rằng bà là thứ phi của Chúa Nguyễn Hoàng, sau này được truy tặng là Minh Đức Vương thái phi. Bà được L.m. F. de Pina làm phép Thánh Tẩy văo năm 1625. Bà tận tâm giúp đỡ các nhà truyền giáo và các giáo hữu. Bà Minh Đức qua đời khoảng năm 1649, thọ 80 tuổi [92]

    Quan [93] : Quảng. Quảng Nam.

    Xabin : «Ja o anno passodo se escreviu como Xabin Paulo pessoa bem conhecida na Corte do principe, fora escolhido, e mandado por embaixador a Sião» 94 (Năm ngoái có một người ghi tên [gia nhập Giáo hội], đó là ông Bảo Lộc Xá Bình (?), một người danh tiếng tại phủ quan trấn thủ [Quảng nam], ngoài ra ông đã được chọn và được ủy nhiệm làm đại sứ đi Xiêm).

    Bến Đá [95] : Bến Đá. Xã Bến Đá.

    Bude [96] : Bồ Đề. Xã Bồ Đề.

    Ondelimbay [97] : Ông Đề lĩnh Bẩy (An Rê Bẩy).

    Ondedóc [98] : Ông Đề đốc. Ông An Rê Bẩy mới được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong chức Đề đốc.

    Onghe Chieu : “Este anno se bautizou nesta casa hũ mandarim por nome Onghe Chieu homẽ de grandes letras (...) chamouse no bautismo Ignaciô” [99] (Năm nay một viên quan tên là Ông Nghè Chiêu [Chiểụ, Chiếu ?] là nhà đại trí thức [ở Qui Nhơn] đã được rửa tội trong nhà này [nhà Dòng Tên ở Nước Mặn] (...) mang thánh hiệu Y Nhã).

    Nhít la Khấu, Khấu la nhít [100] : Nhất là không, không là nhất.

    Dinh Cham [101] : Dinh Chàm.

    Sinoá [102] : Xứ Hóa.


    Tài liệu viết tay năm 1626 của Francesco Buzomi


    Ngày 13-7-1626, Linh mục Francesco Buzomi viết một bức thư bằng Ý văn gửi cho L.m. Mutio Vitelleschi, Bề trên Cả Dòng Tên. Nơi viết thư là Đàng Trong (tác giả đề là Cochinchina, chứ không đề rõ là ở Nước Mặn hay Hội An). Cũng nên biết rằng, Buzomi đề thư là ngày 13-7-1625; thực ra ông đã đề lầm năm, vì phải đề là 13-7-1626 mới đúng. Sở dĩ chúng tôi dám quả quyết như thế là vì ông viết “năm ngoái L.m. F. d. Pina bị chết đuối". Thế mà Pina chết đuối ngày 15-12-1625 như chúng ta đã biết. Thư gồm 4 trang giấy, chữ viết nhỏ xíu trong khổ 21 x 30 cm (trang thứ tư khổ 21 x 7 cm) [103]. Trong thư ta thấy có mấy chữ quốc ngữ được tác giả viết theo lối cách ngữ như ngày nay.

    xán tí [104] : Xán tí (thượng đế).

    thien chu [105] : Thiên Chủ (Thiên Chúa).

    thien chũ xán tí [106] : Thiên Chủ Thượng Đế.

    ngaoc huan : “il nome xán tí e sopra nome d’un pagode por nome, ngaoc huan” [107] (danh từ Thượng Đế còn là tên một ngôi chùa [ở Đàng Trong] cũng có tên là Ngọc Hoàng).


    Trang thứ nhất của bức thư này tác giả trình bày việc L.m. giám sát Gabriel de Matos đã xem xét xong công việc truyền giáo ở Đàng Trong từ cuốỉ năm 1624, về những hoạt động của Pina và cái chết của ông, về việc các Linh mục ở Đàng Trong đã cử Đắc Lộ “là người hoạt động rất giỏi và là tu sĩ tốt, cùng về Áo Môn một chuyến với Matos, để rồi từ Áo Môn hy vọng Đắc Lộ sẽ tới được Đàng Ngoài để bắt đầu mở cuộc truyền giáo trong xứ này”. Ba trang sau Buzomi “tranh luận” về các danh từ Thiên Chủ, Thượng đế; ông trưng dẫn ý tưởng của Thánh Phao Lô và Tôma, để nhấn mạnh đến việc phải thích nghi tôn giáo vào địa phương ngay cả trong ngôn ngữ... Ý của Buzomi là ở Đàng Trong nên dùng từ ngữ Thiên Chủ (Thiên Chúa) chứ không nên dùng Thượng Đế.


    Nhìn vào những chữ quốc ngữ của Buzomi trên đây, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, c. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước. Thật ra ngay Buzomi vào năm 1622, ông cũng chưa viết từ ngữ Thienchu cách nhau như sau đó bốn năm. Chúng ta biết, ngày 20-5-1622 Buzomi đã viết một bức thư tại Nước Mặn gửỉ cho Bề trên Cả Dòng Tên, và trong thư này ông đã viết từ ngữ Thiên ChủThienchu [108].


    Trên đây chúng tôi đã sơ lược sự thành hình chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu tiên, mà chúng tôi tạm ấn định là từ năm 1620-1626. Từ 1627-1630, chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào quan trọng về chữ quốc ngữ. Nhưng từ năm 1631 trở đi, chúng tôi khám phá được một vài tài liệu quý giá về chữ quốc ngữ, mà chúng tôi tạm cho là giai đoạn thứ hai của chữ quốc ngữ (1631-1648).


    GIAI ĐOẠN HAI : 1631-1648


    Trong giai đoạn 1631-1648 của chữ quốc ngữ, chúng tôi nhận thấy, những tài liệu dưới đây của Linh mục Đắc Lộ và Gaspar d’Amaral đáng lưu ý hơn cả, nhất là tài liệu của Amaral. Những trang liền đây sẽ cho chúng ta thấy chữ quốc ngữ đã được viết khá đúng về hai phương diện: cách ngữ và dấu.


    Tài liệu viết tay của Đắc Lộ từ 1631-1647


    Do những tài liệu viết tay của Đắc Lộ mà chúng tôi tìm được, có thể giúp chúng ta biết trình độ chữ quốc ngữ của ông trong thời gian 1631-1647. Vì chúng tôi muốn trình bày sự hình thành chữ quốc ngữ theo thứ tự thời gian, nên đã sắp những tài liệu của Đắc Lộ do ông soạn từ 1631-1636 vào Giai đoạn hai : 1631-1648. Thật ra, như bạn đọc sẽ thấy, những tài liệu của Đắc Lộ viết từ năm 1631-1636 phải sắp lên Giai đoạn một mới đúng, nếu không trình bày theo thứ tự thời gian. Bởi vì, nếu chúng ta so sánh lối viết chữ quốc ngữ của Đắc Lộ năm 1631, với lối viết của Buzomi năm 1626, thì hai lối viết gần giống nhau, nghĩa là trình độ gần như nhau. Thế mà vì tôn trọng việc trình bày theo thứ tự thời gian, chúng tôi đã phải đặt tài liệu cửa Buzomi năm 1626 vào cuối giai đoạn một, còn tài liệu của Đắc Lộ từ năm 1631-1636 vào đầu giai đoạn hai.


    Thư của Đắc Lộ viết tháng 1-1631


    Chúng ta biết, tháng 7-1626, Đắc Lộ rời Đàng Trong về Áo Môn. Mãi đến ngày 12-3-1627, hai L.m. Pedro Marques và Đắc Lộ mới khởi hành từ Áo Môn để đi Đàng Ngoài, và ngày 19-3 năm đó tầu chở hai ông tới Cửa Bạng (Thanh Hóa). Tháng 5-1630, hai Linh mục bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất hoàn toàn khỏi Đàng Ngoài. Về Áo Môn, Đắc Lộ được cấp trên chỉ định làm giáo sư Thần học tại Học viện “Madre de Deus” (Mẹ Đức Chúa Trời). Ngày 16-1-1631, Đắc Lộ viết một thư dài bằng chữ Bồ Đào Nha, gửi cho Linh mục Nuno Masscarenhas ở La Mã, là phụ tá Bề trên Cả Dòng Tên vùng Bồ Đào Nha. Thư dài trên ba trang rưỡi, viết dầy chi chít trong khổ 20 x 30 cm. Nội dung bức thư là những hoạt động truyền giáo của Pedro Marques và Đắc lộ trong hai ba năm trời ở Đàng Ngoài (3-1627 đến 5-1630). Bức thư dài như vậy, chỉ thấy một chữ quốc ngữ là Thinhuã (Thanh Hóa), ngoài ra không còn chữ nào khác [109].


    Tài liệu của Đắc Lộ viết vào tháng 5-1631


    Đắc Lộ soạn bản văn này bằng La ngữ. Tác giả không ghi rõ niên hiệu cũng như nơi soạn thảo, tuy nhiên nội dung cho ta biết được là viết vào khoảng tháng 5-1631, lúc ông đã rời Đàng Ngoài về Áo Môn được một năm. Tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố của Hàn lâm viện Sử học Hoàng gia ở Madrid [100], khác với các tài liệu trên được giữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã. Tác giả thuật lại việc từ lúc ông tới Cửa Bạng ngày 19-3-1627 đến lúc Linh mục Antonio F. Cardim đến Thăng Long ngày 15-3-1631. Tài liệu dài hai trang rưỡi, viết nhỏ li ti trong khổ 16 x 23 cm. Bản văn này cũng chỉ có mấy chữ quốc ngữ sau đây [111]:


    Sinoa : Xứ Hóa (Thuận Hóa)

    Anná : An Nam.

    Sai : Sãi. Các vị Sư Sãi.

    Mía : “Mía domũ vocabant” [112] (Họ gọi là nhà Mía). Về chữ mía chúng tôi không rõ bây giờ phải viết thế nào? Chỉ biết rằng, theo văn mạch thì hiểu được chữ đó có nghĩa là nhà tạm trú.

    Bochinũ, Gueanũ [113] : Bố Chính, Nghệ An. Tác giả đã làm biến thể hai địa danh Bố Chính và Nghệ An sang La ngữ.


    Hai tài liệu viết tay trên đây của Đắc Lộ đều có quá ít chữ quốc ngữ. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể cho rằng Đắc Lộ viết chữ quốc ngữ còn kém Francesco Buzomi, vì ngay vào năm 1626, Buzomi đã sử dụng lối cách ngữ và đã dùng dấu, tức là đã phân biệt được phần nào về thanh tiếng Việt, là một điều rất khó đốì với những người Âu Châu nói cách chung. Dưới đây chúng ta sẽ thấy Đắc Lộ ghi chữ quốc ngữ khá hơn, nhờ tài liệu năm 1636 mà chúng tôi tìm được


    Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1636


    Cũng may chúng tôi khám phá được một tài liệu viết tay rất dài của Đắc Lộ, tức bản thảo cuốn sách Tunchinensis Historiae libri duo mà phần lớn đã được Đắc Lộ soạn vào năm 1636. Chính bản viết tay quý giá này còn lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã [114], sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn trình độ chữ quốc ngữ của Đắc Lộ.


    Chúng ta biết rằng, sau khi Đắc Lộ bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài, ông được chỉ định dạy Thần học tại Học viện “Madre de Deus” ở Áo Môn trong 10 năm trời (1630-1640). Đắc Lộ tự coi như mình bị cầm chân trong 10 năm đó, vì ông muốn trở lại Đàng Ngoài hoạt động truyền giáo như trước, hay ít ra cũng được trở lại Đàng Trong để sống với người Việt Nam. Thật ra nếu Bề trên muốn, thì ông vẫn có thể trở lại Đàng Ngoài được, dầu ông đã bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất. Bởi vì nhà cầm quyền Đàng Ngoài chưa có ác cảm với ông nhiều, còn đối với tôn giáo mới là Công giáo, họ cũng không cấm hoàn toàn. Chính vì thế mà vào tháng 3-1631, bốn Linh mục Dòng Tên là Gaspar d’Amaral, André Palmeữo, Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim từ Áo Môn đến Thăng Long đã được Chúa Trịnh Tráng tiếp nhận, và ông cho phép hai Linh mục Gaspar d’ Amaral, Antonio F. Cardim được phép ở lại Thăng Long ; tới năm 1632, lại có thêm ba L.m. Dòng tên khác đến Đàng Ngoài : Raymond de Govea (Tây Ban Nha) và hai người Ý là Bemardin Reggio, Jérôme Mayorica. Vậy nếu Đắc Lộ có trở lại Đàng Ngoài, thì nhà cầm quyền xứ này cũng có thể chấp nhận, ít nhất là trong một thời gian ngắn. Hồi ấy Chúa Trịnh Tráng tiếp nhận các nhà truyền giáo từ Áo Môn tới, không phải vì ông mộ mến đạo Công giáo, nhưng vì thương mại : các giáo sĩ Tây phương có mặt ở Đàng Ngoài làm cho các thương gia Bồ Đào hay lui tới xứ này, nhờ đó Chúa Trịnh Tráng có thể mở ngoại thương với Áo Môn dễ dàng hơn.


    Sỏ dĩ Đắc Lộ phải vắng mặt ở Việt Nam từ 1630- 1640 là vì một số tu sĩ ở Áo Môn không đồng ý với ông về ít nhiều thích nghi của ông tại Việt Nam, ví dụ : vấn đề từ ngữ Ki tô giáo, như từ ngữ Đức Chúa Trời Đất, vấn đề lập “Dòng tu”, Thầy giảng, việc thích nghi tập tục Việt Nam vào phụng vụ v.v... Dầu không hy vọng được trở lại Đàng Ngoài hoạt động, nhưng nhà truyền giáo của chúng ta vẫn luôn luôn muôn hiến đời sống mình cho Giáo hội Đàng Ngoài. Để tỏ lòng tha thiết với xứ này. Đắc Lộ đã soạn một tập lịch sử chính trị, xã hội và Công giáo Đàng Ngoài. Cuốn sách quý giá này được xuất bản tại La Mã năm 1650 và tại Lyon năm 1651, 1652, bằng ba thứ chữ : Ý, Pháp, La tinh. Như thế là bản thảo đầu tiên bằng La văn lại được in sau, tức 1652, còn bản Ý văn in đầu tiên năm 1650 và bản Pháp văn do L.m. Herry Albi dịch (có lẽ dịch từ bản thảo La văn) in năm 1651. Cũng nên biết rằng, cứ theo cuốn Ý văn, không thấy đề tên người dịch như vậy có thể hiểu được rằng, bản Ý văn do chính Đắc Lộ dịch ra từ bản La văn, nhưng không rõ ông dịch bản này khi còn ở Áo Môn, hay trong cuộc hành trình về La Mã (cuối năm 1645 đến giữa năm 1649), cũng có thể là sau khi ông đã về tới La Mã [115].


    Nhờ có niên hiệu ghi trên bản thảo, chúng ta biết được Đắc Lộ đã soạn tập này vào năm 1636. Nhưng cuối bản thảo còn có mấy chương viết về tình hình truyền giáo ở Đàng Ngoài đến năm 1646; do vậy, có thể hiểu được rằng, sau năm 1636 Đắc Lộ đã viết thêm mấy chương đó và lúc soạn thảo những chương này có lẽ là sau khi tác giả đã về tới La Mã (27-6-1649)


    Bản thảo bằng La ngữ gồm 62 tờ, tức 124 trang chữ, trong khổ 14 x 24 cm, mỗi trang trung bình có 43 dòng chữ viết nhỏ li ti. Bản thảo chia làm hai quyển : Quyển I, thuật lại lịch sử tổng quát của Đàng Ngoài về phương diện địa dư, chính trị, hành chính, kinh tế, tiền tệ, thuế má, tôn giáo, văn học, phong tục v.v... ; Quyển II, dầy gấp đôi Quyển I, ghi lại lịch sử truyền bá Phúc Âm ở Đàng Ngoài từ 1627- 1646.


    Sau đây chúng tôi xin ghi lại những chữ quốc ngữ trong bản thảo của Đắc Lộ. Chúng tôi cũng xin bạn đọc miễn cho khỏi ghi số tờ có chữ quốc ngữ, vì nếu ghi lại hết thì quá dài.


    QUYỂN MỘT


    Tình trạng “trần thế” nước Đông Kinh [Đàng Ngoài] (De statu temporali regni Tungkin), f. lr-21v


    Tung : Đông. Đông Kinh.

    kin : kinh. Đông Kinh.

    Annam: An Nam.

    Ainam: Hải nam. Đảo Hải Nam.

    Chúacanh : Chúa Canh. Có lẽ là Chúa Cao, tức là nhà Mạc cai trị vùng Cao Bằng.

    Che ce : Kẻ Chợ. Thủ đô Thãng Long.

    Chúa bàng: Chúa Bằng. Đắc Lộ dịch chữ bằng có nghĩa là công bằng; nhưng thực ra phải dịch là bình an.Vì tác giả gọi Cháu Trịnh Tùng là Chúa Bằng, tức là Bình an vương. Trịnh Tùng qua đời năm Quí hợi (1623) ngày 20 tháng 6 đời Vĩnh tộ.

    Chúa oũ: Chúa Ông. Thời đó dân chúng cũng gọi Trịnh Tráng là Chúa Ông.

    Chúa thanh do : Chúa thanh đô. Chúa Thanh đô vương Trịnh Tráng.

    uuan : vương.

    min: Minh. Sáng sủa, rõ ràng.

    bat min: Bất minh. Không rõ ràng, sáng sủa.


    Thời kỳ Chúa Trịnh Tráng, hàng năm cứ vào ngày 6 âm lịch, quân lính ở thủ đô phải đọc lời tuyên thệ trung tín với Chúa. Ai đọc rõ ràng, được phê chữ Minh ; đọc không rõ, phê Bất minh ; đọc rõ vừa phải, phê Thuận.


    thuam: Thuận. Người lính tuyên thệ, đọc rõ vừa vừa.

    uan: văn. Quan văn.

    uu: vũ. Quan vũ, quan võ.

    gna ti : Nhà Ti (Ty). Tại mỗi Xứ, có Nhà Ty hay Nha Ty

    gna hien: Nhà Hiến. Tại mỗi xứ có Nhà Hiến hay Nha Hiến.

    cai phu: Cai Phủ.

    cai huyen : Cai Huyện.

    gna huyen: Nhà Huyện.

    cai xã: Cai Xã. Người đứng đầu một Xã.

    Bua: Vua.

    den: Đền. Thi Đền, Thi Đình.

    sin do: Sinh đồ. Người đi Thi Hương đậu Sinh đồ.

    huan com : Hương cống. Người đi Thi Hương đậu Hương cống.

    ten si : Tiến sĩ. Người đi thi Hội đậu Tiến sĩ.

    tam iau : Tam giáo. Ba tôn giáo lớn ở Đàng Ngoài : Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo.

    dau nhu : Đạo Nho. Đạo Khổng hay Khổng giáo.

    dau thic : đạo Thích. Đạo Thích Ca hay đạo Phật.

    Thicca : Thích Ca.

    Thiccả : Thích Ca. Trong bản thảo chỉ có chỗ này (f. 12r) Đắc Lộ viết là Thiccả, còn các chỗ khác ông đều viết là Thicca hoặc Thic ca.

    sai : Sãi. Các vị Sãi.

    sai ca : Sãi Cả. Vị sư đứng đầu nhiều Sư nhiều chùa.

    Lautu : Lão Tử.

    Giô : Giỗ. Cúng giỗ, làm giỗ, ăn giỗ.

    cu hồn: cô hồn.

    ba hôn : ba hồn.

    bai via : bẩy vía.

    chin via: chín vía. Ngày xưa dân Việt cho rằng, đàn ông có ba hồn bẩy vía; còn đàn bà có ba hồn chín vía. Dịp khánh đản, Chúa Trịnh Tráng tổ chức rước vía long trọng.

    dum : Đồng. Ví dụ đặt tên cho một người là Đồng.


    QUYỂN HAI


    Đức tin Ky Tô bắt đầu [được truyền bá] ở nước Đông Kinh và sự tiến triển [của đức tin] (De Principio ac progressu fidei) Christianae in Tunchinensi Regno), f. 22r-62v.


    cua bang: Cửa Bạng. Thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đắc Lộ và Pedro Marques tới Cửa Bạng ngày 19- 3-1627.

    phạt, but: Phật, Bụt.

    dang: đàng. Đàng đi, hay đường đi.

    Ciua ou : Chúa Ông. Ở đây tác giả muôn nói là Chúa Nguyễn Hoàng.

    Ciua ban uuan: Chúa Bằng vương. Bình an vương Trịnh Tùng.

    Ciua sai : Chúa Sãi. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

    Ciua Canh : Chúa Canh. Có lẽ là Chúa Cao cai trị Cao Bằng.

    thinh hoa : Thanh Hóa. Tỉnh hay Xứ Thanh Hóa.

    thai : thầy.

    sai vai : Sãi Vãi.

    Che bich : Kẻ Vích. Cửa Vích. Theo bản đồ Việt Nam mà Đắc Lộ cho xuất bản, thì ông viết là Cuabic, một cửa sông ở phía Bắc Thanh Hóa.

    Che no: Kẻ Nộ. Trong bản đồ của Đắc Lộ ghi là Van-no, tức Vạn Nộ, có lẽ là chính tính lỵ Thanh Hóa ngày nay.

    Ghe an: Nghệ An. Tỉnh Nghệ An.

    bochin :Bố Chính. Xứ Bố Chính ỏ phía Nam Nghệ An.

    Rum : Rum. Cửa Rum ở Nghệ An.

    Kiemthuong: Kiêm Thượng. Chúa Kiêm Thượng Trịnh Tạc, Trịnh Tạc có danh hiệu này đến năm 1652, là năm ồng lấy danh hiệu Tây định Vương.

    Phuchen: Phúc Chân. Ngày 11-3-1647, Trịnh Tạc nhận L.m. Dòng Tên người Ý là Félix Morelli làm con nuôi. Từ lúc đó Trịnh Tạc cho F. Morelli một tên mới là Phúc Chân.

    cà, c, cả : cà, cả, cá.

    tlẽ, tle : trẻ, tre.


    Sau khi chúng ta đã trích những chữ quốc ngữ trong bản thảo cuốn “Tunchinensis historiae libri duo” viết tay vào năm 1636, bây giờ chúng ta thử đem so sánh với một số chữ quốc ngữ trong ba cuốn sách in tại La mã, Lyon vào các năm 1650, 1651, 1652. Như thế chúng ta sẽ thấy được có những chữ đã in giống với bản thảo 1636, nhưng cũng không thiếu những chữ đã in khác với bản thảo.


    Bản viết tay Bản Ý văn Bản Pháp Văn Bản La văn


    1636 in 1650 in 1651 in 1652


    Tung Tun Tun Tum


    kin Chin quin quin


    Annam Annàm Annam Annam


    Che ce Chece Che ce Chè cè


    Chúacanh Ciuacain Ciũa Cauh Ciũa-chanh


    Chúa oũ Ciuaon Ciua ou Ciủa ou


    Chúa bàng Ciuàbàng Ciua bang Ciua bang


    Chúa thanh do Ciua thanh do Ciũa thanh do Ciua Thando


    uuan Vuàn VVan Vuan


    thuam Ihuam thuan Thuan


    uan Van Van Van


    uu Vu Vu Vu


    gnati Gnati Gna to Gna ti


    gna huyen Gnà huyen Gna huyen Gna huyen


    Cai Xã Cai xà Cai xa Caixa


    huan com huam Com Huan Com huancon


    Lautu Lauta Lautu Lautu


    cu hồn Cuhon Cuhon Cuhon


    phạt Bhat Phat Phat


    thinh hoa Tinhoa Thin hoa Thin hoa


    sai vai Say Vay Saj Vaj Sai Vai


    Ghe an Ghéan Ghean Ghean


    Kiemthuong Kiem Iuonq Kien Thuong Kiem thuong


    Phuchen Phuchien Pluchen Phucon


    Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1644


    Dưới đây là một tài liệu khác cũng do Đắc Lộ soạn thảo sau khi An Rê Phú Yên[116] tử đạo một tuần (tử đạo 26-7-1644 tại Thanh Chiêm hay Kẻ Chàm cũng thế) mà chính Đắc Lộ được chứng kiến [117]. Tác giả viết bằng chữ Bồ Đào Nha, thuật lại cuộc tử đạo của An Rê với nhan đề “Relaẹão do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchina alanceado, e degolado em Cachão nos 26 de Julho de 1644 tendo de Idade dezanove annos” [118] (Tường thuật cuộc tử đạo vinh hiển của Thầy giảng An Rê, vị tử đạo tiên khởi ở Đàng Trong, đã bị đâm chém tại Kẻ Chàm ngày 26-7-1644, tử đạo lúc 19 tuổi).


    Đắc Lộ viết bài này ở gần Thanh Chiêm ngày 1-8-1644. Tài liệu dài 16 trang viết chữ thưa trong khổ 11 x 21 cm, mỗi trang trung bình có 26 dòng chữ viết, nhưng chỉ có mây chữ quốc ngữ sau đây :


    Oúnghebo, Oũnghebo [119] : Ông Nghè Bộ.

    giũ nghiã cũ đ Chúa Jesu cho den het hoy, cho đen blon đoy [120] : giữ nghĩa cùng đức Chúa Jêsu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời.


    Tài liệu này vừa vắn vừa ít chữ quốc ngữ, nên khó mà so sánh được với bản văn năm 1636, để thấy mức độ tiến triển của tác giả. Tuy nhiên, chúng tôi xin đưa ra một nhận xét sau đầy có tính cách tổng quát là, vào năm 1644, Đắc Lộ đã viết chữ quốc ngữ khá hơn 8 năm trước, vì từ năm 1640 ông trở lại truyền giáo ở Đàng Trong nên có dịp thực hành hàng ngày; ngoài ra, nếu cứ nhìn vào câu “giũ nghiã cũ đ Chúa Jesu...” cũng thấy được phần nào mức tiến của Đắc Lộ. Hơn nữa căn cứ vào câu văn này, chúng ta thấy Đắc Lộ đã viết thành câu văn chứ không phải chỉ có những chữ quốc ngữ rời rạc như các tài liệu trên.


    Tài liệu của Đắc Lộ viết năm 1647


    Ngoài những tài liệu quan trọng trên đây về chữ quốc ngữ của Đắc Lộ, chúng tôi còn tìm được một tài liệu viết tay khác của ông. Đó là “Alexandri Rhodes è Societate Jesu terra marique decẽ annorũ Intinerarium” [121] (Cuộc hành trình mười năm trên bộ dưới biển của Đắc Lộ, thuộc Dồng Tên) viết bằng La văn tại Macassar ngày 4-6-1647 [122], chữ nhỏ li ti trong khổ 14,5 X 27 cm. Phần tài liệu chúng tôi tìm thấy chỉ gồm 61 chương, nhưng thiếu từ chương 50-58 và phần cuối chương 61. Tác giả không đặt đầu đề mỗi chương ở giữa trang như bản thảo cuốn “Tunchinensis Historiae libri duo ”, nhưng đặt ở lề trang. Đắc Lộ đặt tên cho tài liệu này là “cuộc hành trình mười năm” tức là ông chủ ý thuật lại những cuộc di chuyển trên bộ dưới biển của ông trong 10 năm trời : 1640-1645 (Áo Môn - Đàng Trong) và 1645-1649 (Áo Mồn - La Mã).


    Bản thảo này đã được dịch ra Pháp văn in lần đầu tiên ở Ba Lê năm 1653 trong Phần II cuốn “Divers voyages et missions ”. Cũng cần ghi nhận rằng, cho đến nay, bản thảo La văn chưa bao giờ được ấn hành, mặc dầu bản Pháp văn được tái bản nhiều lần và được dịch sang Đức văn, Anh văn [123]. Thực ra bản thảo của Đắc Lộ hiện chúng tôi có trong tay, hầu hết thuật lại việc tác giả đi đi về về từ Đàng Trong đến Áo Môn (1640-1645), còn cuộc hành trình từ Áo Môn về La Mã (1645-1649) được in trong Phần III cuốn “Divers voyages et missions” thì chúng tôi không tìm thấy (chắc chắn phần này được Đắc Lộ soạn từ sau tháng 6-1647 trên đường từ Macassar về La Mã hoặc ở La Mã, Ba lê). Tuy nói là bản thảo được dịch và in trong Phần II cuốn sách trên đây, nhưng khi xuất bản có khá nhiều thay đổi, không những về số chương mà lại còn thêm bớt một số vấn đề, khác với cuốn “Tunchinensis Historiae libri duo” hầu như giống hoàn toàn với bản thảo.


    Sau đây là những chữ quốc ngữ được Đắc Lộ ghi trong tài liệu, hầu hết là những địa danh. Tài liệu có rất ít chữ quốc ngữ. Một điều khác làm chúng ta thắc mắc là không hiểu tại sao vào năm 1647, Đắc Lộ còn ghi chữ quốc ngữ luộm thuộm như vậy? Thực ra, vào năm 1644 chữ quốc ngữ của ông đã tiến khá nhiều, vậy mà ba năm sau ông còn ghi tương tự như năm 1636. Đó là điều làm chúng ta khó hiểu. Bây giờ chúng tôi xin trích ra khoảng một phần ba tổng số chữ quốc ngữ trong tài liệu. Chúng tôi cũng không ghi số tờ có chữ quốc ngữ, song vẫn trình bầy theo thứ tự trước sau của tài liệu.


    Ciam : Chàm. Kẻ Chàm, thủ phủ Quảng Nam Dinh. Nhiều khi tác giả dùng để chỉ cả tĩnh Quảng Nam.

    Ranran : Ran Ran. Tác giả có ý chỉ vùng Phú Yên.

    Kẻ han : Kẻ Hàn. Cửa Hàn tức Đà Nẵng ngày nay.

    on ghe bo : Ong Nghè Bộ. Viên quan cái trị Quảng Nam.

    Ke cham: Kẻ Chàm.

    Halam: Hà Lam. Cách Hội An chừng 30 cs về phía Nam.

    Cai tlam, Caitlam : Cát Lâm. Ớ gần Hội An.

    ben da: Bến Đá. Xã Bến Đá.

    Qui nhin: Qui Nhơn.

    Nam binh: Nam Bình. Ở tỉnh Bình Định ngày nay.

    Bao bom : Bầu Vom. Ở gần Quảng Nghĩa (?).

    Quan Ghia : Quảng Nghĩa.

    Nuoc man : Nước Mặn.

    baubeo : Bầu Bèo (?). Làng Bầu Bèo.

    liem cun : Liêm Công (?). Làng Liêm Công.

    Quanghia: Quảng Nghĩa.

    Baubom : Bầu Vom.

    bochinh : Bố Chính.

    oũ nghe bo : Ong Nghè Bộ.


    Sau khi dựa vào các tài liệu viết tay của Đắc Lộ nhất là nếu chỉ hạn định đến năm 1636, chúng ta biết được ông ghi chữ quốc ngữ khác nhiều với hai quyển sách quốc ngữ ông cho xuất bản vào năm 1651. Nếu chỉ căn cứ vào hai cuốn sách trên đây, người ta có thể lầm Đắc Lộ là người có công nhiều nhất trong việc sáng tác chữ quốc ngữ. Nhưng nhờ những tài liệu viết tay của ông, chúng ta hiểu được trình độ chữ quốc ngữ của ông. Hơn nữa, nếu đem so sánh với L.m. Gaspar d’Amaral vào năm 1632, chắc chắn L.m. này giỏi hơn Đắc Lộ nhiều.


    Tài liệu viết tay của Gaspar d’Amaral năm 1632 và 1637


    Trước khi trình bày những chữ quốc ngữ trong hai tài liệu trên đây, thiết tưởng cũng nên nhắc qua tiểu sử của ông.


    Gaspar d’Amaral [124] sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 1-7-1608. L.m. Gaspar d’ Amaral đã làm giáo sư La văn, Triết học tại các Học viện và Đại học Evora, Braga, Coimbra ở Bồ Đào Nha. Năm 1623, Amaral rời quê hương đi Áo Môn hoạt động truyền giáo.


    Gaspar d’Amaral tới Đàng Ngoài lần đầu tiên vào tháng 10-1629 cùng với Thầy Paulus Saito, người Nhật [125], nhưng đến tháng 5-1630, ông phải rời xứ này cùng một chuyến tàu với hai L.m. Pedro Marques, Đắc Lộ và Thầy Paulus Saito để về Áo Môn. Ngày 18-2-1631, Gaspar d’Amaral cùng với ba L.m. Dòng Tên khác cũng là những người Bồ Đào Nha, tức André Palmeiro [126], Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim [127], từ Áo Môn đáp tàu buôn Bồ Đào Nha đi đàng ngoài, với mục đích truyền giáo. Sau hai tuần lễ, tàu các ông tới một cửa biển Đàng Ngoài, rồi mãi đến ngày 15-3 năm đó các ông mới tới thủ đô Thăng Long. Tại đây, các Linh mục cũng như đoàn thương gia Bồ Đào được Chúa Trịnh Tráng đón tiếp niềm nở. Trịnh Tráng ra lệnh cho người con rể của ông đưa các Linh mục trú ngụ ở một ngôi nhà trong Phủ Chúa. Chúng ta biết, A. Palmeiro đến Đàng Ngoài với hai mục đích : nhận xét tại chỗ những hoạt động mới đây của P, Marques, Đắc Lộ và gặp Chúa Trịnh Tráng ; sau đó ông phải về Áo Môn, chứ không chủ ý ở lại Đàng Ngoài, vì ông là Giám sát Dòng Tên hai Tỉnh Nhật, Hoa. Xem ra Chúa Trịnh Tráng rất quý mến các Linh mục.


    Cuối tháng 3 năm 1631 có cuộc thi Hội [128], Chúa Trịnh Tráng cũng mời các Linh mục đi theo ông để chứng kiến cuộc thi. Ngày hôm đó, các ông được Trịnh Tráng cho cưỡi ngựa theo đến trường thi. Lúc đầu các ông từ chối đặc ân này, vì muốn đi bộ như một số quan quân khác, nhưng Chúa muốn như thế, nên các ông phải tuân theo. Riêng Chúa Trịnh Tráng ngự trên kiệu sơn son thiếp vàng do 12 người lực lưỡng khênh (phần nhiều là những tay đô vật nổi tiếng trong nước, mà hầu hết là những người ở Kiên Lao, gần xã Bùi Chu ngày nay), theo sau còn có nhiều quan văn võ đi ngựa và 10.000 lính mang võ khí sáng nhoáng [129].


    Khi hai L.m. Palmeiro và Fontes theo tàu buôn Bồ Đào về Áo Môn, thì Amaral và Cardim vẫn ở lại hoạt động truyền giáo. G. d’Amaral không những tiếp tục công việc của Marques và Đắc Lộ mà ông còn phát triển mạnh hơn, nhất là trong việc thích nghi đạo Công giáo với Việt Nam và việc hoàn thành “Dòng tu” Thầy giảng. Sau 7 năm ở Đàng Ngoài, tức vào năm 1638, Amaral được gọi về Áo Môn giữ chức Viện trưởng Học viện “Madre de Deus ” (Mẹ Đức Chúa Trời) của Dòng Tên. Ba năm sau, Amaral được cử làm Phó Giám tỉnh Dòng Tên Nhật Bản (gồm các nước Nhật, Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Xiêm, đất Áo Môn và hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 1645, Gaspar d’Amaral lại đáp tàu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài truyền giáo, nhưng tàu bị đắm ở gần đảo Hải Nam làm ông bị chết ngày 23-12-1645 [130]. Trong thời gian 7 năm ở Đàng Ngoài, Amaral để lại cho chúng ta hai tài liệu viết tay quí giá, nhờ đó chúng ta biết rõ hơn lịch sử thành hình chữ quốc ngữ.


    Tài liệu của Gaspar d’Amaral viết năm 1632


    Tài liệu này G. d’Amaral viết bằng chữ Bồ Đào tại Kẽ Chợ (Thăng Long) ngày 31-12-1632, nhan đề “ Annua do reino de Annam do anno de 1632, pera o Pe André Palmeiro da Compa de Jesu, Visitador das Provincias de Japam, e China ” (Bản tường trình hàng năm về nước Annam năm 1632, gửi cha André Palmeiro, Dòng Tên, Giám sát các Tỉnh Nhật và Trung hoa), Tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã [131]. Tài liệu dài 48 tờ rưỡi tức 97 trang giấy, viết trong khổ 13 x 21cm. Từ trang 125r đến 160v viết chữ lớn và thưa, nhưng từ trang 161r đến hết trang 174r, chữ viết nhỏ lại và dầy đặc hơn, mặc dầu cùng trong khổ 13 x 21 cm. Bản tường trình chia ra 7 đề mục lớn, nội dung như sau : 12 trang đầu viết tổng quát về địa dư, chính trị Đàng Ngoài và ghi lại những đặc ân Chúa Trịnh Tráng ban cho các L.m., nhất là ban cho các thương gia Bồ Đào , còn 85 trang tiếp theo viết về tình hình giáo đoàn thủ đô và các Xứ.


    Bản tài liệu mà chúng tôi có trong tay không phải hoàn toàn do G. d’ Amaral viết, cũng không phải là chính bản gốc gửi cho L.m. André Palmeiro. Nhưng đây là bản đã được Amaral nhờ người khác sao lại bản gốc do chính tay ông viết, để gửi cho L.m. Antonio d’Amaral [132] ở Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, bản văn này có đầy đủ giá trị của nó và coi như chính Amaral đã sao lại. Bởi vì ông đã ký tên vào bản sao chép này ; hơn nữa, chính ông đã dùng bút sửa lại bên lề trang giấy những chữ mà người sao chép không làm đúng, đặc biệt là Amaral còn cẩn thận sửa lại nhiều chữ quốc ngữ, ví dụ : triết, bên bồ đề, sãy, chuá bàng, bút, iền, Chuá cã, chai, cữa đáy, bà đạu, Vĩnh cang [133], v.v... Hầu hết trang nào Amaral cũng sửa lại mấy chữ. Như thế chứng tỏ tác giả đã đọc kỹ lưỡng bản sao vì muốn cho nó phải đúng ý ông. Vậy, chúng ta phải coi bản này như chính G. d’ Amaral viết. Tiện đây cũng nên biết rằng, hiện nay trong Biblioteca da Ajuda ở thủ đô Bồ Đào Nha cũng có một bản sao của tài liệu trên. Bản này được chép xong tại Áo Môn ngày 8-12-1745 do Trợ sĩ Dòng Tên João Alvares. Chúng tôi đã có dịp so sánh bản chép này với bản chúng tôi trình bày đây, và biết được J. Alvares đã sao chép khá đúng, kể cả những chữ quốc ngữ [134].


    Bây giờ chúng tôi xin ghi lại những chữ quốc ngữ trong tài liệu viết tay của Amaral năm 1632. Chúng tôi cũng xin độc giả miễn cho khỏi chú thích số trang có chữ quốc ngữ. Sau đây là những chữ quốc ngữ theo thứ tự trước sau của bản tường trình.


    Về trần thế của nước [Đàng Ngoài]


    (Do Temporal do Reyno), f. 125r-.128v


    Tum Kim : Đông Kinh. “Xứ An nam mà người Bồ Đào Nha gọi là Tun Kim” (Reino de Anam a que os Portugueses chamo Tum Kim).

    đàng tlaõ, đàng ngoày, đàng tlên : Đàng Trong. Đàng Ngoài, Đàng Trên. Nước này chia làm 3 phần “thứ nhất bắt đầu từ phía Nam, gọi là Đàng Trong, có nghĩa là đường ở phía trong; thứ nhì, Đàng Ngoài, có nghĩa là đường ở ngoài; thứ ba, Đàng trên, có nghĩa là đường ở trên” (à I0, comegando do Sul, chamão, đàng tlaõ, que quer dizer, caminho de dentro; à 20, đàng ngoày, que quer dizer, caminho de fora; à 30, đàng tlên que quer dizer, caminho de cima). Đàng trên tức là vùng Cao Bằng do nhà Mạc cai trị.

    oũ nghè: Ông Nghè.

    nhà thượng đày: Nhà thượng đài. Cơ quan cao cấp ỏ Phủ liêu

    nhà ti, nhà hién : Nhà Ti, Nhà Hiến.

    nhà phũ : Nhà Phủ. Tại mỗi Xứ có nhiều Phủ.

    nhà huyẹn : Nhà Huyện, mỗi Phủ gồm một số Huyện

    oũ Khỏũ : Ông Khổng. Đức Khổng Tử

    Đức laõ : Đức long. Niên hiệu Đức long (1629-1634).

    Vĩnh tộ : Vĩnh tộ. Niên hiệu Vĩnh tộ (1620-1628).

    Bua: Vua.

    tế kì đạo: tế Kì đạo. Lễ tế này nhằm ngày 26 tháng 2 âm lịch.

    đức vương : Đức Vương. Người bình dân thời đó cũng gọi Chúa Trịnh Tráng là Đức Vương.

    chuá oũ : Chúa Ông. Trịnh Tráng cũng được người ta gọi là Chúa Ông, để phân biệt với các Chúa khác.

    chuá tũ, chúa dũ, chuá quành : Chúa Tung, Chúa Dũng, Chúa Quỳnh. Đây là ba anh em của Chúa Trịnh Tráng, vì có công cũng được gọi là Chúa. Năm 1632 Trịnh Tráng phong cho ba người đó như sau : Tung quận công Trịnh Vân làm Tung nhạc công, Dũng quận công Trinh Khải làm Dũng lễ công, Quỳnh quận công Trịnh Lệ làm Quỳnh nham công [135].

    Chuá cả : Chúa Cả. Tước hiệu này dành cho Trịnh Tạc, người sẽ kế vị Trịnh Tráng. Chúa Cả có nghĩa là lớn hơn, sánh với ba Chúa Tung, Dũng và Quỳnh. Theo Amaral, lúc đó chỉ có Trịnh Tráng và Trịnh Tạc cầm quyền thực sự, còn ba Chúa kia chỉ có chức Chúa danh dự. Lúc đó Đàng Ngoài có 5 Chúa (ha ao presente no Reyno cinco Chúa, os dous, Pay e filho, tem o podergos, os tres, saõ so titularey).


    Những ân huệ Vua ban cho các Linh mục và nhất là người Bồ Đào Nha (Dos fauores que el Rey fez aos Pes e mais Portugueses),f. 128v-130v.


    thanh đô vương : Thanh đô vương.

    chuá triết : Chúa Triết. Năm 1624, “truy phong Bình An vương làm Cung hòa khoan chính triết vương” [136]. Từ đó người ta cũng gọi Bình An vương Trịnh Tùng là Chúa Triết.


    Giáo đoàn Đàng Ngoài ở Kẻ Chợ (Da Xpãnde de đàng ngoằy e Kẻ Chợ) , f. 131r-146v


    Kẻ Chợ : Kẻ Chợ. Thủ đô Thăng Long.

    yêu nhău: yêu nhau. Nhiều lương dân Việt Nam lúc đó gọi đạo Công giáo là “đạo yêu nhau” (ley de se amar).

    oũ phô mã liêu : Ông Phò mã Liêu, ông là con rể Trịnh Tráng.

    đàng ngoằy : Đàng Ngoài.

    quãng: Quảng. Thày giảng Thanh Diêu (Tadeo) Quảng.

    tàm đàng: Tam Đàng (?). xã Tam Đàng ở Xứ Tầy.

    bên đoiĩ đa: bên Đống Đa.

    tày: Tầy. Bà Tầy có Thánh hiệu là An Na.

    lằng bôũ bàu : làng Bông Bầu (?).

    cô bệt : Cô Bệt một lương dân ở làng Bông Bầu.

    tri yếu: Tri Yếu. Nhà thờ Tri Yếu.

    kễ hằú : Kẻ Hầu. Ở An Dương huyện.

    ăn dương huyẹn : An Dương huyện.

    coũ thằn: Công Thành. Thày giảng Lu Ca Công Thành.

    Chuá thanh đô : Chúa Thanh đô. Thanh đô vương Trịnh Tráng cấm các Linh mục không được giảng đạo.

    Thíc ca: Thích Ca. Đức Thích Ca.

    phỗ lô xã : Phổ Lô xã. Ở gần Thăng Long.

    ẫv ụy : Sãi Vãi.

    hộy ăn xã : Hội An xã. Cách Thăng Long chừng ba ngày đường.

    huyẹn uịnh lạy : Huyện Vịnh Lại (?). Cách xa Thăng Long.

    Thầi uăn chật: Thầy Văn Chật. Một thầy đồ nổi tiếng cả huyện Vịnh Lại, được Chúa ban chức tước, đã 75 tuổi, tên thánh là A Dong (Adaõ), đứng đầu các giáo hữu ở Vịnh Lại.

    Làng Kể tranh xuyen : làng Kẻ Tranh Xuyên.

    Kẽ trãng : Kẻ Trăng (?). Xã Kẻ Trăng.

    Kẽ đáï : Kẻ Đáy. Cửa Đáy.

    Kẽ lương trũ xã : Kẻ Lương Trung xã.

    sấm phúc xã :Sấm Phúc xã.

    phúc ăn xã : Phúc An xã.

    Kẽ quěn : Kẻ Quèn (?). Xã Kẻ Quèn.

    nghyã ăn xã : Nghĩa An Xã

    hụyen bạyc hặc : huyện Bạch Hạc.

    sãy hõà : Sãi Hòa. Ông Thanh Diêu (Tadeo) Hòa, trước đây là một một vị Sãi.

    thầï phù thũï : Thầy Phù thủy.

    ou chưỡng tuyèn : Ông Chưởng Tuyền. Một quan lớn trong nước, cũng gọi là Ông già Nhạc.

    oũ jà nhạc : ông già Nhạc. Ông này tên là Chưởng Tuyền cai trị toàn Xứ Thanh Hóa, ủng hộ đạo Công giáo.

    bên bồ đề : bên Bồ Đề. Sát cạnh Thăng Long.

    oũ phũ m Kiêm : Ông Phù mã Kiêm. Năm 1632 ông được 80 tuổi.

    : Bà. Bà Mai Liên (Madalena) là thứ phi Chúa Bằng tức Bình An vương Trịnh Tùng.

    chuá bàng : Chúa Bằng.

    thầï đạu : Thầy đạo. Ở Hoàng Xá xã.

    hoằng xá xã : Hoàng Xá xã.

    tư tư huyẹn : Tư Tư huyện.

    thăn Khê : Thanh Khê. Xã thanh Khê.

    hàng bẽ : Hàng Bè. Phố, đường Hàng Bè.

    hàng bút : Hàng Bút. Phố, đường Hàng Bút.

    cữa nam : Cửa Nam.

    Kẽ ăn lẵng :Kẻ An Lãng. Ở gần Bùi Chu bây giờ.

    Kẽ suôy :Kẻ Suôi. Ở gần Kẻ An Lãng.

    quãng bố : Quảng Bố. Tại đây có một ngôi đền ngày trước thờ “ tà thần”, bây giờ trở thành nhà thờ Công giáo.

    hàng Mấm : Hàng Mắm. Phố, đường Hàng Mắm.

    đinh hang : . Đinh Hàng. Bà Ai Liên (Elena), vợ ông Đa Miêng (Damião) ở Đinh Hàng.

    cẵ iền : Cầu Yên. Tại đây mới cất một nhà thờ Công giáo.

    hàng thuốc : hàng Thuốc.

    oũ đô đốc hạ : Ông Đô đốc Hạ. Ông Du Sinh (Giuse) Hạ là Đô Đốc.

    oũ phũ m nhăm : Ông Phù mã Nhâm. Ông có tên thánh là Y Nhã.

    oũ chương hương : Ông Chưởng Hương. Ông Chưởng Hương ở thủ đô chưa chịu phép Thánh Tẩy, nhưng rất mến đạo Công giáo và đã cho cả gia đình chịu phép Thánh Tẩy.


    Một vài cuộc bắt bớ đạo riêng rẽ (D alguas Perseguicoẽs Particulares), f. 147r-153v


    Kẽ mụa : Kẻ Mụa. Một nơi tên là Kẻ Mụa.

    Đức bà xạ : Đức Bà Xạ. Một bà lớn, mẹ dâu của ông Y Nhã.

    thầi : Thầy. Các văn nhân được gọi là Thầy.

    kẽ báu : Kẻ Báu. Tên một nơi.

    oũ chưỡng dũ : Ông Chưởng Dũng.

    đức oũ hôè : Đức Ông Huề.

    thuyèn thuĩ : Thuyền Thủy(?). Xã Thuyền Thủy.

    quãng liẹt xã : Quảng Liệt xã.


    Giáo đoàn Thanh Hóa

    (Da Xpande de thinh hoă), f. 154r-162r


    giỗ : giỗ. Ngày giỗ.

    chaï : chay, Ăn chay. Ma chay.

    chặp : chạp. Tháng chạp.

    : ma. Làm ma chay.

    oũ đô đốc hòa : Ông Đô đốc Hòa.



    [Ducko: Những chữ tô đỏ sau đây là những chữ có ký tự đặc biệt, không đánh máy đúng được.]

    Kẽ uạc : Kẻ Vạc. Ở gần Kẻ Nộ trong tỉnh Thanh Hóa.
    cỗ : cỗ. Ăn cỗ.1
    càü chầm : Cầu Chằm (?).
    Kẻ choắn : Kẻ Choắn (?). nơi có nhiều giáo hữu đạo đức nhờ gương tốt của bà An Na Chưởng Lễ.
    oũ chưỡng lễ : Ông Chưởng Lễ. Một viên quan ở Kẻ Choắn chưa chịu phép Thánh tẩy, nhưng mộ mến đạo Công giáo. Vợ ông đã theo đạo, tức bà An Na Chưởng Lễ.
    Kẻ Sú : Kẻ Sú (?). nơi đây có nhiều giáo hữu.
    Kẻ bảy : Kẻ Bảy. Nơi đây có nhiều giáo hữu sốt sáng.
    Kẻ Bố : Kẻ Bố. Có lẽ là Kẻ Vó, vì Amaral nhắc tới một viên quan thánh hiệu là Bảo Lộc, theo đạo từ đầu, tức là năm 1627, khi Đắc Lộ và Marques tới đây.
    nộn khê : Nộn Khê. Ở gần Kẻ Vó. Tại Nộn Khê có Thầy giảng Tô Ma (Thắng ?) coi sóc họ đạo này.
    Kẻ nộ : Kẻ Nộ. Amaral nhắc tới việc năm 1627 Đắc Lộ và P. Marques bắt đầu truyền giáo ở đây ; năm 1631, A. de Fontes đến thăm nơi này và năm 1632, L.m. J. Mayorica từ Áo Môn đã tới đây.
    xứ Thinh hŏa : Xứ Thanh Hóa.
    cữa đáy : Cửa Đáy. Cửa sông Đáy.
    Kẽ bíc : Kẻ Vích. Ở tỉnh Thanh Hóa.


    phỗ xã : Phố Xã. Địa danh.
    oũ chưỡng quế : Ông Chưởng Quế. Một viên quan ở Thanh Hóa ghét đạo Công giáo lắm, mà Amaral gọi là “ viên quan mọi rợ ” (barbaro mandarim).
    uăn nguyen : Văn Nguyện. Ông quan Tô Ma Văn Nguyện.
    quan uŏy : Quang Vôi (?). Ông Giang (Gio An) Quảng Vôi ở Kẻ Bẩy rất hạnh đạo mới qua đời.
    kẽ bãy : Kẻ Bẩy. Gần Kẻ Nộ. Có lẽ là Kẻ Báy hoặc Kẻ Bái.
    Tình : Tình. Bà An Na Tình mới chịu phép Thánh Tẩy cùng với chồng là ông Chi Công (Francisco) Tình.
    Nhüộn : Nhuận. Thầy giảng Y Nhã Bùi Nhuận, một trong ba Thầy giảng đầu tiên ở Đàng Ngoài.
    tháng : Thắng. Thầy giảng Tô Ma Thắng. Một trong ba Thầy giảng đầu tiên ở Đàng Ngoài.
    cốt bŏý : Cốt bói. Một bà cốt bói (đồng cốt) ở Chợ Đàng ?
    chợ dàng : Chợ Dàng. Chợ Dàng hay Chợ Đàng ?
    Kễ chàm : Kẻ Chàm. Y Nhã Bùi Nhuận hoạt động nhiều ở đây.
    oũ đô đốc đĩnh : Ông Đô đốc Đĩnh ở Kẻ Chàm.


    đạy : Đại. Ông Bảo Lộc Đại, một giáo hữu tốt ở Kẻ Chàm.
    oũ nghề uăn nguỵen : Ông Nghè Văn Nguyện, tức ông quan Tô Ma Văn Nguyện, một trong những người ở Xứ Thanh Hóa giữ đạo sốt sáng, hiện có mặt ở thủ đô.
    thằn từ : Thần từ. Nơi thờ Thần.
    chuá dủ : Chúa Dũng. Dũng lễ công Trịnh Khải, một người ác cảm với đạo Công giáo.
    nhoệ : Nhuệ. Một viên quan tên là Bảo Lộc Nhuệ.
    oũ đô đốc đăng : Ông Đô đốc Đăng. Ông Đô đốc Đăng có thánh hiệu là Phê Thạch (Phê Rô).
    Kẻlăm, huỵen tốũ sơn : Kẻ Lâm. Huyện Tống Sơn.
    oũ phụ : Ông Phụ. Một quan lớn (grande Mandarim) tên là Phụ.
    Nghệ an : Nghệ An.
    Đình : Đình. Đình làng (casa publica do conselhoa q chamaõ đình).
    chuà : Chùa. Chùa kính Đức Phật.
    sãy : Sãi. Các vị Sư Sãi.

    Giáo đoàn Nghệ An
    (Da Xpandate de Nghệ ăn)
    , f. 162v-167r
    Nghệ ăn : Nghệ An.
    Bố chính : Bố Chính.
    thoặn hốe :Thuận Huế. Thuận Hóa.


    Kẽ quãng : Kẻ Quảng. Xứ Quảng, tức Quảng Nam, Quảng Nghĩa,
    đức oũ tâï : Đức Ông Tây. Đức ông Tây cai trị Nghệ An, đóng ở Rum. Chúng ta biết Tây quận công Trịnh Tạc trấn giữ Xứ Nghệ An vào tháng 11 năm Tân Mùi, tức khoảng cuối tháng 12-1631. Lúc đó dân chúng gọi Trịnh Tạc là Đức Ông Tây.
    Rum : Rum
    Kẽ uĩnh : Kẻ Vĩnh.
    Thính hoa : Thanh Hóa.
    huỵen nghi xuon : huyện Nghi Xuân.
    Kẽ dẻ : Kẻ Dẻ (?). tên một làng xã.
    hụyen Thinh chương: huyện Thanh Chương.
    làng càü : Làng cầu. Ở làng cầu có nhà thờ Công giáo.
    nhà nga : Ngà Nga. Ở đây có nhà thờ Công giáo.
    đậü xá : Đậu Xá. Nhà thờ Đậu Xá.
    vàng may : Vàng May. Nhà thờ Vàng May.

    Thanh Đô vương cấm đạo Đức Chúa Trời trong toàn quốc (Da perseguicam que Thanh đô Vương a leuantou em todo seu Reyno contra a ley de Deus), f.167v-168v

    đức bà sang phú : Đức Bà Sang Phú. Thứ phi củá Trịnh Tráng.
    oũ bà phủ : Ông bà Phủ.
    Thanh đô Vương : Thanh Đô Vương.


    hién : Hiến. Nhà Hiến.
    hụyen : Huyện. Nhà Huyện.
    đức laõ : Đức long. Niên hiệu Đức long.

    Lòng kiên trì của Ky Tô Hữu (Da constancia dos Christaõs), f, 169r-174r

    bà bõ đạu : bà bỏ đạo. Bà Cối bỏ đạo Công giáo.
    bà đạu : bà đạo. Bà Cối trước đây theo đạo Công giáo, nên cũng có người gọi là bà đạo.

    bà cŏý : Bà Cối. Bà cối bỏ đạo Công giáo.
    phĕ : Phê. Một viên quan tên là Phê.
    chợ thũi : chợ Thủy.
    Kẽ sắt : Sắt hay Kẻ Sặt ?
    Kẽ jường : Kẻ Giường (?), Xã.
    Kẽ mộc : Kẻ Mộc. Xã Kẻ Mộc.
    Kẽ bàng : Kẻ Bàng. Xã Kẻ Bàng.
    lạï : lậy.
    Kẽ đăí : Kẻ Đáy.
    bà đô đốc hạ : bà Đô đốc Hạ. Bà An Na Hạ, vợ ông Đô đốc Hạ.
    xã bố : xã Bố Địa danh.


    Kẽ gián : kẻ Gián. Làng Kẻ Gián.
    oũ chương hồũ : Ông Chưởng Hồng
    Kẽ vĩnh cang : Kẻ Vĩnh Cang.
    Annam : An Nam.


    Tài liệu của Gaspar d’ Amaraỉ viết năm 1637


    Tài liệu này cũng soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha, viết tại Kẻ chợ (Thăng Long) ngày 25-3-1637 với nhan đề “ Relaçam dos catequistas da Christamdade de Tumk. e seu modo de proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Jappão e China ” (Tường thuật về các Thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài và về cách thức tiến hành của họ, gửi Cha Manoel Dias, Giám sát Nhật Bản và Trung Hoa [Dòng Tên]). Tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố Hàn lâm viện Sử học Hoàng gia Madrid [137] .

    Bản tường thuật dài 6 tờ rưỡi, tức 13 trang giấy, viết trong khổ 13 X 21 cm, chữ nhỏ và dầy đặc. Nội dung trình bày hai L.m. p. Marques và Đắc Lộ thiết lập “Dòng tu” Thầy giảng ở Đàng Ngoài; sau đó trình bày việc huấn luyện, cấp bậc và hoạt động của các Thầy giảng ; cuối bản tường thuật còn ghi rõ tên, tuổi, năm tòng giáo của các Thầy giảng, Kẻ giảng, các Tập sinh (các cậu) và các Trợ giảng (ông Bõ) thuộc “Dòng tu” mới này.

    Tài liệu không hoàn toàn do Gaspar d’Amaral viết, nhưng ông đọc cho một người khác viết, rồi chính ông soát lại kỹ lưỡng, dùng bút sửa bên lề trang giấy một số chữ, và cuối bản tường thuật, chính Amaral viết thêm vào 13 dòng chữ kể cả chữ ký của ông. Vậy bản tường thuật này là của


    chính tác giả Gaspar d’Amaral và chúng ta phải coi như ông đã viết ra.
    Sau đây chúng tôi xin trích những chữ quốc ngữ trong bản tường thuật của Gaspar d’Amaral.

    Sãy : Sãi. Các vị Sư Sãi.
    đức : Đức. Thầy giảng Chi Công Đức, 43 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.
    Chuá thanh đô : Chúa Thanh Đô. Thanh Đô vương Trịnh Tráng.
    thầy : Thầy. Thầy giảng.
    định : Định. Trợ giảng An Tong Định, 44 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.
    nhin : Nhơn. Trợ giảng Tô Ma Nhơn, 47 tuổi, theo đạo Công giáo 11 năm.
    Nghệ an : Nghệ An.
    lạy : lậy. Sụp lậy.
    tri : Tri. Thầy giảng An Rê Tri, 41 tuổi, theo đạo Công giáo 11 năm.
    bùi : Bùi. Có lẽ là Thầy giảng Bùi Nhuận, chết năm 1637, được 46 tuổi, vào đạo Công giáo được 11 năm, thánh hiệu là Y Nhã.
    quang : Quảng. Thầy giảng Thanh Diêu (Tadeo) Quảng, 66 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.
    tháng : Thắng. Thầy giảng Tô MaThắng 40 tuổi, theo đạo Công giáo được 10 năm.
    côủ thàn : Công Thành. Thầy giảng Lu Ca Công Thành, 44 tuổi, theo đạo Công giáo 10 năm.


    Sướng : Sướng. Kẻ giảng An Tong Sướng, 22 tuổi, theo đạo Công giáo được 4 năm.
    đàng ngoài : Đàng Ngoài.
    già : Già, Kẻ giảng An Rê Già, 50 tuổi, theo, đạo Công giáo được 4 năm.
    : Vó. Kẻ giảng Chi Công Vó, 48 tuổi, theo đạo Công giáo được 11 năm.
    nân : Nân. Kẻ giảng Chi Công Nân, 26 tuổi, theo đạo Công giáo được 6 năm.
    lồ : Lồ. Kẻ giảng An Tong Lồ, 27 tuổi, theo đạo Công giáo được 9 năm.
    đôủ thành : Đông Thành. Tập sinh Đông Thành, 19 tuổi, theo đạo Công giáo được 2 năm.
    Kẻ chợ : Kẻ Chợ. Thủ đô Thăng Long.

    So sánh hai tài liệu 1632 và 1637 của Gaspar d'Amaral, chúng ta thấy rằng, năm 1637 ông đã viết một số chữ quốc ngữ khá hơn năm 1632. Đó là những chữ : thầy, lạy, đàng ngoài, già, Kẻ chợ.

    *
    * *

    Nếu chúng ta lại đối chiếu cách ghi chữ quốc ngữ của Gaspar d’Amaral với Đắc Lộ, ta thấy, ngay từ năm 1632, Amaral đã ghi rành hơn Đắc Lộ năm 1636.

    Đem so sánh thời gian có mặt ở Việt Nam tính đến năm 1632 thì Amaral mới ở được 28 tháng rưỡi (ở Đàng Ngoài từ tháng 10- 1629 đến tháng 5-1630 và từ trung tuần tháng 3- 1631 đến hết tháng 12-1632), còn Đắc Lộ đã ở được 57


    tháng (ở Đàng Trong từ tháng 12-1624 đến tháng 7-1626, và ở Đàng Ngoài từ tháng 3-1627 đến 5-1630). Quả thật, tuy Amaral mới ở Đàng Ngoài 28 tháng rưỡi mà đã viết chữ quốc ngữ khá hơn Đắc Lộ nhiều. Hơn nữa trong bản tường trình 1632, Amaral đã chen vào nhiều chữ quốc ngữ, mặc dầu vấn đề bị giới hạn hầu hết vào vấn đề tôn giáo ; còn bản văn của Đắc Lộ viết năm 1636 (Tunchinensis Historiae libri duo) viết dài gấp đôi và chứa đựng nhiều vấn đề xã hội Đàng Ngoài hơn, thế mà lại có ít chữ quốc ngữ hơn. Do điểm này, có lẽ chúng ta dám đưa ra nhận xét khác là, vào năm 1636, Đắc Lộ chưa ý thức được tầm quan trọng của chữ quốc ngữ bằng Amaral vào năm 1632. Chúng ta cũng còn dám chắc Amaral giỏi hơn Đắc Lộ nhiều, nhờ bằng chứng rõ rệt là, Amaral đã soạn cuốn tự điển Việt - Bồ - La (Diccionário anamita-português-latim) [138], trước khi Đắc Lộ soạn tự điển của ông. Trong lời tựa cuốn tự điển của Đắc Lộ xuất bản năm 1651 tại La Mã, chính tác giả đã viết rõ là ông dùng những công khó nhọc của các linh mục Dòng Tên khác, nhất là dùng hai cuốn tự điển của Amaral và Barbosa để soạn thảo sách đó [139].


    Tiếc rằng cuốn tự điển của Amaral chưa được ấn hành thì ông đã qua đời (23-12-1645). Thật ra, không ai rõ cuốn tự điển của Amaral có bao nhiêu danh từ Việt, và cứ sự thường, bản thảo quí giá này đã bị “tiêu diệt” rồi. Điều chắc chắn là, lúc đầu bản thảo đó để tại Áo Môn, nhờ vậy Đắc lộ có thể dựa vào đó mà viết cuốn tự điển của ông. Theo chúng tôi hiểu, thì cuốn tự điển của Amaral được lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản đặt tại Áo Môn. Cuốn tự điển viết tay này cũng như cuốn tự điển của L.m. Antonio Barbosa mà chúng tôi sẽ nói qua thường đã mất; nhưng mất vào năm nào, không ai được rõ. Rất có thể là nó bị mất trong dịp Văn khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản được chuyển từ Áo Môn về Manila khoảng năm 1759-1760. Vì từ ngày 15-5-1758, chính phủ Bồ Đào Nha đàn áp Dòng Tên ở đất Bồ và trong các lãnh thổ của Bồ Đào Nha. Nhưng rồi chính phủ Tây Ban Nha cũng đàn áp Dòng Tên kể từ gày 2-4-1767, nên Văn khố Dòng Tên ở Manila lại bị chính quyền Tây Ban Nha tịch thu, và vào khoảng năm 1770, các tài liệu đó được đem về Madrid [140]. Như vậy, có thể là hai cuốn tự điển quý giá này đã bị thất lạc do các cuộc di chuyển trên, cũng có thể nó còn nằm ở đâu mà người ta chưa tìm thấy. Chúng tôi đã tìm hỏi ở Áo Môn, Manila, Madrid, Lisboa, La Mã, Ba Lê mà không thấy. Dù sao

    chúng tôi vẫn còn nuôi chút hy vọng may ra nó còn nằm ở đâu chăng ?
    Nói đến lịch sử chữ quốc ngữ trong giai đoạn này, chúng ta không thể bỏ qua L.m. Antonio Barbosa (1594- 1647) [141]. Ông sinh tại Arrifana de Souza, Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 13-3-1624. Cuối tháng 4- 1636, Barbosa đến Đàng Ngoài, nhưng rồi ông trở về Áo Môn vào tháng 5-1642, vì lý do sức khỏe. Tại Áo Môn, tình trạng sức khỏe của ông cũng không khá hơn. Năm 1647 Barbosa từ Áo Môn đi Goa để dưỡng sức, nhưng ông qua đời cùng năm đó trên đường đi Goa. Antonio Barbosa soạn thảo cuốn tự điển Bồ - Việt (Diccionário português- anamita) [142] như chúng ta đã nói ở trên. Đắc Lộ cũng dựa vào cuốn tự điển này để soạn cuốn tự điển của ông. Khác với Amaral, Barbosa lại soạn từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt. Chúng tôi nghĩ rằng, có lẽ ông cũng soạn cuốn này lúc còn ở Đàng Ngoài, từ năm 1636-1642. Về “số phận” cuốn tự điển viết tay này cùng một hoàn cảnh như cuốn tự điển của Amaral, nghĩa là có thể đã bị “tiêu diệt” , cũng có thể là còn nằm ở đâu chăng ? Ngoài cuốn tự điển, Barbosa còn Soạn một số bài thơ hiện lưu trữ tại Biblioteca da Ajuda ở thủ đô Bồ Đào Nha [143].


    Từ trước đến nay, một số nhà nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ, kể cả người Việt Nam lẫn ngoại quốc, đã đề cao giá trị Đắc Lộ quá nhiều. Nếu có vài nhà nghiên cứu mới đây ở Việt Nam tỏ ra dè dặt về vấn đề này, thì cũng chưa dám nói đích danh người nào giỏi hơn Đắc Lộ, là vì chưa tìm được tài liệu rõ rệt. Bây giờ, nhờ việc khám phá được tài liệu của Amaral, chúng ta dám nói là Amaral giỏi hơn Đắc Lộ ngay từ năm 1632. Chúng tôi hy vọng các nhà nghiên cứu sẽ tìm thêm được nhiều tài liệu khác, để chứng minh còn có người giỏi hơn Amaral... Như thế, dần dần sẽ bổ túc cho việc nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ.

    Tài liệu viết tay năm 1645 và 1648

    Hai tài liệu viết tay 1645-1648 cũng không phải là toàn bản văn chữ quốc ngữ, nhưng một bản văn bằng Bồ ngữ và bản kia bằng La ngữ. Tuy nhiên, hai bản văn có rải rác chữ quốc ngữ, vì thế chúng tôi cũng muốn trình bầy trong chương này để bạn đọc được rõ hơn. Thực ra tài liệu trên đã được mấy nhà nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ bàn đến [144], nhưng chúng tôi nghĩ, cũng cần ghi lại ở đây, một phần giúp


    bạn đọc khỏi phải đi tìm nơi khác, một phần chúng tôi muốn giải thích rộng hơn hoặc đính chính một vài điểm.

    Tài liệu viết tay năm 1645

    Tài liệu gồm 8 trang giấy, viết chữ cỡ trung bình trong khổ 17 X 27 cm, hiện lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã [145]. Tài liệu bằng chữ Bồ Đào Nha, nhan đề : “Manoscritto, em que se proua, que a forma do Bauptismo pronunciada em lingoa Annamica he verdadeira” (Bản viết chứng minh mô thức Rửa tội phải đọc trong tiếng An Nam chính thực). Tuy nhiên, từ cuối trang 38r đến 38v, khi ghi tên những người tham dự hội nghị, thì lại ghi bằng chữ La tinh : “Nomina Ppum, qui ex mandato Pis Emanuelis de Azdo Vis Prouae Japonnensis et Vice Prouae Sinensis, interfuere consultationi, et forman Baptismi lingua Annamica prolatam, legitimam esse, et valida affirmarunt. Anno 1645” (Danh sách các Cha tham gia thảo luận và xác nhận mô thức Rửa tội bằng tiếng An Nam cho hợp thức và thành sự, [trong một hội nghị] do lệnh Cha Emanuel de Azevedo, Giám sát [Dòng Tên] tỉnh Nhật Bản và phụ tỉnh Trung Hoa. Năm 1645).

    Dòng chữ đầu tiên của tập tài liệu được ghi “ Pe Assistente de Portugal ” (Cha Phụ tá Bề trên Cả Dòng Tên vùng Bồ Đào Nha). Cũng nên biết rằng, đứng đầu Dòng Tên là Linh mục Bề trên Cả ở tại La Mã. Dòng Tên được chia ra nhiều vùng và mỗi vùng lại chia ra nhiều tỉnh. Vùng


    Bồ Đào Nha thời đó gồm : chính nước Bồ Đào, Ba Tây, Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản. Cha Phụ tá Bề trên Cả vùng Bồ Đào Nha cũng như Cha Phụ tá các vùng khác, ở tại La Mã nhưng chỉ giữ vai trò liên lạc giữa Bề trên Cả và các Linh mục Giám tỉnh, chứ không có quyền quản trị [146]. Hiện thời nhiệm vụ của các Phụ tá vùng vẫn như xưa.

    Tới dòng chữ thứ hai, có chữ Jhs tức là Jesus viết bằng chữ Hy Lạp (IHS : iota, êta, sigma). Một số người lầm tưởng chữ Jhs có nghĩa là Giêsu đấng Cứu Nhân loại(Jesus Hominum Salvator). Tượng ý IHS có từ những thế kỷ đầu tiên của đạo Thiên Chúa ; khi lập Dòng Tên vào thế kỷ 16, vị sáng lập là Y Nhã (Ignacio de Loyola hay Iñigo de Loyola) đã dùng tượng ý IHS cho Dòng Tên. Do đấy, ta thấy trong các văn thư, nghệ thuật, mỹ thuật... do tu sĩ Dòng Tên làm ra, thường hay đề tượng ý này vào đó.

    Tiếp đến dòng thứ ba có chữ “2a via” (gửi bằng chuyến tầu thứ hai). Trong các tài liệu vào thế kỷ thứ 17, thường được ghi chữ “1a via” hay “2a via”, nếu những tài liệu đó


    được chuyển từ xa tới. Thời đó, tầu đi tứ Á sang Âu và ngược lại, dễ bị bão đánh đắm ; muốn chắc chắn hơn, người ta phải gửi hai bản hay ba bản do hai hoặc ba chuyến tầu khác nhau, phòng bị tầu này bị đắm thì còn tầu kia. Nhờ có ghi chữ “2a via” mà biết được tài liệu chúng tôi dùng đây là bản gốc, mặc dầu không phải chính chữ viết của “tác giả” là Linh mục Marini (thường thường tác giả viết một bản thứ nhất, rồi nhờ người khác sao lại bản thứ hai hoặc thứ ba).

    Sau mấy dòng chữ đó là đến đầu đề của bản văn như chúng ta vừa thấy : “ Manoscritta..”. Trang đầu của bản văn nói đến lý do tài liệu này, rồi từ cuối trang 35r đến 38r bắt đầu bàn về chính vấn đề là mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt Nam, từ dòng cuối cùng của trang 38r đến hết trang 38v ghi danh sách 35 Linh mục Dòng Tên tham dự hội nghị bàn về mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt Nam. Trong số này có trên 20 vị đã hoặc sẽ đến ở tại Việt Nam.

    Thực ra tài liệu này là một biên bản hội nghị năm 1645 của 35 Linh mục Dòng Tên tại Áo Môn, để xác nhận mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt Nam. Biên bản không ghi ngày, tháng cuộc họp. Nhưng chúng tôi chắc hội nghị được diễn ra khoảng từ tháng 8 đến tháng 12-1645, vì trong biên bản có ghi tên Đắc Lộ. Chúng ta biết, năm 1645, Đắc Lộ chỉ có mặt ở Áo Môn từ 23-7 đến 20-12 mà thôi.

    Chúng tôi không có biên bản gốc của hội nghị làm vào năm 1645 nên phải dùng bản chép lại vào năm 1654. Tuy đây là tài liệu chép lại, nhưng phần soạn thảo năm 1654, nói về lý do của tài liệu, đã chiếm hết một trang (f. 35r), còn từ cuối trang 35r đến hết là một biên bản đã được soạn vào năm 1645. Trong phần biên bản có nhiều chữ quốc ngữ mà đứng về phương diện lịch sử


    phải coi đó là những chữ quốc ngữ năm 1645, chứ không phải là chữ quốc ngữ năm 1654.

    Tác giả toàn bản tài liệu này là ai ? Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì trang đầu tức trang 35r của bản tài liệu do L.m. Gio. Filippo de Marini soạn ; còn chính biên bản, tức là từ cuối trang 35r đến hết lại do một người khác, chứ không phải do Marini soạn, vì lúc đó Marini chưa biết tiếng Việt. Nên nhớ là, năm 1654 Marini chỉ chép lại biên bản 1645. Dù Marini cũng tham dự hội nghị năm 1645 về vấn đề mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt, nhưng vì ông chưa biết tiếng Việt, nên không thể nói được là biên bản do Marini soạn thảo như một số nhà nghiên cứu tài liệu này đã nhận định. Để chứng minh, thiết tưởng nên biết qua về tiểu sử Marini.

    Gio. Filippo de Marini (1608-1682), sinh tại Ý, gia nhập Dòng Tên tỉnh La Mã năm 1625. Ông tới Goa vào ngày 20- 11-1640. Đầu năm 1641, Marini cùng với 23 Linh mục, Trợ sĩ Dòng Tên rời Goa đi Áo Môn. Tuy nhiên, vì Marini ngừng lại ở Cochin và Xiêm, nên mãi đến năm 1643 ông mới tới Áo Môn. Từ năm 1647 đến 1658, Marini hoạt động truyền giáo ở Đàng Ngoài, và nơi ông hoạt động nhiều nhất là ở Xứ Đông, tức vùng Hải Dương. Cuối năm 1658, Marini bị Chúa Trịnh Tạc trục xuất khỏi Đàng Ngoài, nên ông phải về Áo Môn. Đầu năm 1659, tỉnh Dòng Tên Nhật Bản cử ông về La Mã dự Đại công nghị Dòng Tên thứ 11 diễn ra từ 9-5 đến 27- 7-1661. Thời gian ở La Mã ông cho xuất bản cuốn sách về Việt Nam mà chúng ta sẽ thấy liền đây. Sau đó mấy năm Marini trở lại Áo Môn. Năm 1671 ông đã là Giám tỉnh Dòng Tên Nhật Bản Cùng năm đó, nhân dịp viên Phó vương Ấn Độ gửỉ một phái đoàn đi Đàng Ngoài, Marini cũng nhập với phái đoàn để tới Đàng Ngoài. Khi tầu của phái đoàn gần tới


    Đàng Ngoài, bị bão đắm tầu, nhưng không ai thiệt mạng. Mọi người đều tới được Đàng Ngoài, riêng Marini vì mặc áo tu sĩ, nên bị chính quyền Đàng Ngoài bắt giam. Sau 6 tháng trong tù, nhờ có một bà thế lực ở thủ đô can thiệp, nên Marini được ra khỏi tù, rồi về Áo Môn. Tháng 2-1673, Marini cùng với hai Linh mục Dòng Tên khác là E. Ferreyra và François Pimentel cùng đến Đàng Ngoài, nhưng cả ba bị tống giam 6 tháng. Ra khỏi tù, hai Linh mục kia về Áo Môn, còn Marini lại đi Xiêm và tới đây tháng 11-1673. ít lâu sau ông mới trở về Áo Môn, tức là tháng 12-1675.[147] Marini qua đời tại Áo Môn ngày 17-7-1682. Ông đã để lại cho hậu thế một số tài liệu hên quan đến các vấn đề truyền giáo ở Việt Nam, Lào và Áo Môn [148].


    Sau khi nhắc qua tiểu sử của Marini, bây giờ chúng tôi xin ghi lại nguyên văn mấy dòng mở đầu của tài liệu (nên nhớ mấy dòng mở đầu do Marini soạn), trước khi trích ra những chữ quốc ngữ trong tài liệu :

    Na era de 1645. propos o Pe Alexe Rhodez ao Pe Mel de Azeuedo Vor, que entaõ era de Jappão, e China, que mandasse ouuir sobre huãs duuidas, que tinha acerca da forma do Bauptismo em lingoa Tumkinica em iunta plena. Mandou entaõ o Pe Vor ao Pe Joaõ Cabral, que era Rtor do Collegio, e Vice Proal de Jappão, q presidisse, e recolhesse os votos por escrito depois de ventilada bem a questaõ[149] (Vào năm 1645, theo lời đề nghị của L.m. Đắc Lộ với L.m. Manuel de Azevedo [150], Giám sát Dòng Tên hai tỉnh Nhật Bản và Trung Hoa [151], nên L.m. Giám sát đã cho mở hội nghị để bàn về những nghi vấn chung quanh mô thức Rửa tội bằng tiếng Đông Kinh [Đàng Ngoài], kèm theo đây toàn mô thức. Vậy, L.m. Giám sát ủy cho L.m. Giang Cabral là Viện trưởng Học viện [Học viện Madre de Deus của Dòng Tên ở


    Áo Môn] [152] Phó Giám tỉnh [153] Nhật Bản, để ông chủ tọa và thâu thập các ý kiến viết tay, rồi sau đó thảo luận vấn đề cho chu đáo).

    Sau khi sơ lược về hình thức tài liệu năm 1645, bây giờ chúng tôi xin trích ra những chữ quốc ngữ trong bản văn :

    Tau rữa mầï nhần danh Cha, uà con, uà spirito santo [154] : Tao rửa mày nhân danh Cha và Con và Spirito Santo. Ngày nay đọc là : Tao rửa mày nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Lúc đó, các nhà truyền giáo ở Việt Nam đã biết từ ngữ Thánh Thần, nhưng chưa dùng, mà còn dùng từ ngữ Bồ Đào Nha là Spirito Santo.

    Taü lấÿ tên Chuá, tốt tên, tốt danh, tốt tiẽng [155] : Tao lây tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng.

    Vô danh, Cắt ma, Cắt xác, Blai có ba hồn bãÿ uía, Chúa blòÿ ba ngôy nhấn danh [156] : vô danh, cất ma, cất xác, Trai có ba hồn bẩy vía, Chúa trời ba ngôi, nhân danh.


    Nhâň danh Cha [157] : nhân danh Cha. Về chữ nhân, chỉ có một lần viết là nhần (f. 35r), một lần viết là nhấn (f. 36r), còn 18 lần khác đều viết là nhâň.

    Phụ, Tữ, sóũ, ngot, cha Ruôt, con Ruôt [158] : Phụ, Tử, sống, ngọt, cha ruột, con ruột.

    Theo vấn đề chúng ta đang bàn, thì chữ quốc ngữ trong tài liệu, mới là vấn đề quan trọng của chúng ta. Còn nội dung chính yếu của tài liệu là mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt Nam. Trong 35 Linh mục tham dự hội nghị, có 31 vị đồng ý hoàn toàn về mô thức mà chúng ta đã biết, còn hai vị là Ascanius Ruidas và Carolus de Rocha có thái độ trung lập (hai L.m. này đến ở Đàng Ngoài từ năm 1647), riêng hai L.m. Đắc Lộ và Metellus Saccanus chống đối hoàn toàn mô thức Rửa tội trên (Tau rữa mầï nhần danh Cha, uà con, uà spirito santo). Đó là mô thức phải đọc khi Rửa tội (A forma do Bauptismo em lingoa TumKinica diz assy).[159]

    Tài liệu viết tay năm 1648

    Tài liệu này cũng liên quan đến vấn đề mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt Nam. Bản văn được soạn bằng La ngữ, để trả lời cho L.m. Sebastião de Jonaya, với nhan đề : "Circa formam Baptismi Annamico Idiomate prolatam” [160] (Chung


    quanh mô thức Rửa tội bằng thổ ngữ An Nam). Tài liệu gồm 8 trang rưỡi (từ tờ 76r đến 80v), viết chữ cỡ trung bình, trong khổ 16 X 29 cm, được soạn thảo năm 1648, hiện giữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã, nhưng chúng tôi không rõ là soạn thảo ở đâu và ai là tác giả ? Có thể L.m. Marini là tác giả chăng ? Chúng tôi không dám chắc. Nơi soạn thảo có thể là ở Đàng Ngoài chăng ? Chúng tôi cũng không dám quả quyết, ngoại trừ chữ Nôm ở tờ 78r - 79r.

    Từ tờ 78r đến 79r có ghi tên 14 người Công giáo Việt Nam đồng ý về mô thức Rửa tội đã ghi ở tài liệu 1645. Tên những giáo hữu Việt Nam được ghi bằng ba thứ chữ: Nôm, Quốc ngữ và La tinh. Cũng nên biết tằng tài liệu do hai người viết : từ tờ 76r-77v do một người viết, những tờ còn lại do người khác, không kể phần chữ Nôm do một người thứ ba có lẽ là người Việt Nam. Nhưng xem ra người viết phần thứ hai là chính tác giả của phần thứ nhất nữa (mặc dầu không rõ tên là ai), vì ông có đọc lại phần thứ nhất và đã sửa lại hoặc thêm vào một sô" chữ, kể cả những chữ quốc ngữ, ví dụ: con uà (Nhơn danh cha, uà con, Spirito Santo), thần [161]. Dưới đây là những chữ quốc ngữ:

    Nhơn danh cha, uà con, uà Spirito Santo [162 ] : nhân danh Cha, và Con và Spirito Santo.

    Đức Chuá Blờy sinh ra chín đớng thiên thần la cŭôn cŭốc Đức Chuá Blờy [163] : Đức Chúa Trời sinh ra chín đấng thiên thần là quân quốc Đức Chúa Trời.


    nhơn nhít danh Cha [164] : nhân nhất danh Cha.

    một nam, một nữ [165] : một nam, một nữ.

    Sau đây là tên 14 giáo hữu Việt Nam tán thành mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt “ nhin danh Cha uà Con uà Su-phi-ri-to sang-to” (mô thức đã được 31 Linh mục Dòng Tên xác nhận trong hội nghị ở Học viện Madre de Deus). Như chúng tôi vừa nói, phần này gồm ba thứ chữ : Nôm, quốc ngữ và La tinh : phần chữ Nôm có lẽ do một người có tên trong số 14 người viết, còn phần chữ quốc ngữ và La tinh do người viết phần thứ hai của tài liệu điền vào.

    nhin danh Cha uà Con uà Su-phi-ri-to sang-to í nài An- nam các bỏn đạo thì tín ràng ra ba danh bí bàng muốn í làm một thì phaỷ noý nhin nhít danh Cha etc.— tôy là giu aõ câï (?) trâm nghi bậï - tôy là An re Sen nghi bậï - tôy là Ben tò uẫn triền nghi bậï - tôy là Phe ro uẫn nhit nghi bậï - tôy là An jo uẫn taũ nghi bậï- tôy là Gi-ro-ni-mo nghi bậï - tôy là J-na so nghi bậï - tôy là tho-me nghi bậï - tôy là Gi-le nghỉ bậï - tôy là lu-i-si nghi bậï - tôy là phi-lip nghi bậï — tôy là Do minh nghi bậï - tôy là An ton nghi bậï - tôy là Giu aõ nghi bặï (nhân danh Cha và Con và Su-phi-ri-to sang-to. Ý này An Nam các bổn đạọ thì tin rằng ra ba danh. Ví bằng muốn ý làm một, thì phải nói : nhân nhất danh Cha v.v... Tôi là Giu ang Câi (?) Trâm cũng nghĩ vậy. Tôi là An rê Sen cũng nghĩ vậy. Tôi là


    Ben tò [166]Văn Triền cũng nghĩ vậy. Tôi là Phê rô Văn Nhất cũng nghĩ vậy. Tôi là An gio [167]Văn Tang (?) cũng nghĩ vậy. Tôi là Gi-rô-ni-mô [168] cũng nghĩ vậy. Tôi là I-na-sô[169] cũng nghĩ vậy. Tôi là Tho me [170] cũng nghĩ vậy. Tôi là Gi-le [171] cũng nghĩ vậy. Tôi là Lu-i-si [172] cũng nghĩ vậy. Tôi là Phi- líp cũng nghĩ vậy. Tôi là Do-minh [173] cũng nghĩ vậy. Tôi là An ton [174] cũng nghĩ vậy. Tôi là Giu ang cũng nghĩ vậy).

    Mấy câu trên đây có nghĩa là mô thức Rửa tội “ Tau rữa mầï nhân đanh Cha và Con và Su-phi-ri-to sang-to ” là đúng với tiếng Việt. Các giáo hữu Việt Nam tin rằng, khi dùng 1 lần nhân danh Cha... cũng hiểu cho cả Ba Ngôi Thiên Chúa, mà không cần phải nhắc lại mỗi lần : nhân nhất danh Cha, và nhất danh Con và nhất danh Su-phi-ri-to sang-to.

    *

    * *

    Chúng tôi còn một số tài liệu chữ quốc ngữ nhưng là tài liệu viết tay sau năm 1648, nên chúng tôi xin miễn bàn trong chương này, vì chúng tôi đã muốn hạn định đến năm 1648 mà thôi.

    Từ khi có dấu vết chữ quốc ngữ đến trước năm 1651, chúng tôi chưa tìm được một bản văn nào hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ. Hy vọng sau này có ai tìm thấy chăng. Nhưng từ năm 1651, chúng ta thấy xuất hiện hai tài liệu vô cùng quý giá hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ, đó là hai cuốn sách của Đắc Lộ in tại La mã năm 1651, mà chúng tôi bàn trong chương liền đây.


    66 ARSI, JS. 68, f.13rv.

    67 RHODES, Divers voyages et missions, tr. 72.

    68 Emmanuel FERNANDES, Thư viết tại Hội An ngày 2-7-1625, bằng chữ Bồ Đào Nha, gửi cho Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, ARSI, JS. 68, f. 15rv.

    69 Để vị Bề trên cả hiểu biết hoạt động của các tu sĩ, hàng năm Bề trên mỗi nhà Dòng phải gửi một bản tường tình về La Mã. Ngày nay vẫn còn giữ như vậy.

    70 Pullocambi : Một đảo đối diện với Nước Mặn và Nước Ngọt.

    71 Gaspar LUIS, Cocincinae Missionis annuae Litterae, Anni 1625. Ad R.P.N. Mutium Vite’leschium Societatis Jesu Proepositum Generalem, ARSI, JS. 71, f. 56r-71r. Ba cư sỏ Dòng Tên ở Đàng Trong được thành lập vào những năm sau đây : Hội An : 1615-1616, Nước Mặn : 1618, Kẻ Chàm:1623.

    72 Ibid.,f.. 61r.

    73 Ibid.,f.. 64v-65r.

    74 Ibid.,f.. 65v.

    75 Ibid.,f.. 66r.

    76 Ibid.,f.. 66v..

    77 Theo tài liệu này thì tên vị quan như sau : Đề lĩnh là chức quan, An Rê là tên thánh, Bẩy là tên riêng, tức phải gọi là ông Đề lĩnh An Rê BẨY.

    78 Gaspar LUIS, Ibid., f. 67r.

    79 Tác giả gọi Qui Nhơn là tỉnh, nhưng vào năm 1625-1626, Qui Nhơn vẫn chỉ còn là một Phủ, tuy là Phủ rất rộng lớn.

    80 Gaspar LUIS, ibid.,f. 67r.

    81 Chúng tôi không rõ phải viết là Chiêu, hay Chiểu, hay Chiếu.

    82 Gaspar LUIS, ibid.,f 70rv.

    83 Thư của Gabriel de MATOS (cũng có khi viết là Mattos), giám sát các tu sĩ Dòng Tên ở Đàng Trong, viết tại Đàng Trong ngày 5-7-1625, gửi L.m. Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, ARSI, JS. 68, f. 17r

    84 Lúc đó ông Nguyễn Phúc Kỳ, con cả Nguyễn Phúc Nguyên, làm trấn thủ ở Quảng Nam. Ông kỳ qua đời năm 1631.

    85 Antonio de FONTES, Annua da Missão de Anam, a que vulgarmte chamão Cochinchina; pa ver No Muj Rdo Pe Geral Mutio Vitelleschi, ARSI. JS. 72, f. 69-86r.

    86 Ibid., f. 69r, 74v, 76r, 79r.

    87 Ibid.,f. 69r, 80r.

    88 Ibid., f. 69r, 80r.

    89 Ibid., f. 70r.

    90 Ibid., f. 74v.

    91 Ibid., f. 74v.

    92 Có thể đọc về bà Minh Đức : PHẠM ĐÌNH KHIÊM, Minh Đức Vương Phái Phi. Saigon, 1957, in-8°, 110t

    93 Antonio de FONTES, ibid., f. 69r, 74v.

    94 Ibid., f. 77v.

    95 Ibid., f. 80v.

    96 Ibid., f. 81r.

    97 Ibid., f. 81rv

    98 Ibid., f. 81v

    99 Ibid., f. 81v.

    100 Ibid., f. 85r.

    101 Ibid., f. 85v.

    102 Ibid., f. 85v.

    103 Francesco BUZOMI, Ao Padre Mutio Vitelleschi Prepto Geral de Compa de Jesus, ARSI, JS. 68, f. 28r-29v.

    104 Ibid., f. 28v-29r.

    105 Ibid., f. 28v.

    106 Ibid., f. 29r.

    107 Ibid., f. 28r.

    108 ARSI, JS. 68a, f. 8v

    109 ARSI, JS. 80, f. 15r-16v

    [110 -114... thiếu nội dung]

    115 RHODES, Relatione De’filici successi della Santa Fede Predicata da Padri della Compagnia di Giesv nel regno di Tvnchino, alla santita di N.S.PP. Innocenzio decimo. Di Alessandro de Rhodes avignonese, Roma, 1650, in-4°, 326 tr, kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 12,5 x 18cm.

    RHODES, Histoịre dv Royavme de Tvnquin, et des grands progrez qve la predication de I’Evangile y a faits en la conuersion des Infidelles. Depuis l’Année 1627 jusques à l'Année 1646. Composée en latin par le R.P. Alexandre de Rhodes, de la Compagnie de Jesvs Et tradvide en françois par le R.P. Henry Albi, de la mesme Compagnie, Lyon, 1651, in-4° 326 tr., kèm theo bản đổ Việt Nam kích thước 12,5 X 18 cm.

    RHODES, Tvnchinensis Historiae libri dvo, qvorvm altero status temporalis hujus Regni, altero mirabiles evangelicae praedicationis progressus referuntur. Coeptae per Patres Societatis Jesv, ab Anno 1627. ad Annum 1646, Authore P. Alexandro de Rhodes, Auenionensi, ejusdem Societatis Presbytero ; Eorum quae hic narrantur teste oculato, Lyon, 1652, in-4°, Q.I : 89 tr., QII : 200 tr., kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 12,5 X 18 cm.


    116 An Rê Phú Yên : An Rê là tên thánh, Phú Yên là quê quán của vị tử đạo, còn tên Việt Nam của Thầy không được ghi lại. Chúng tôi đã cố gắng tìm tòi ở La Mã, Lisboa, Madrid, nhưng vẫn chưa tìm được tên Việt của Thầy giảng này.

    117 Ngày xưa, dân chúng vẫn được đi theo tử tội đến pháp trường để chứng kiến cuộc xử tội nhân.

    118 Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis. Fasc. 17, f. 228-234V.

    119 Ibid., f. 228r f. 228bis, 229rv, 230r.

    120 Ibid., f. 231v.

    121 RHODES, Alexandri Rhodes è Societate Jesu terra marque decẽ annorũ Itinerarium, ARSl, JS. 69, f. 95r-140v.

    122 Chúng ta biết ngày 20-12-1645, Đắc Lộ rời Áo Môn để bắt đầu một cuộc hành trình về La Mã và tới đây 27-6-1649. Muốn hiểu rõ tại sao Đắc Lộ có thời giờ soạn tài liệu này ở Macassar năm 1647, thì cần phải biết như sau:

    20-12-1645 : Đáp tầu từ Áo Môn.
    14-01-1646 : Tới Malacca.
    22-02-1646 : Đi Djakarta.
    05-03-1646 : Tới Djakarta.
    29-07-1646 : Bị người Hòa Lan bỏ tù ở Djakata hơn hai tháng trời vì dâng Thánh Lễ.
    25-10-1646 : Đi Macassar (chuyến đi lâu hơn 2 tháng)
    21-12-1646 : Tới Macassar. Ở lại đây gần 6 tháng trời.
    15-06-1647 : Rời Macassar đi Bantan.

    123 In lần thứ nhất: Divers voyages et missions dv P. Alexandre de Rhodes en la Chine, et autre Royaumes de l'Orient. Avec son retour en Europe par la Perse et l’Armenie. Le tovt divisé en trois parties. Chez Sebastien Mabre-Cramoisy et Gabriel Cramoisy, Paris, 1653, in-4°, kèm theo bản đồ Việt Nam kích thước 30 X 42 cm. Phần I và phần II đánh số trang tiếp nhau, tất cả có 276 tr., Phần III đánh số trang bắt đầu từ 1: 82 tr. Kế đến là những lần in lại do các nhà xuất bản vào những năm sau đây: Sebastien Mabre-Cramoisy et Gabriel Cramoisy, Paris, 1666. Christophe Journel, Paris, 1681. Christophe Journel, Paris, 1683. Julien, Lanier et Co, Paris, 1854, Desclée et de Brower, Lille, 1884. L.m. Michel Pachtler, S.J., dịch ra Đức văn, xuất bản : Freiburg im Brisgau, Herder, 1858. Ngoài ra một bản Anh văn do Solange Hertz dịch, mới được xuất bản dưới đầu đề : Rhodes of Việt Nam. The Travels and missions of Father Alexandre de Rhodes in China and other Kingdoms of the Orient, Westminter, Maryland, 1966, in-8°, XX-246 tr.

    124 Chính Gaspar d’Amaral khi ký tên, có lúc ông ký là Gaspar d’Amaral, có lúc lại ký là Gaspar do Amaral.

    125 Xin coi tiểu sử Paulus Saito ở trang 27, chú thích 38.

    [126 ... thiếu nội dung cuối trang 69 bản gốc] chúng vớt lên được. Hay tin, Palmeiro phải đích thân đến Hải Nam chuộc lại. Bức thư quí giá này hiện giữ tại Thư viện Vatican, Fonds Barberini, vol. 158 (mss orient), Indici e Cataloghi Vaticani. Năm 1912, L.m. L. Cadière đã cho chụp lại bản gốc, dịch ra Pháp văn kèm với lời chú thích, đăng trong báo Bulletin de la Commision archéologique de L'lndochine, 1912, Pl.VII và từ tr. 199-210, dưới nhan đề Une lettre du roi de Tonkin au pape. Cadière đã lầm lẫn khi viết là thư gửi cho Giáo hoàng, vì như chúng ta vừa thấy, đó là thư gửi cho André Palmeiro. Sở dĩ Cardière lầm là vì chính Thư viện Vatican ghi lầm. Chúng tôi không muốn ghi lại nội dung bức thư, vì ít nhất đã có những sách báo sau đây đề cập tới : PHẠM-VĂN-SƠN, Việt-sử Tân-biên, Quyển IV, Saigon 1961, tr. 136-139. Ông Phạm-văn-Sơn cũng lầm là bức thư gửi cho Giáo hoàng.- Việt Nam Khảo cổ Tập-san, số 2, Saigon, 1961.- VÕ-LONG- TÊ, Lịch-sử Văn- học Công-giáo Việt-Nam, Cuốn I, Saigon, 1965, tr. 112-113.

    127 Antonio de FONTES (1592-?), đến truyền giáo ở Đàng Trong cuối năm 1624, rồi tới Đàng Ngoài năm 1631. Cùng năm đó ông về Áo Môn, ít lâu ông lại đến Đàng Trong, nhưng năm 1639 ông bị trục xuất hoàn toàn khỏi đây. Chúng tôi không rõ ông qua đời năm nào.
    Antonio-Francisco CARDIM (1595-1659), đến Áo Môn năm 1623, tới Xiêm 1626. Năm 1631 ông đến Đàng Ngoài rồi tìm cách đi Lào, nhưng không thành công. ít lâu sau ông trở về Áo Môn. Cardim qua đồi tại Áo Môn năm 1659. Ông viết nhiều bản tường thuật về việc truyền giáo ở Đông Á bằng chữ Bồ Đào và La tinh, sau này được in thành sách, ví dụ cuốn Relation de ce qui s’est passé depuis quelques années jusques à l'An 1644 au Japon, à la Cochinchine, au Malabar, en l'Isle de Ceilan...,Paris, 1646. in-12°.

    128 Khóa thi Hội tháng ba “lấy đỗ bọn Nguyễn Minh Triết 6 người. Khi ấy có Nguyễn văn Quang người làng Đặng-xá huyện Cẩm-giàng thiếu điểm số mà được dự đỗ, sai bỏ tên đi. Trước đây, vua coi thi, thấy mặt trời có quầng, mống đỏ vây bạc xung quanh, lại có mống trắng xuyên vào giữa, mọi người cho thế là điềm ứng ” (Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập IV, do CAO HUY GIU dịch, Hà Nội, 1968, tr. 257).

    129 CARDIM, Relation, Paris, 1646, tr. 91-92.

    130 L.m. C. Sommervogel lại ghi là G. d’Amaral chết đắm tầu ngày 24-2-1646 (C. SOMMERVOGEL, Bibliothèque de la Compagnie de Jésu, Nuovelle edition, Louvain, 1960, coi chữ G. d’Amaral. Có thể đọc thêm tiểu sử ông trong FRANCO, Imagem da virtude em o noviciado de Coimbra, Quyển II, tr. 522-523

    131 ARSI, JS. 85, f. 125r-174r

    132 Có lẽ Antonio d’Amaral cùng họ hàng với Gaspar d’Amaral.

    133 ARSI, JS.85, f. 130r, 136r, 137v, 139r, 140rv, 142v, 152, 154v, 159r, 169v, 173r.

    134 Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Asia, Códice 49,V,31, f. 215-163V.

    135 Coi Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập IV, Hà Nội, 1968, tr. 259]

    136 Ibid. tr. 251.

    137 Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis, Fasc. 16,. 31-37r.

    138 Augustin de BACKER, Bibliothèque des Ecrivains de la Compagnie de Jésus, Quyển I, Paris, 1869, tr. 121. Carlos SOMMERVOGUEL, Bibliothèque de la Compagnie de Jésus, Nuovelle édition, Quyển I, Louvain, 1960, cột 261-262 - D. BARBOSA MACHADO, Bibliotheca Lusitana, Historica, Critica, e Cronologica, Quyển II, Lisboa, 1747, tr. 331-332. — E. TEIXEIRA, Macau e sua diocese, VII, Padres da diocese de Macau, Macau, 1967, tr. 548.

    [139....thiếu nội dung phần cuối trang 89 bản gốc] ille à lingua Annamitica incipiens hic à lusitana, sed inunatura vterque morte nobis ereptus est ” (RHODES, Dictionarium annaminicum, lusitanum et latinum, Roma, 1651).

    140 Joseph-François SCHUTTE, EL “Archivo del Japón”, vicisitudes del Archivo Jesuitico del Extremo Oriente y descripción del Fondo existente en la Real Academia de la Historia de Madrid, Madrid, 1964, tr. 14-74.

    141 D. BARBOSA MACHADO, Bibliotheca Lusitana, Historica, Critica, e Cronologica Quyển I, Lisboa, 1741, tr. 214-215.

    142 D. BARBOSA MACHADO, Ibid., tr. 214-215. - C. SOMMERVQGEL, Bibliothèque de la Compagnie de Jésu, Nouvelle édition, Q. I. Louvain, 1960, cột 888. - E. TEIXEIRA, Macau e sua diocese,VII, Macau, 1967, tr. 548.

    143 Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Asia, Códice 46-VIII-44.

    144 NGUYỄN-KHẮC-XUYÊN, Chung quanh vần-đề thành lập chữ Quốc-ngữ vào năm 1645, trong Vạn-hóa nguyệt-san, Loại mới, số 48, tháng 1-2 năm 1960, tr. 5-14. - THANH-LÃNG. Những chặng đường cửa chữ viết Quốc-ngữ, trong báo Đại-Học, Năm thứ IV, số 1, tháng 2-1961, tr. 21-22 và 24. - VÕ-LONG-TÊ, Lịch-sử Văn-học Công-giáo Việt-Nam, cuốn I, Saigon, 1965, tr. 122-127.

    145 ARSL JS. 80, f. 35r-38v.

    146 Ngày nay không còn vùng Bồ Đào Nha nữa, mà Bồ Đào Nha chỉ còn là một tỉnh Dòng Tên với 406 tu sĩ. Còn những nơi mà vào thế kỷ 17 thuộc vùng Bồ Đào Nha thì nay đã được phân phối như sau : Ba Tây chia thành ba tỉnh Dòng Tên nhập vào Vùng Nam Mỹ La tinh ; Ấn Độ, Tích Lan chia làm 11 tỉnh hay phụ tỉnh thuộc vùng Ấn Độ ; còn các xứ khác ở Đông Á nhập vào Vùng Đông Á, gồm các tỉnh, phụ tỉnh hoặc miền : Nhật Bản, Trung Hoa, Hong Kong, Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia, Úc Đại Lợi. Năm 1972, Dòng Tên có 12 vùng chia ra 62 tỉnh, 24 phụ tỉnh, 12 miền với 31.758 tu sĩ.

    147 TlSSANIER. Relation, trong Bibliothèque municipale de Lyon, Manuscrits 813 (Fonds général), f. 11v-12v.

    [148.... thiếu phần cuối trang 97 bản gốc] ngày 12-5-1655 cho L.m. F. de Tavora về vấn đề mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt (ARSI, JS. 80, f. 88-89r, bằng tiếng Bồ Đào).

    149 ARSI, JS. 80, f. 35r.

    150 Manuel AZVEDO (1579-1650) sinh tại Bồ Đào Nha, tới Áo Môn truyền giáo từ năm 1640, rồi làm Giám sát hai tỉnh Dòng Tên Nhật bản và Trung Hoa. Ông qua đời tại Áo Môn ngày 3-2-1650 (ĐỖ QUANG CHÍNH, La mission au Việt Nam 1620-1630 et 1640-1645 d’Alexandre de Rhodes, s.j., avignonnais, Paris, 1969, Luận án tại Ecole des Hautes Etudes - Sorbonne, tr. 266).

    151 Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản được thành lập năm 1612, còn phụ tỉnh Dòng Tên Trung Hoa, trước đây thuộc tỉnh Nhật Bản , đến năm 1619 được nhấc lên thành phụ tỉnh.

    152 Học viện “ Madre de Deuz ” được thành lập ngày 1-12-1594 nhờ sự cố gắng của Cha Giám sát Dòng Tên A. Valignani. Thời kỳ đó, thỉnh thoảng Học viện cũng cấp phát bằng Tiến sĩ Thần học.

    153 Tuy gọi là Phó Giám tỉnh, nhưng ông có quyền như một Giám tỉnh, vì Nhật Bản vẫn là một tỉnh Dòng Tên. Lúc ấy Tỉnh Nhật không có Giám tỉnh, vì việc truyền giáo trên đất Nhật khó quá.

    154 ARSI, JS. 80, f. 35r.

    155 Ibid., f. 35v.

    156 Ibid., f. 36r.

    157 Ibid., f. 38r.

    158 Ibid., f. 36v.

    159 Ibid., f. 35r.

    160 ARSI, JS. 80, f. 76r-80v.

    161 Ibid., f. 76v.

    162 Ibid., f. 76rv, 77r

    163 Ibid., f. 76v.

    164 Ibid., f. 77v.

    165 Ibid., f. 80v.

    166 Ben tò là tên thánh của một người Việt Nam. Ben tò do chữ Bồ Đào Nha là Bento, tức ông thánh Bento, còn La ngữ là Benedictus, Pháp ngữ là Benoit, tiếng Việt ngày nay gọi là Bê-nê-đích-tô hay Biển Đức.

    167 An gio (An Jo) bởi chữ Bồ Đào là Anjo, có nghĩa là Thiên Thần.

    168 Gi-rô-ni-mô bởi chữ Bổ Đào là Jerónimo (ông thánh Jerónimo).

    169 I-na sô bởi chữ Bồ Đào là Inácio (ông thánh Y Nhã).

    170 Tho-me, tức là thánh Tô Ma.

    171 Gi-le chữ La tinh là Aegidius

    172 Lu-i-si, chữ La tinh là Aloysius.

    173 Do-minh bởi chữ Bồ Đào là Domingos (thánh Đa Minh).

    174 An ton bởi chữ Bồ Đào António (thánh An Tong).
tducchau thích bài này.