Gói 26 - langtu & 4DHN (done) / Done

17/2/16
Gói 26 - langtu & 4DHN (done) / Done
  • Link docx

    Link pdf

    ông ta "thông báo cho nhóm Ahnenerbe được biết về vai trò của mình" :

    - Người ta có thể bảo rằng Reichsfuhrer SS đã khuyến khích các cuộc thí nghiệm nói trên.

    Và chẳng thấy có ai trách móc ông ta, dù chỉ một lần thôi, đã cho công việc tiến hành như vậy.

    Thế rồi đến ngày 5 tháng giêng 1942, Ding đã chích cho năm thí vật đầu tiên một phân lượng một phân khối (1cm3) chất thuốc loại mầm Rickettsias-Prouazecki, được sáng chế từ Viện Robert Koch cho đến khi căn trại được giải phóng, đã có khoảng 1000 tù nhân đã bị thí nghiệm như vậy.

    Và theo lời chứng của tù nhân Heinz Rotheigener :

    - Tại một phòng của khối 46 có khoảng 100 tù nhân, kể cả tôi, gồm người Tiệp khắc, Ba lan, Do thái và Đức. Người ta gọi tên chúng tôi bằng máy phóng thanh. Trong mấy ngày trước đó, đã có 60 người khác, cũng được gọi đến đây bằng cách như vậy. Trong khoảng thời gian độ ba tuần lễ, chúng tôi được cho tăng gấp đôi khẩu phần và cuối thời gian nầy chúng tôi đã bị làm lây độc. Sau đó khoảng một tuần thì xảy ra chứng vọp bẻ nhưng nhẹ thôi, kế đến là chúng tôi bị nôn mửa, rồi thêm bị chứng nhức đầu thật dữ dội, chúng tôi ăn uống không còn biết ngon miệng là gì nữa. Sự đau đớn càng trở nên khóc liệt hơn đến đổi người ta có cảm giác như là cái đầu sắp bị nổ tung ra. Chỉ cần một chút cử động nhẹ thôi cũng đủ làm cho chúng tôi đau đớn không chịu được.

    Tiếp theo là lời chứng của tù nhân Victor Holbert :

    - Các người bị lây độc đã đau đớn kinh khủng, và bị lên sốt từ 40° đến 41° trong vòng từ 3 đến 4 tuần lễ. Đã có hơn phân nữa số người bị chết đi trong thời kỳ bị nóng sốt ấy. Và những ai còn sống sót, thì cũng bị hốc hác, vàng võ, gầy trơ ra như bộ xương sau khi được trả về trại. Họ lại còn bị biến thành đội tạp dịch với các công tác thật nặng nề rồi lại bị chết đi vì những hình phạt khổ sai ấy.

    Và thêm đây nữa là lời chứng của Eugène Kogon, tù nhân thơ ký, của Bác sĩ Ding.

    Mỗi người đều rõ khối 46 là một nơi thật khủng khiếp, nhưng ít ai có được một ý niệm chính xác về cái gì xảy ra ở nơi ấy. Tất cả những có liên hệ đến khu trại ấy, đều bị in trong trí một nỗi kinh hoàng đến chết khiếp đi được. Các thí vật được "lựa chọn" biết rằng họ đang thử liều với cuộc sống.

    - Hơn nữa ở nơi trại tập trung nầy, người ta chỉ biết đại khái là tên Kapo Aruthur Dietzsch đã áp dụng một kỷ luật sắt tại khối 46. "Thật đúng là nơi thống trị độc đoán của con mèo chín đuôi".

    Người nào bị chỉ định về khu trại nầy chỉ còn biết chờ chết thôi, một cái chết mõi mòn và rất khủng khiếp mà người ta đã không ngừng tưởng tượng ra như là các hành hạ hay sự tướt đoạt chút tự do còn lại sau cùng của con người. Chính trong những điều kiện tâm lý ấy mà các thí vật đã phải chờ đợi ...tới phiên mình , nghĩa là ngày cũng như đêm không biết lúc nào, người ta sẽ mang đến cho họ một tai hoạ nào đó mà họ chưa rõ nhưng hẵn là bi đát lắm như là một hình thức chết nào đó thật hải hùng!
    Việc làm cho "lây độc" đã rất mạnh, (quá mạnh như là viên giám định Leo Alexander đã phải nói tại toà án, người ta đã dùng đến chiếc búa tài xồi chỉ để trắc nghiệm chiếc nón đội của cầu thủ đá banh) đến nổi bệnh đậu làm luôn phát triển dưới một tình trạng thật nguy kịch. Rồi với tên Kapo Dietzsch lại thường xảy ra thêm những cảnh tượng rất ghê khiếp. Các bệnh nhân luôn e ngại rằng người ta sẽ chích cho họ một mũi thuốc chết người. Sau một khoảng thời gian nào đó, khi chứng lây độc đã ngự trị rồi, thì các triệu chứng thường xuyên của bệnh đậu lào lại xuất hiện và ai cũng hiểu được rằng đấy là một chứng bệnh rất đáng ngại. Nhất là, trong 2 năm sau cùng tại viện nghiên cứu, các triệu chứng mang một tình trạng thật đáng sợ. Có vài trường hợp như là các bệnh nhân mê sảng thác loạn thần kinh, bỏ ăn và tử xuất đã chiếm một bách phân khá lớn. Những người nào còn sống sót được, cũng là nhờ vào cái hình vóc lực lưởng của cơ thể, sức chịu đựng dẽo dai, hay nhờ có sự hiệu quả của một cuộc chủng đậu, thì lại phải chứng kiến cảnh những người bạn của họ đang phải tranh vật với tử thần. Họ đã phải sống trong bầu không khí thật căng thẳng, khó mà tưởng tượng ra cho được. Các người sống sót nầy lại không biết rồi cái gì sẽ xảy ra thêm nữa cho họ, rồi người ta có còn sữ dụng họ vào các mục đích nào khác nữa không.

    Hoặc là họ sẽ thật sự không còn sợ chết nữa, chính vì họ đã là những kẻ còn sót lại và đã là nhân chứng các nạn nhân của các cuộc thí nghiệm kia ?

    Đấy chỉ là phần "ngoại cảnh" và "màu nét". Còn về công trình khoa học thì sao ?

    Các cuộc nghiên cứu nầy nhằm vào hiệu lực của các loại thuốc chủng ngừa, có những nguồn phát xuất khác nhau như là : thuốc chủng của dược viện Behring bào chế bằng cách cấy màng noãn hoàng của trứng gà (theo phương pháp Cox, Gildemeister, Haagen); thuốc chủng Durand-Giroud, chế tạo bằng phổi thỏ bởi viện Pasteur ở Ba-lê; thuốc chủng rút từ phổi chó (Bucarest); thuốc chủng lấy từ gan chuột (Đan Mạch). Có điều rất lạ, đáng để ý là hai loại thuốc chủng sau cùng được giáo sư Rose gởi đến trại Buchenwald. Vị nầy là trưởng phân bộ nghiên cứu về các chứng bệnh thuộc vùng nhiệt đới tại viện nghiên cứu Robert Koch ở Bá linh. Ông là một giáo sư thật can đảm. Trong một buổi hội về ngành quân y, ông đã dám cả gan đứng lên với tất cả sự công phẩn, phản đối các cuộc thí nghiệm trên con người của khối 46, vừa khả quyết rằng các thí nghiệm đó thật là trái với đạo đức và rằng các kết quả thu đạt được cũng như các kết quả đã đạt được tìm thấy qua các cuộc thí nghiệm trên thú vật. Nhưng khoảng một năm sau, giáo sư Rose lại thay đổi ý kiến (có thể là ông cảm thấy mình bị đe dọa chăng!) và cho gởi thuốc chủng của ông đến bác sĩ Ding. Khối 46, lại một lần nữa, thí nghiệm thêm hằng chục loại trị liệu chổng lại bịnh sốt phát ban (typhus exanthématique), theo sự yêu cầu của các viện bào chế quân đội, cũng nhờ tư nhân. Eugène Kogon cho rằng:
    - Lợi ích khoa học của các cuộc thử nghiệm ấy gần như không có gì cả, hoặc có chăng cũng chỉ là rất ít giá trị, vì cách thức làm lây bệnh rất là phi lý nếu không muốn nói là điên rồ; đáng lý ra thì phải khám phá cái giá trị giới hạn của liều vi trùng làm lây bịnh và phương cách lây độc sát với thực tế nhứt, nghĩa là gần với mức truyền độc bởi các con rận, chí: song tác đụng ấy phải kém hơn, để làm vô hiệu hóa dần dần sự chủng ngừa mà người ta đã làm trước đó hoặc, lâm thời để có một tác động nào đó trên sự chủng ngừa ấy. Nhưng việc làm nầy rất công phu và rất khó khăn đối với các ngài y sĩ nhà ta. Thế nên, trong kỳ đệ nhứt tam cá nguyệt của năm 1943, khi số thuốc được cung cấp từ Viện Robert Koch, bị mất tất cả tính độc nhiễm và khi sự tiêm chủng (bằng chích thịt, chích dưới da hoặc cấy trên da được thực hiện bằng cách rạch cho chảy máu và bôi thuốc vào) không đem lại được một kết quả nào, thì người ta lại thí nghiệm một cách quá y là giản dị bằng cách chích vào mạch máu thí vật hai phân khối máu tươi cũng trích từ thí vật ấy, nhưng lại được tẩm vi trùng thật mạnh. Tất nhiên là kết quả đã vượt ngoài điều mong ước, và trong đa số các trường hợp kết quả thật là thảm khốc. Từ khi phương pháp làm lây bệnh ấy dược áp dụng thì tử suất tăng lên đến hơn năm mươi phần trăm đó là không kể đến trường hợp của những người mà người ta gọi là “chứng nhân” nghĩa là trường hợp của những người không được tiêm ngừa trước, để người ta có thể theo dõi tiến trình đều đặn của bệnh trạng trong thân thể họ. Đám người nầy bị chết gần hết. Vậy sau đó, người ta bớt dần lượng độc nhiễm xuống còn một phần mười phân khối nhưng lượng ấy không làm mất tác dụng gây chết chóc, vì độ độc nhiễm cao của loại mầm sinh bệnh trên con người đã gia tăng do sự “truyền thụ” chỉ trong một loạt thí nghiệm thôi, người ta có thể nhận thấy hiệu lực thật sự của thuốc chủng chống bệnh sốt phát ban (tuphus exanthématique) điều chế ngay lại Buchenwald: với số 20 người đã được chủng ngừa trước, không có người nào bị chết cả, và sự diễn biến của chứng bệnh lại ít nguy hại hơn so với ngay cả các thí vật đã được chủng ngừa bằng thuốc chủng thuộc loại tốt nhứt, thuốc chủng của Weigi (vaccin de weigi) được chế biến bằng ruột của các rận chí trong khi trên tổng số hai mươi “chứng nhân” được truyền độc cùng một lượt thì mười chín người đã bị chết vì sự truyền độc ác hại đó.
    Các y sĩ tù nhân được dùng cho công tác sản xuất thuốc chủng, dành cho quân đội Đức, đã phải sống trong cảnh phập phồng lo sợ cho đến ngày trại được giải phóng, bởi vì các sản phẩm được họ chế tạo ra không có tính cách kháng nhiễm chống lại bệnh đậu lào:

    - Ding trong buổi họp toàn thể lần đầu tiên có lưu ý với chúng tôi rằng nếu có một vài hành động phá hoại xẩy ra thì tất cả chúng tôi sẽ bị bắn bỏ... nhưng chúng tôi đã quyết định với các nhà vi trùng học và ông giám đốc sản xuất Marian Ciepielowsky, chế ra các thuốc chủng nhẹ, khỏng có tính cách đối kháng... Bác sĩ Ding đòi chúng tôi sản xuất thật nhiều lượng thuốc chủng. Chúng tôi chế ra hai loại: một loại với số lượng thật lớn, hoàn toàn vô hiệu được đưa ra mặt trận, còn loại thứ hai chỉ số lượng ít thôi, nhưng rất hiệu quả và được dùng trong những trường hợp đặc biệt, như là dành cho chúng tôi hay các bạn chúng tôi làm việc trong những nơi nguy hiểm của trại. Ding chưa bao giờ hay biết về các cuộc sắp xếp nầy của chúng tôi. Vi ông ta không đủ kiến thức thật sự về vi trùng học nên ông ta không thể nào biết được sự bí mật của việc sản xuất, ông hoàn toàn nghe theo các báo cáo mà các chuyên viên (toàn là bọn tù nhân chúng tôi) phúc trình cho ông. Khi ông ta thấy có được chừng ba mươi hoặc bốn mươi lít thuốc chủng để gởi về Bá linh là đủ để cho ông quay sướng lắm rồi. Song le chúng tôi vẫn còn e ngại một điều là khi thuốc dùng tiêm ngừa cho các đoàn quân SS đang chiến đấu tại Nga, bọn họ bị ngã bệnh và chết đi vi tính chất vô hiệu của các thuốc chống được chúng tôi chế ra. Như vậy điều bí mật có thể bị phá và các chuyên viên ở bên ngoài - quân SS có những chuyên viên ấy - có thể điều tra và phát giác được sự thật của thuốc chủng vừa được sản xuất và cho sử đụng ở đấy.
    May là các điều nghĩ lo như vậy đã không xảy ra và việc làm mạo hiểm của chúng tôi, cứ được tiếp tục cho đến tháng ba năm 1944.

    Khi Mrugowsky biết được sự phá hoại nầy tại phòng xử của tòa án Nuremberg, ông ta nói với vị Chánh thẩm:

    - Điều nầy tiêu biểu cho một thái độ không phù hợp chút nào với các quan niệm về tình tinh nhân loại đã được quí ngài nhân chứng nầy phát biểu hôm nay.

    *

    - Hãy nhìn kìa Kogon, anh sẽ tìm ra được điều mà anh phải giải đáp. Đấy là mấy góa phụ đang muốn tìm một sự an ủi...

    Bác sĩ Ding càng ngày càng tỏ ra tín nhrệm Kogon hơn, người tù nhân được ông ta chọn làm bí thư. Với sự cộng tác của các tội phạm khác, Kogon đã thảo các bản tin về y học cho ngài y sĩ, và thảo luôn cả các bức thư tình cho ông ta nữa. Là con người dễ bị giao động, được đánh dấu qua sự thiếu thốn tình thương của buổi thiếu thời, mà ông đã phải chịu làm thân một đứa con hoang, thiếu hẳn sự yêu chìu, ông ta lấy tên của người cha nuôi và lại phải bỏ cái tên nầy chỉ vài tuần trước, khi căn trại được giải phóng, vì ông hiểu rằng phe Đồng Minh sẽ truy được ra ông và xem như là một tội phạm chiến tranh. Thế nên ông đã đổi tên thành bác sĩ Schuler ngay vào giờ phút ấy.

    Năm 1936, với tuổi 24, ông có ý định vào quân dội, nhưng chuyện lại không thành vì ông là đứa con vô thừa nhận. Nhưng bên lực lượng SS, họ lại chịu thu nhận ông ta và ông được phục vu tại cơ quan y tế của đơn vị “Đầu lâu của Tử thần”. Và chuyện tiếp theo như chúng ta đã biết.

    Trong những ngày cuối cùng tại trại Buchenwald, không những ông ta thay tên mà còn đổi cả thái độ nữa. Ông còn bị viên bí thư thuyết phục làm ngơ cho một vài công tác cấp cứu do ủy ban bí mật tại trại phát động. Khu trại được giấu các người đã bị lên án tử khá khỏe mạnh ẩn giữa các con bệnh truyền nhiễm, được Ding Schuler đặt tên là: “Ultimum Refigium Judoerum” (nơi trú cuối cùng của người Do thái). Y sĩ nhà ta cảm thấy vận cùng sắp đến nơi, nên đã cùng tên ác ôn Diezsch cho đốt tất cả các tài liệu nào thấy có phương hại đến họ. Nhưng Kogon lại giấu trong tờ giấy bồi, quyển nhật ký, ghi sự diễn tiến của các thí nghiệm:

    - Ngày hôm sau, tôi nói với Ding rằng, quyển nhật ký chưa bị đốt. Ông ta tỏ ra rất kinh ngạc và hỏi tôi có nghĩa rằng quyển nhật ký đó sẽ có thế cấu thành một vũ khí nguy hại cho ông không. Tôi trả lời với ông rằng nếu như ông có thể chứng tỏ được trước tòa là chính ông đã cứu quyển sổ nhật ký ấy khỏi bị cháy thì chính hành động ấy sẽ chứng
  • Chia sẻ trang này