Hoàn thành 0014.Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt (đã xong - đã làm ebook, đang soát lần cuối)

Thảo luận trong 'Dự án eBook cho Thư viện' bắt đầu bởi teacher.anh, 12/8/15.

  1. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    0014.Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt (đã xong - đã làm ebook, đang soát lần cuối)
    0059. Nghien Cuu Ngon Ngu Hoc.bia.jpg
     
    Chỉnh sửa cuối: 29/1/16
    tducchau, Mot_sach09 and tamchec like this.
  2. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Lưu ý khi đánh máy nha các tình yêu của Rùa:
    1. Chỗ nào trong phần đánh máy có hình cần chèn vào, gõ dùm Rùa là hình số mấy, trang nào, và in đậm dòng này nhé, để khi soát lại làm eBook Rùa sẽ chèn vào.
    2. Chú thích trong sách khi gõ trên wiki thì đổi màu, giữ nguyên số như bản gốc, mình sẽ chỉnh lại toàn bộ khi làm eBook.
    Có gì thắc mắc thì cứ hỏi ở đây nhé. :kiss:
     
    tamchec and tducchau like this.
  3. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    0014.01.01 Trang [001]-[012] tducchau 'lóc cóc' (done)
    http://www.mediafire.com/view/3zn1y0kc9d9kfv1/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00001.pdf

    TỔ NGÔN NGỮ HỌC
    ỦY BAN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT-NAM

    NGHIÊN CỨU
    NGÔN NGỮ HỌC

    TẬP I

    VẤN ĐỀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG
    CỦA TIẾNG VIỆT

    NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
    HÀ NỘI - 1968

    Nghiên cứu ngôn ngữ học gồm những bài nghiên cứu về những vấn đề ngôn ngữ của ta, chủ yếu là về tiếng Việt. Những bài này sẽ in thành nhiều tập. Tập 1 gồm những bài nghiên cứu về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một vấn đề có tầm quan trọng lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ của ta hiện nay.

    HOÀNG PHÊ

    VỀ VẤN ĐỀ
    GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

    "Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó..."
    Hồ Chủ Tịch

    Trước Cách mạng tháng Tám, trong lĩnh vực văn hóa, Đảng ta nêu nhiệm vụ "tranh đấu về tiếng nói" thành một "nhiệm vụ cần kíp", chủ trương "thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói" của dân tộc (1).

    Sau Cách mạng tháng Tám, chính giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở trong giai đoạn gay go nhất, đồng chí Trường Chinh kêu gọi "gây một phong trào Việt hóa lời nói và văn chương", "kiên quyết bảo vệ tiếng mẹ đẻ" (2). Và gần đây, giữa lúc tiếng súng chống Mĩ cứu nước đang nổ rền khắp Nam, Bắc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhắc mọi người phải "giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta", vì "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt tức là góp phần chống Mĩ cứu nước trên mặt trận văn hóa" (1).

    Như vậy, "bảo vệ tiếng mẹ đẻ", "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" là một công tác không thể thiếu được trong toàn bộ công tác cách mạng của chúng ta. Dù những khi phải tập trung sức lực chống ngoại xâm, như trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và trong chống Mĩ cứu nước hiện nay, cũng không một lúc nào chúng ta chểnh mảng việc đó.

    Theo đường lối nói trên của Đảng, những người nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta cũng nhận thức rằng: "Bảo vệ tính chất trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó mỗi ngày một giàu đẹp, chính xác thêm, đó là nhiệm vụ của tất cả mọi người dân Việt-nam, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học, nhà văn, nhà báo" (2) và trong mấy năm nay rải rác đã có không ít bài nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (3).

    Từ đầu năm 1966, sau bài phát biểu về "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" của Thủ tướng Phạm văn Đồng, vấn đề càng được chú ý hơn, và không chỉ trong giới ngôn ngữ học. Nhiều người, trong đó có những nhà văn, nhà báo đã nói những suy nghĩ và những băn khoăn của mình về vấn đề này (1).

    Cách mạng tháng Tám mở ra một giai đoạn phát triển mới của tiếng Việt: giai đoạn nó được nâng lên địa vị ngôn ngữ nhà nước của một dân tộc độc lập, tự do, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, phạm vi sử dụng của tiếng Việt được mở rộng một cách không hạn chế. Ngày nay, đông đảo nhân dân ta dùng tiếng Việt hàng ngày trong những lĩnh vực hoạt động, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ đối với mình. Do đó mà cũng không khỏi nảy sinh hiện tượng khá phổ biến là nói, viết không được tốt, ảnh hưởng đến sự trong sáng, sự phát triển lành mạnh của ngôn ngữ. Mọi người đều thấy cần chống những hiện tượng ấy.

    Nhưng đi cụ thể, đi sâu hơn nữa thì nảy ra những vấn đề. Trước hết, có vấn đề đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, "trong việc dùng từ và đặt câu... điều then chốt là phải phân rõ cái đúng với cái sai, cái làm giàu đẹp thêm tiếng Việt với cái "làm hư" tiếng Việt... Nhưng ai cũng thấy việc ấy không phải dễ" (1). Thật vậy, trong ngôn ngữ, thế nào là đúng, sai, tốt, không tốt? Có nhiều trường hợp rõ ràng, nhưng cũng có những trường hợp không rõ ràng, nhưng cũng có những trường hợp không rõ ràng. Thế nào là sự trong sáng của tiếng Việt là một câu hỏi không dễ trả lời, và đúng là "có nhiều quan niệm trong sáng khác nhau, do đó có nhiều cách đánh giá khác nhau" (2). Vậy nên quan niệm thế nào để khi giải quyết vấn đề ngôn ngữ tránh được sai lầm của chủ nghĩa chủ quan, tránh được "cái tình trạng chỉ dựa vào cảm tính" (4), mà không dựa vào sự nghiên cứu khoa học?

    Như vậy, có nhiều vấn đề, mà chung qui là: nên hiểu thế nào là "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt"? Thế nào là "trong sáng", thế nào là "giữ gìn"? Rõ ràng là cần phải nghiên cứu cơ sở lí luận, nội dung, phương hướng của việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ chúng ta.

    Vấn đề rất lớn và phức tạp. Dưới đây chỉ xin trình bày một số suy nghĩ bước đầu và chưa phải toàn diện.

    *
    **

    Đề ra việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ tức là thừa nhận rằng trong ngôn ngữ có cái "đúng" và có cái "sai", cái "tốt" và cái "không tốt", và thừa nhận con người có thể tác động một cách tự giác và tích cực đến sự phát triển của ngôn ngữ. Thừa nhận như vậy có cơ sở hay không? Câu hỏi này nhiều người có thể cho là thừa. Nhưng đây chính là một vấn đề quan điểm cơ bản, và trong ngôn ngữ học hiện đại, không phải là không có những ý kiến khác nhau rất nhiều.

    Cho nên cũng cần khẳng định rõ ràng quan điểm của chúng ta. Đó đây, có những nhà ngôn ngữ học cho rằng một "nguyên tắc cơ bản" là "trong ngôn ngữ không có cái gọi là tốt và xấu (hay là đúng và sai, hợp ngữ pháp hay không hợp ngữ pháp)", và nếu nghĩ rằng trong ngôn ngữ có cái đúng, cái sai, thì đó là một quan niệm "không những không đúng đắn, sai lầm và vô ich, mà còn là hết sức có hại" (1). Quan niệm này chỉ là "sản phẩm phụ của những địa vị xã hội nào đó". Cho nên nhà ngôn ngữ học "quan sát tất cả các hình thức ngôn ngữ một cách vô tư và sẽ không đứng về phía nào cả", bởi vì ngôn ngữ học là khoa học, mà nói khoa học tức là dựa trên sự quan sát hiện tượng và không đề nghị một sự lựa chọn nào hết", cũng tức là hoàn toàn không can thiệp vào sự phát triển của sự vật. Quan điểm trên đây từ mấy chục năm nay là quan điểm phổ biến trong giới ngôn ngữ các nước tư bản. Nó đã nảy sinh trong hoàn cảnh có sự phản ứng chống lại việc dạy ngôn ngữ ở nhà trường theo lối kinh viện chủ nghĩa, tách rời ngôn ngữ sinh động của nhân dân, chống thái độ bảo thủ, hẹp hòi, "thuần túy chủ nghĩa" trước những hiện tượng mới trong ngôn ngữ, chống chủ nghĩa chủ quan trong việc đánh giá và nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ. Nhưng nếu chống chủ nghĩa chủ quan mà lại rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, thì vẫn là sai lầm. Không thể vì phản đối sự đánh giá chủ quan đối với các hiện tượng ngôn ngữ mà phủ nhận mọi sự đánh giá. Sự thật là trong hoạt động ngôn ngữ, mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, dù tự giác hay không, đều có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, phân biệt giữa đúng và sai, tốt và không tốt. Ngay cho rằng trong ngôn ngữ không có cái đúng và cái sai cũng đã là một sự đánh giá rồi, đánh giá rằng cái gì cũng "được", cũng đúng, không có cái gì là "sai" cả. Vì có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, nên mới có sự lực chọn cách diễn đạt và có sự sáng tạo trong lời nói, mới có thái độ khác nhau đối với những hiện tượng mới trong ngôn ngữ. Một hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng được chấp thuận hay không, được giữ lại và củng cố, hay bị bỏ đi, hoặc bị thay thế là thông qua sự đánh giá của xã hội.

    Trong những vấn đề ngôn ngữ cũng vậy, nếu vin vào lẽ cần phải khách quan, mà đi đến thái độ khách quan chủ nghĩa thì là hoàn toàn sai lầm. Không thể coi "ngôn ngữ là một hệ thống chỉ biết có trật tự của bản thân nó" (1). Không thể "để mặc ngôn ngữ", như có người đã nêu thành một đường lối, đề tên như vậy cho một quyển sách của mình (1). Có lúc người ta quên cái chân lí đơn giản sau đây: chính con người tạo ra và sử dụng, thì cũng chính con người phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ. Xã hội và khoa học phát triển, thì tác dụng của con người đối với cái sản phẩm ấy của mình cũng từ không tự giác dần dần trở thành tự giác, và ngày càng tự giác hơn, tích cực hơn. Cho nên nghiên cứu về ngôn ngữ thì phải biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, tuyên truyền cho một sự đánh giá đúng đắn, hướng dẫn sự đánh giá của xã hội, đứng về phía những hiện tượng tích cực mà đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực. Như có người đã nói: "Những nhà ngôn ngữ học phải là những người thực tiễn; không những chỉ sưu tầm các từ ngữ, mà còn phải can thiệp vào quá trình phát triển của ngôn ngữ; phải giải thích quá trình ấy, đoán trước chiều hướng phát triển, đấu tranh dũng cảm cho cái mới. Nói chung, phải nắm lấy ngôn ngữ!" (2) Đó thật ra là điều mà Mác và Enghen đã nói từ lâu: "Lẽ dĩ nhiên, đến lúc nào đó, con người sẽ hoàn toàn kiểm soát cả cái sản phẩm ấy" (chỉ ngôn ngữ) (3).

    Như vậy, vấn đề không phải là nên hay không nên đánh giá, mà là nên đánh giá như thế nào. Đây đúng là vấn đề mấu chốt, mà cũng là vấn đề khó khăn nhất. Trước cùng một hiện tượng ngôn ngữ, sự đánh giá có khi không nhất trí: có người cho là đúng, tốt, hoặc ít nhất là “được”; có người cho là sai, không tốt, « không được». Có những cách nói tương đối phổ biến, nhưng lại bị một số người không phải ít phản đối. Đúng, sai như thế nào, lắm lúc làm chúng ta rất phân vân. Sự đánh giá không nhất trí, vì thường dựa trên những căn cứ khác nhau. Nó chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâmlý, văn hóa. xã hội phức tạp, và không phải lúc nào cũng dựa trên những hiểu biết về ngôn ngữ. Cókhi sựđánh giá chỉ dựa trên những “thị hiếu” ngôn ngữ cá nhân, hoàn toàn chủ quan, Chúng ta thường thích một cách nói này hơnmột cách nói khác, nhưng hỏi lý do tại sao thì lắm khi rất khó trả lời. Ai cũng ít nhiềuquan tâm đến ngônngữ, “nhưng kết quả kì cục… là trong lĩnh vực này, hơn ở đâu hết, nảy sinh những ý nghĩ vô lí, những định kiến, tưởng tượng, ảo tưởng… Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học trước hết là vạch ra và làm tan những cái đó…” (1). Đúng như vậy. Nhưng vạch ra và làm tan các thứ định kiến là nhằm để đi đến xây dựng một sự đánh giá khách quan hơn, dựa nhiều hơn trên những hiểu biết về ngôn ngữ,về qui luật, yêu cầu, điều kiện, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời kì mà ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, không những cần đánh giá đúng đắn rất nhiều hiện tượng ngôn ngữ mới, mà lắm khi còn cần “đánh giá lại” nhiều hiện tượng ngôn ngữ cũ nữa.

    Nên căn cứ vào đâu để đánh giá những hiện tượng ngôn ngữ, và trước hết là để phân rõ đúng và sai?

    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong lô-gich: hình như cái gì "hợp lí" là đúng. Nhưng thế nào gọi là "hợp lí" trong ngôn ngữ? Ngôn ngữ có cái "lí" riêng của nó, không đơn giản, khác cái lí thông thường. Trong tiếng Việt, nói mười một nhưng lại không thể nói "hai mười một", "ba mười một", mà lại phải nói hai mươi mốt, ba mươi mốt. Bất, vô đều có nghĩa phủ định: bất ngờ, bất công, vô lễ, vô cớ,..v..v, nhưng bất thình lình lại nghĩa như thình lình, còn vô khối lại nghĩa như khối (còn vô khối = còn khối). Cùng là chạy nhưng trong chạy giặt, chạy nạn thì lại có nghĩa là chạy để tránh, mà trong chạy gạo, chạy thầy thì lại có nghĩa là chạy để tìm! Chỉ dựa trên cái lí thông thường, làm sao xác định được cái đúng, cái sai ở đây?
    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong dĩ vãng, trong sách. Trước kia, ngày xưa, nói như vậy, hiểu như vậy, thì bây giờ cũng phải nói vậy, hiểu như vậy mới là đúng, khác đi là sai. Hình như nghĩa theo gốc, theo từ nguyên mới là nghĩa "đúng" nhất của một từ. Nhưng ngôn ngữ đâu có đứng nguyên một chỗ, nó phát triển không ngừng. Tiếng Việt ngày nay không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Du, càng không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Trãi. Nếu hiểu theo thời Nguyễn Trãi thì ngặt, phải có nghĩa là "nghèo":
    Quân tử hay lăm bền chí cũ,
    Chẳng âu ngặt chẳng âu già (1) (Nguyễn Trãi: Quốc âm thi tập, Hà-nội, 1956, tr,39.)
    Còn nghèo thì lại có nghĩa là "nguy, khốn, ngặt":
    Khi bão mới hay là cỏ cứng,
    Thuở nghèo thì biết có tôi lành (2) (Như trên, tr.119)

    Đểu và cáng ngày xưa chỉ những hạng người lao động. Theo quan điểm của chúng ta ngay nay thì chẳng có gì đáng khinh. Nhưng từ lâu rồi "đểu cáng" đâu còn cáo nữa cái nghĩa phu gánh thuê và phu cáng, như Việt-nam tự điển của Hội Khai trí tiến đức đã giải thích? Trong ngôn ngữ, cái quá khứ chỉ có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm cái hiện tại, chứ không xác định được cái hiện tại. Enghen đã từng nói rằng phải hiểu một từ "theo cái nghĩa mà nó đã có trong quá trình phát triển lịch sử của việc sử dụng nó trong thực tế", chứ không thể hiểu " theo cái nghĩa mà đáng lẽ nó phải có theo nguồn gốc từ nguyên của nó" (1) (F.Enghen: Lutvich Fơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (C, Mác - F, Enghen: Tuyển tập, tập II, Hà-nội, 1962, tr.616. Chúng tôi có dịch và chữa lại một đôi chỗ - H.P.)

    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng trong một ngôn ngữ nước ngoài. Có người dựa theo ngữ pháp của một tiếng nước ngoài để phân tích, đánh giá một câu của tiếng Việt: đó là một sai lầm ấu trĩ. Nhưng nếu với những từ mượn, mà dựa theo "từ nguồn gốc" trong tiếng nước ngoài để xác định âm và nghĩa của nó thì sao? Có người cho rằng 'có nhiều chữ Hán, tục đọc sai lầm như huyền đọc ảo..., thống kế đọc thống kê , ủy mĩ đọc ủy mị...nay... [cần phải] cố gắng sửa lại" (2) (Hoàng Thúc Trâm: Hán - Việt tân từ điển, Sài-gòn, 1951, Phàm lệ, tr.14). Và người ta cho rằng nói thống kê, thông qua, ảo tưởng, trú ngụ là "sai", phải thống kế, thông quá, huyền tưởng, trụ ngụ mới "đúng"! Sự máy móc dựa vào tiếng Hán đã làm đảo ngược đúng, sai thực tế trong tiếng Việt. Sự thật là khi chúng ta mượn một từ của tiếng nước ngoài, thì với một ý nghĩa nào đó, chúng ta đã "tạo" ra một từ ...[Done]
     
  4. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    0014.01.02 Trang [013]-[024] (Ban Tang Du Tử đã nhấm nhắp xong)
    http://www.mediafire.com/view/r80n94hcivw08bi/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00002.pdf

    ...mới của ta: từ của "Tiếng Việt" này sẽ có một "đời sống" riêng của nó, có thể có những biến đổi về âm, nghĩa, cách dùng, như những từ khác của tiếng Việt, theo yêu cầu của tiếng Việt, và có khi theo những con đường phức tạp và đầy mâu thuẫn, kết quả làm cho mối liên hệ giữa nó với "từ nguồn gốc" trong tiếng nước ngoài chỉ có thể ngày càng bớt chặt chẽ đi (bản thân "từ nguồn gốc" này trong tiếng nước ngoài cũng có thể có những biến đổi, theo một con đường phát triển khác hẳn). Hủ hóa là một từ mới mượn gần đây của tiếng Hán. Bên cạnh cái nghĩa" hư hỏng, biến chất, sa đọa" dựa trên nghĩa trong tiếng Hán ("thối nát"), nó nhanh chóng có thêm một nghĩa mới: "Có quan hệ nam nữ bậy bạ, bất chính". Nghĩa mới này là nghĩa thường dùng hiện nay; nó có liên hệ với nghĩa cũ, nhưng là một nghĩa không hề có trong tiếng Hán. Dùng hủ hóa trong tiếng Việt với nghĩa như vậy, phải chăng là sai? Tìm hiểu nguồn gốc của một từ mượn có thể giúp ta hiểu sâu thêm về âm hoặc nghĩa của từ, nhưng nếu muốn dựa vào đó để "uốn nắn" lại âm, nghĩa, cách dùng hiện tại của từ thì là một việc làm nhiều khi vô ích và trái lịch sử.
    Chúng ta trở lại vấn đề: vậy nên căn cứ vào đâu để đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, để phân rõ đúng và sai, trong sáng và không trong sáng?
    Trong đời sống hàng ngày, khi vợ chồng, mẹ con, bạn bè thân thiết nói chuyện với nhau, chắc ít ai nghĩ đến cái "đúng", cái "sai" trong ngôn ngữ. Nhưng khi một nhà văn sáng tác truyện, một nhà khoa học viết sách, một thầy giáo giảng bài, một cán bộ chính trị nói trước quần chúng đông đảo, thì vấn đề đúng hoặc sai, trong sáng hoặc không trong sáng của ngôn ngữ phải được đặt ra. Tại sao vậy? Tại vì trong những trường hợp này, chức năng của ngôn ngữ đã được nâng cao, ngôn ngữ được dùng lam mộ công cụ văn hóa. Ngôn ngữ được sử dụng ở đây không phải chỉ để diễn đạt những cái chỉ có ý nghĩa nhất thời, nói rồi có thể quên đi giữa đôi ba người, mà là để diễn đạt đời sống văn hóa tinh thần, những tư tưởng, tình cảm quý giá, những gì quan trọng, có thể cần nói cho nhiều người, những người đó có thể ở gần mà cũng có thể ở xa, có thể là quen biết mà cũng có thể là không hề quen biết, có thể thuộc thế hệ đương thời mà cũng có thể thuộc thế hệ mai sau. Chức năng công cụ văn hóa đòi hỏi ngôn ngữ phải có tính thống nhất, tính toàn dân, khắc phục những sự sai khác bất tiện giữa các địa phương, các lớp người, các nghề nghiệp, đồng thời phải có tính ổn định, khắc phục những biến đổi thất thường và không cần thiết. Nó cũng đòi hỏi ngôn ngữ phải được nâng cao, đủ phong phú và tinh xác để có thể diễn đạt mọi tư tưởng tinh tế, diễn đạt mọi tình cảm tế nhị. Khi ngôn ngữ đã được nâng lên thành ngôn ngữ toàn dân thống nhất, ổn định, tinh xác, phong phú, làm công cụ văn hoá của dân tộc, như vẫn thường gọi, hay đúng hơn là ngôn ngữ văn hóa (1) ( (1): Gọi là "ngôn ngữ văn học" thì dễ lầm là ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học ( "ngôn ngữ nghệ thuật"). Sự thật là các nhà văn, ở nước nào cũng vậy, có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng ngôn ngữ văn hóa dân tộc. Nhưng ngôn ngữ văn hóa không chỉ được dùng trong văn học, mà còn được dùng trong khoa học, trong mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa khác (hiểu theo nghĩa rất rộng) của con người. Những lĩnh vực này ngày càng phát triển, ngày càng thêm quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Vì vậy, dùng "ngôn ngữ văn hóa" thỏa đáng hơn. Trong ngôn ngữ học các nước ngoài, cũng có người dùng "ngôn ngữ văn hóa", hoặc "ngôn ngữ văn minh", để chỉ ngôn ngữ - dùng làm công cụ văn hóa - của một dân tộc đạt đến trình độ văn minh tương đối cao); ngôn ngữ văn hóa dân tộc có hệ thống chuẩn mực (1) (Trước đây nhiều người gọi là "tiêu chuẩn". Nhưng tiêu chuẩn thường là cái "căn cứ" để đánh giá, để nhận xét ("tiêu chuẩn của chân lý"...). dùng "tiêu chuẩn" ở đây nghĩa sẽ không rõ ràng. Có người dùng "mẫu mực" như Lê Xuân Thại, Hồng Dân trong các bài trong tập này. Nhưng mẫu mực dễ hiểu lầm là "gương mẫu", "mô phạm". Chúng tôi đề nghị dùng chuẩn hay chuẩn mực, nếu không tìm được từ khác tốt hơn) của nó; chuẩn mực trong ngôn ngữ là cái được mọi người hoặc ít nhất một số người khá đông thừa nhận, số khá đông ấy không nhất thiết phải là đa số, nhưng phải gồm số lớn những người có uy tín và ảnh hưởng về mặt văn hóa, được coi là mẫu mực về mặt ngôn ngữ. Như vậy, cái chuẩn mực lá cái nếu tạm thời chưa đươạ đại đa số thừa nhận, thì phải càng ngày càng được nhiều người thừa nhận hơn, có triển vọng sẽ được mọi người hoặc đại đa số thừa nhận. Cho nên xác định chuẩn mực của ngôn ngữ , thì phải nhìn cái hướng phát triển (2) ( Phụ âm đầu P - (trong Pin, Pô-pơ-lin, a-pa-tít..v..v..) là một hiện tượng mới trong tiếng Việt hiện đại. Nhìn cái hướng phát triển thì phải thừa nhận nó là chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa hiện đại, mặc dầu hiện nay có thể số đông trong nhân dân ta, nhất là ở nông thôn và trong lớp người già, không phát âm P ma chỉ phát âm b ("a-ba-tít", "bô-bơ-lin"). Chuẩn mực có thể chỉ phương tiện ngôn ngữ (âm, từ..), mà cũng có thể chỉ quy tắc. Nghĩa là chúng ta nói có, những âm, những từ chuẩn mực, cũng như nói có những phát âm, cách dùng từ chuẩn mực. Như vậy, chuẩn mực xác định cách phát âm, cách dùng từ, cách kết hợp từ, đặt câu; có chuẩn mực ngữ âm, chuẩn mực từ vựng, chuẩn mực ngữ pháp, chuẩn mực tu từ. Chuẩn mực là căn cứ của cái đúng. Nó bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định của ngôn ngữ văn hóa.

    Ngôn ngữ văn hóa định hình và phát triển do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền văn hóa dân tộc, và do hoạt động ngôn ngữ có ý thức của con người. Ngôn ngữ văn hóa biểu hiện sự tự giác của con người trong việc sử dụng ngôn ngữ, ý thức trau dồi lời ăn tiếng nói, hướng tới cái mà con người cho là hay, đẹp, trong sáng trong ngôn ngữ, ý thức nắm ngôn từ và can thiệp vào sự phát triển của nó. Khái niệm sự trong sáng gắn liền với khái niệm ngôn ngữ văn hóa. Nói sự trong sáng của tiếng Việt, tức là nói sự trong sáng của tiếng Việt văn hóa. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt gắn liền với sự xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hóa, và là một mặt - quan trọng, chủ yếu - của việc xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hóa. Có xác định những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa thì mới có cơ sở không những để phân rõ đúng và sai, mà còn để phân rõ trong sáng và không trong sáng trong tiếng Việt. Và ngược lại, muốn xác định tốt những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa thì phải chú ý đầy đủ yêu cầu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm sao cho những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa không những bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định, mà còn bảo đám tính trong sáng của nó.
    Như vậy, chuẩn mực là khái niệm tring tâm trong vấn dề giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ.
    Chuẩn mực ngôn ngữ là mộ khái niệm phức tạp, đầy mâu thuẩn. Sực xác định cad tồn tại của chuẩn mực phụ thuộc không những vào yếu tố "bên trong" ngôn ngữ, đăck điểm kết caasi, truyền thống lịch sử, quy luật phát triển nội bộ của mỗi ngôn ngữ, mà còn phụ thuộc khá nhiều vào những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ; vào đặc điểm phát triển của xã hội, điều kiện tồn tại của mỗi ngôn ngữ văn hóa, thành phần của những người nắm ngôn ngữ văn hóa..v...v những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sựa đánh gá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ. Cần nghiên cứu chuẩn mực của ngôn ngữ một cách toàn điện. Nhưng đến nay, trong lí luận ngôn ngữ học, vấn đề này chưa được nghiên cứu mấy.

    Chuẩn mực là cái gì ít nhiều có tính chất bắt buộc. Yêu cầu đối với mọi người sử dụng ngôn ngữ văn hóa là phải theo các chuẩn mực, không được vô cớ đi chệch. Nhưng "mức độ bắt buộc và phạm vi tác động của các chuẩn mực"(1) ( Tiếng nga không gõ được) không như nhau. Có những chuẩn mực xác định những đặc trưng cơ bản của một ngôn ngữ, những chuẩn mực này vững chắc nhất, lâu bền nhất, được mọi người thừa nhận, phạm vi tác động rất rộng, mức độ bắt buộc rất cao: có thể gọi đó là những chuẩn mực đặc trưng của ngôn ngữ. Bên cạnh, hay nói đúng hơn là trên cơ sở những chuẩn mực đặc trưng, có những chuẩn mực xác định những đặc đểm của bản thân ngôn ngữ văn hóa, xác định cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ văn hóa. Có thể gọi đó là những chuẩn mực văn hóa. Chuẩn mực văn hóa được những người hoạt động văn hóa , và trước tiên là các nhà văn hóa lớn, xây dựng một cách có ý thức. Nói, viết tiếng Việt mà sai chệch những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt thì lời nói câu văn không phải Việt - Nam nữa. Còn nếu sai chệch những chuẩn mực văn hóa, thì lới nói câu văn dù có vẻ rất Việt -nam, vẫn bị đánh giá là "không tốt", "không văn hóa". Quan niệm như vậy thì biết nói và biết nói "tốt: là hau việc khác nhau. Ai cũng học để biết nói, một cách tự nhiên, từ ngày còn ở trong nôi, nhưng muốn biết nói "tốt", biết sử dụng ngôn ngữ văn hóa, thì phải khó khăn hơn, phải qua học tập, thường bắt đầu là ở nhà trường, phải có công phu trau dồi lời nói, phải nắm được các chuẩn mực của ngôn ngữ văn hóa, có ý thức tự giác trong việc vận dụng các chuẩn mực. Trong hệ thống chuẩn mực, như ở trên đã nói, chuẩn mực đặc trưng là cơ sở, sai lệch chuẩn mực đặc trưng thì chuẩn mực văn hóa cũng mất chỗ dựa. Lời nói câu văn mà đã không Việt - nam thì đâu có cơ sở để thành lời nói câu văn "tốt'. Cho nên điều quan trọng trước tiên là phải tôn trọng các chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Đó là yêu cầu sơ đẳng. Rải rác trong một số sách nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của một số học giả người nước ngoài, có thể nhặt những câu thí dụ ngô nghê, không Việt-nam, đại loại như:
    - Chúng ta đi xem lễ. Họ họ đều vui, ta ta cũng thích.
    - Công việc đó tôi đã đã nói rồi. (1) ( L.C. Thompson (L.C . Tomxơn): A. vietnamese Grammar. (ngữ pháp tiếng Việt), Xitơn, 1965, tr. 151-152).
    Người nước ngoài khó nắm được sâu sắc, toàn diện những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Một sai lầm dễ mắc là dựa theo một kiểu tạo từ, kết hợp từ hoặc đặt câu nào đó của tiếng Việt, rồi suy rộng ra một cách máy móc: dựa thoe những kiểu "người người đều vui", "ai ai cũng thích", "tôi thường thường đi chợ", mà tưởng rằng có thể nói "họ họ đều vui", "ta ta cũng thích", "tôi đã đã nói rồi". Nhưng dù sao, sai lầm này ở người nước ngoài cũng không đáng chê trách lắm. Đáng chê trách hơn là người Việt-Nam chúng ta lại đi viết những câu văn không được Việt - nam kia! Thí dụ:
    _ Đang lúc ấy, phóng ngựa đến, tên quản lý Phi lip... (sách)
    - Đây là Hoàng, em ruột của Toàn, người mà đã biết... (sách).
    _ Nguyên nhân chính đưa đến thắng lợi là được sự soi sáng bởi nghị quyết của Trung Ương. (Báo).

    Thật ra, đã là người Việt -Nam, nói tiếng Việt hàng ngày từ nhỏ, thì ai mà không nắm được những chuẩn mực đặc trưng của Tiếng Việt? Khó mà nghe có những lời nói "không Việt - Nam" ở miệng những người dân Việt -Nam bình thường. Những câu không Việt - nam thường chỉ gặp dưới ngòi bút của một số người có văn hóa, ít nhiều có làm quen với một ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Việt văn hóa là tiếng Việt đã được nâng cao: nói nâng cao nghĩa là dựa trên những đặc trưng cơ bản của tiếng Việt, giữ gìn phát huy những cái tốt vốn có, khắc phục những cái không tốt. Nhưng có khi chúng ta hiểu sự nâng cao thành một sự "gia công" giả tạo, thậm chí đôi khi, ít hay nhiều, có ý thức hay vô ý thức, chúng ta dựa vào những chuẩn mực của một ngôn ngữ văn hóa nước ngoài nào đó mà chúng ta quen thuộc, thoát li những chuẩn mực đặc trưng riêng của Tiếng Việt (nếu có thể nói như vậy). Ngôn ngữ văn hóa mà không dựa vững chắc trên cơ sở ngôn ngữ thường ngày của nhân dân thì có nguy cơ thành giả tạo và què quặt, có thể đầy rẫy những từ ngữ và lối nói không tự nhiên, "bác học", khó hiểu. Một ngôn ngữ văn hóa như vật thật ra chỉ là công cụ văn hóa trong tay một nhóm trí thức thượng lưu; đối với quầng chúng lao động bình thường, nó khó hiểu, khó nắm, khó sử dụng. Là công cụ văn hóa, nhưng nó lại làm cho văn hóa trở thành "xa lạ" với người dân bình thường. Thời phong kiến, ở nước ta, giai cấp thống trị không dùng tiếng Việt, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân, mà dùng tiếng Hán làm công cụ văn hóa, độc quyền trong tay chúng, trong suốt hàng bao thế kỉ. Thảng, hoặc có dùng đến tiếng Việt, thì đó lại là một thứ tiếng Việt lai Hán. Để xướng danh những người thi đỗ, đáng lẽ nói rất đơn giản: Đỗ đầu cử nhân là Đào Vân Hạc, hai mươi ba tuổi, quê làng Đào-nguyên, tỉnh Sơn-tây", thì ngày xưa người ta nói:
    Cử nhân đệ nhất danh Đào Vân Hạc! Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn-tây tỉnh, Đào-nguyên xá! (1) (Ngô Tất Tố: Lều Chõng, Hà Nội, 1961, tr.262).
    Muốn cho quần chúng nhân dân làm chủ văn hóa, nhanh chóng nâng cao trình độ văn hóa của mình, thì không những phải dùng ngôn ngữ dân tộc làm công cụ văn hóa, mà còn phải dân chủ hóa ngôn ngữ văn hóa, làm cho nó gần ngôn ngữ thường ngày của nhân dân. Vì vậy, yêu cầu chống "bệnh dùng chữ" - như Hồ Chủ tịch thường nhắc _ , "Dân tộc hóa lời nói và câu văn" (2) (Trường Chinh, bài đã dẫn. tăng cường công tác báo chí....tr.52), "giữ gìn bản sắc tinh hoa, phong cách của tiếng ta"(3) (Phạm Văn Đồng, bài đã dẫn, tr.10), là xuất phát từ lòng yêu dân tộc, yêu nhân dân, yêu tiếng mẹ đẻ, và từ yêu cầu của cách mạng tư tưởng và văn hóa ở nước ta hiện nay. Chúng ta quan niệm một tiếng Việt rất "Việt - nam", dễ nghe, dễ hiểu đối với người dân Việt -nam bình thường và dễ làm rung động trái tim của họ. Cho nên vấn đề nghiên cứu, nắm vững, tôn trọng, giữ gìn, phát huy những đặc trưng của tiếng Việt là vấn đề phải được đề ra hàng đầu.
    Nhưng mặt khác, một ngôn ngữ văn hóa, dầu gần ngôn ngữ thường ngày bao nhiêu, cũng vấn khác ngôn ngữ thường ngày: nó là ngôn ngữ đã được nâng cao, nghĩa là đã khắc phục những cái gì có tính chất thuần túy địa phương và những cái gì có tính chất ngẫu nhiên, nhất thời, tùy tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày. Trong ngôn ngữ thường ngày, có người nói:
    _ Bên cạnh anh ta là một đống hái và liềm để rất vô tổ chức.
    _ Giờ có nhiều anh em thợ đi học..., họ học giờ nhanh lắm (1). (Nhặt trên sách báo).
    Những cách nói như vậy tuy cũng Việt -nam đất, nhưng không hoàn toàn hợp với chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa hiện đại (2) (Trong phong cách văn học (nghệ thuật) cho phép dùng những câu như vậy, nhưng chỉ trong lời của nhân vật, và một cách cũng rất hạn chế). Trong tiếng Việt văn hóa hiện đại, cách nói thông thường là:
    _ Bên cạnh anh ta là mộ đống hái và liền để rất lộn xộn.
    _ Bây giờ có nhiều anh em thợ đi học...
    Chúng ta quan niệm một tiếng Việt trong sáng phải là một tiếng Việt không những rất "Việt-nam", mà còn rất "văn hóa". Nói, viết một cách giả tạo là không tốt; nhưng nói, viết một cách dễ dãi, tùy tiện cũng là không nên. Cần giản dị, tự nhiên, nhưng tự nhiên không phải có nghĩa là tự nhiên chủ nghĩa. Trong nhiều cách nói, hằng ngày nghe trong quần chúng, chúng ta phải biết chọn những cách nói tốt nhất, giản dị, rõ ràng, trong sáng, đẹp, và đôi khi còn phải biết trau dồi chút ít cho nó tốt hơn nữa, có như vậy mới nâng cao được ngôn ngữ của chúng ta. nếu chỉ toàn "nói sao viết vậy" thì chưa hẳn đã tốt. Cần tôn trọng những chuẩn mực đặc trưng, nhưng trên cơ sở đó, lại cần xây dựng những chuẩn mực văn hóa.
    Mặt khác, ngay khi sử dụng ngôn ngữ thường ngày, cũng nên chú ý tránh tùy tiện, cẩu thả. Tuy rằng giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ văn hóa bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định. Cái tùy tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày có thể ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn hóa. Cho nên cũng cần trau dồi cả ngôn ngữ thường ngày, nâng nó lên gần ngôn ngữ văn hóa.
    Chuẩn mực là cái gì có tính chất bắt buộc, thì đồng thời cũng có tính chất ổn định. Đã là chuẩn mực, thì tức là được nhiều người - nếu không phải là mọi người - thừa nhận, trong một thời gian không phải ngắn. Ngôn ngữ được nâng lên thành ngôn ngữ văn hóa, alfm công cụ giao tiếp giữa toàn dân tộc qua các địa phương và các thế hệ, thì càng đòi hỏi chuẩn mực phải có tính ổn định cao. Nhưng mặt khác, ngôn ngữ văn hóa cũng lại phát triển không ngừng, do yêu cầu phát triển của xã hội và tư duy; sự đánh giá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ cũng thường có thay đổi, nhất là trong những thời kì xã hội có biến đổi lớn. Do đó, tính ổn định của chuẩn mực cũng chỉ là tương đối. "Trong lịch sử ngôn ngữ văn học [ngôn ngữ văn hóa] nói chung có hai xu thế phát triển mâu thuẫn với nhau: 1) Chiều hướng muốn giữ và củng cố những chuẩn mực đang tác động, và 2) chiều hướng sửa đổi những chuẩn mực đã hình thành (1) (Tiếng nga gõ không được). Chuẩn mực là cái quen dùng (2) (Những cái "quen dùng" không nhất thiết là chuẩn mực. Có cái "quen dùng" mà vẫn bị đánh giá là "sai". Trong ngôn ngữ có cái sai của số đông.), mà thói quen thì không dễ gì vứt bỏ. Ngôn ngữ dựa vào thói quen của hàng vạn, hàng triệu người. Trong lĩnh vực ngôn ngữ, tinh bảo thủ là phổ biến, không ít người trong các lĩnh vực khác thì mạnh bạo đổi mới, nhưng trong lĩnh vực này thì lại nệ cũ, thích cổ. Chuẩn mực khi đã hoàn thành thì thường có sức sống mạnh mẽ, mà nó càng sống lâu bao nhiêu thì sức sống dai của nó càng tăng thêm bấy nhiêu, nó càng bám rễ sâu vào thói quen của các lớp người, các thế hệ. Những chuẩn mực đặc trưng vì thế là những chuẩn mực rất vững chắc. Nhưng chuẩn mực mới lại có sức mạnh của cuộc sống. Chuẩn mực mới hình thành, suy đến cùng là do đòi hỏi của cuộc sống phát triển không ngừng, và ở đây cũng vậy, cuối cùng cuộc sống thắng, cái cũ bị đẩy lùi, cái mới phong phú hơn được củng cố, nhưng nhiều khi phải trải qua một thời gian đấu tranh giằng co, trong thời gian ấy cũ, mới cùng tồn tại, và sự đánh giá của xã hội không nhất trí. Cái cũ ở đây thường không rút lui một cách đơn giản: nó thường cố bám lấy trận địa của nó, chỉ nhường từng miếng đất một, cố thủ trên những miếng đất cuối cùng, và cũng có những miếng đất trên đó mới và cũ giằng co kéo dài,."chưa ai thắng ai": như vậy cái cũ là chuẩn mực trong một số trường hợp, cái mới là chuẩn mực trong một số trường hợp khác, và có những trường hợp cũ và mới đều là chuẩn mực. Mề đay, thông ngôn trước đây là những từ thông dụng, và đã có lúc chúng ta có nói đến những "mề đay cứu quốc"(1) ( Như trong nghị quyết của Hội nghị cách mạng Bắc-kì, ngày 20-4-1945 về "Tiến tới tổng khởi nghĩa". Xem Chặt xiềng. Hà Nội, 1960, tr.36.). Ngày nay, huân chương, phiên dịch được dùng phổ biến; nhưng riêng khi nói về địch, ngụy thì mề đay, thông ngôn cũng vẫn còn được dùng. trước kia lính là từ thông dụng, nhưng từ khi có thêm bộ đội, thì có sự phân biệt: bộ đội của ta, lính của địch, ngụy. Tuy vậy, trong những trường hợp nào đó, lính lại vẫn có thể được dùng để chỉ cả bộ đội của ta nữa, như khi nói "đời người lính", "lính cụ Hồ" (có thể nói "bộ đội cụ Hồ"). Ngày xưa, để tỏ lòng tôn kính, chúng ta nói Nguyễn tiên sinh, Trần tướng công; sau Cách mạng tháng Tám, một dạo chúng ta còn nói Huỳnh bộ trưởng, Võ đại tướng. Ngày nay mà nói như vậy rõ ràng là cổ, kiểu cách. Nhưng trừ một trường hợp: chúng ta có thể nói Chủ tích Hồ Chí Minh, mà cũng có thể nói Hồ Chủ tịch, nhưng thường nói Hồ Chủ tịch hơn, cách nói này đối với chúng ta đã quen quá rồi, nó vừa tỏ dược lòng kính yêu của chúng ta đối với lãnh tụ dân tộc, vừa có vẻ tự nhiên và gần gũi; và vì vậy cách nói Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành màu sắc trang trọng đặc biệt.
    Trong đấu tranh giằng co giữa cái cũ và cái mới, cũng có khi cái cũ rút lui, nhưng chờ có dịp lại xuất hiện: phu nhân, ái nữ là những từ đã cũ lắm, chúng ta hầu như đã quên đi, nhưng một lúc nào đó, do đòi hỏi của "phép lịch sự" ngoại giao, những từ mà ít ai còn ưa ấy bỗng dưng được nhắc đến.
    Trong ngôn ngữ, cái mới cũng thường không hình thành một cách đơn giản. Không phải tất cả những cái gọi là "mới" đều có sức sống, có những cái sinh ra chỉ để mà chết yểu. Chủ nghĩa tu chính, hỏa tiễn, thủy quân lục chiến, phụ nữ ba đảm nhiệm chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, để rồi nhường chỗ cho chủ nghĩa xét lại, tên lửa, lính thủy đánh bộ, phụ nữ ba đảm đang. có khi trong cùng một trường hợp mà có nhiều cái mới được tạo ra, cùng tồn tại một thời gian, cho đến lúc nào xã hội có sự đánh giá, lựa chọn. Nhà giữ trẻ, nhà gởi trẻ, nhà trẻ hay nhóm giữ trẻ, nhóm trẻ, đó là những tên gọi khác nhau hiện nay để chỉ cùng một tổ chức mới ở xã hội

    (Hết gói 2)
     
  5. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

  6. Rafa

    Rafa SV

    Sao anh @tducchau lại đăng từng gói thành một chủ đề? Một dự án chỉ đăng một chủ đề thôi.{:headbang:}
     
    tducchau thích bài này.
  7. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    {:headbang:}{:headbang:}

    Thành thực xin lỗi! Sự cố kỹ thuật Phà ui...
    Có revert được không vậy! Nếu được thì gúp giùm...
    Không dám xóa sợ dính chùm nữa... :(!
    {:headbang:}{:headbang:}
     
  8. 4DHN

    4DHN --------- Thành viên BQT

    Merge các topic lại là xong thôi. Không xóa cũng được. :D
     
    tducchau thích bài này.
  9. vqsvietnam

    vqsvietnam Leader 1000QSV1TVB Thành viên BQT

    Em thấy mới có cuốn này tập 1 hả anh @tducchau?
     
    tducchau thích bài này.
  10. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Không hẳn vậy Nàng!

    Nghiên cứu ngôn ngữ học gồm những bài nghiên cứu về những vấn đề ngôn ngữ của ta, chủ yếu là về tiếng Việt. Những bài này sẽ in thành nhiều tập. Tập 1 gồm những bài nghiên cứu về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một vấn đề có tầm quan trọng lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ của ta hiện nay... Do Tổ Ngôn ngữ học của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện.

    Ở phần nầy, mình chỉ muốn làm rõ hơn về vấn đề 'Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt' là một vấn đề có tầm quan trọng lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ của ta trong cộng đồng và nhứt là trên TVE-4U, nên chỉ chọn 'mần' phần đó thôi!

    Thân mến! _ (tdc).
     
    vqsvietnam and teacher.anh like this.

Chia sẻ trang này