0061.0011

Thảo luận trong '1000 quyển sách Việt một thời vang bóng' bắt đầu bởi purewater110, 22/1/16.

  1. purewater110

    purewater110 Lớp 3

    0061.0011
    PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Vua dụ : “Trịnh Đường trước đây có lỗi, đã được gạt bỏ vết xấu mà lại dùng. Gần đây, vì có nhiều việc, đã được cất nhắc vượt bậc, ủy cho chức Tuần phủ. Khi đi nhậm chức, ta đã khuyên bảo tận mặt và hậu cấp cho bạc lạng làm tiền dưỡng liêm((1) Nuôi lòng thanh liêm.1). Đáng lẽ phải gắng sức để báo ơn mới phải, thế mà khi đến tỉnh, không tỏ được một sở trường gì, để Hà Tiên thất thủ, tội đã khó tha thứ, lại còn dám nhân lúc ấy, lấy cắp tiền công đến 1000 quan, vội bỏ thành trì đất đai mà chạy. Bản tâm của y chính là nhằm lợi dụng lúc có giặc cướp để làm việc gian tham đó, thực đáng ghét ! Nay lập tức cách chức, cho xích lại, giao viên tiếp biện là Trần Chấn xét rõ, tâu lên. Còn Đặng Văn Nguyên thì phải tiệt lưu để chờ đối chất”.


    Rồi liền hạ lệnh giải Đường về Kinh, lấy các chứng cớ, giao cho bộ Hình nghiêm xét. Vừa lúc đó thì tờ sớ nhận tội của Đường cũng đến, nói : “Khi tỉnh lỵ thất thủ, mang số tiền ấy đi theo thuyền, tiêu hết hơn 400 quan, còn bao nhiêu, biền binh vứt xuống sông cả. Tập tấu trước nói giặc lấy đi mất, là nói sai sót, xin cam chịu tội”.


    Vua bảo bộ Hình rằng : “Tên Đường xâm lạm tiền công, lại bức bách biền binh khai man là vứt xuống sông. Đã bị người tham hặc, còn dám vin cớ đó mà cãi, sao nó gian dối đến thế !”.


    Khi thành án, Đường bị xử tội thắt cổ ngay. Sau đó Đặng Văn Nguyên, tuân theo tờ chỉ trước, cũng bị giải về Kinh, giao bộ Hình nghiêm xét, rồi xử vào tội trảm giam hậu.


    Thự Tuần phủ An Giang là Lê Đại Cương mật tâu về mọi sự nghi trù tính làm việc biên phòng, xin đóng đại doanh ở nhà Nhu viễn Nam Vang rồi liệu lấy quan quân đóng giữ, để làm cái chước thiện hậu. Lại nữa, con đường bộ từ Quang Hóa trở lên giáp sông lớn, phần nhiều là đất bỏ hoang, có thể trồng cấy được, nên để cho những dân Chàm (dòng giống Chiêm Thành) xiêu giạt ở vùng Ân Khu, Tham Bộ được lưu lại tại đó mà cày cấy.


    Vua dụ rằng : “Việc đặt đồn đóng giữ đã có sớ tâu và đã chuẩn y rồi. Mọi việc thiện hậu cứ chiếu theo đó mà làm. Duy miền thượng du Quang Hóa mới trải qua một cuộc rối ren, nhân dân tan tác, ăn ở chưa được yên, nay chính là lúc cần phải sửa sang chỉnh đốn lại. Hơn nữa, nếu đất đã là chỗ trồng cấy được, lại nhiều nơi bỏ hoang mà dân Chàm xiêu giạt, không nơi nương tựa, thì việc thu xếp cho dân có chỗ ở và đặt ra thể lệ điền sản, cũng là việc cần làm trước của chính sự vương giả. Vậy cho phép ngươi cùng với Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng và Trương Phước Đĩnh lập tức xét xem vùng ấy, phàm chỗ đất bỏ hoang nào có thể cày trồng và ở được, thì cho người Chàm đến lưu trú, để đất không có chỗ bỏ sót nguồn lợi, dân có nghề nghiệp thường làm ăn. Rồi thì xét những chỗ đất đã có dân ở, tùy theo số người, số ruộng nhiều ít, liệu chia ra làm huyện, tổng, ấp, làng, có giới hạn nhất định, đặt người làm đầu mục, để họ cai quản lẫn nhau. Rồi đem việc chia giới hạn và đặt đầu mục thế nào, làm tập tấu dâng lên. Chờ 3 năm sau, quan chức địa phương xét định thuế khóa tâu lên, để bắt đầu đánh thuế. Đó cũng là một kế trọng yếu trong việc kinh lý biên cương, các ngươi nên xét kỹ mà làm. Thảng hoặc có ý kiến gì khác có thể đi đến chỗ mười phần thỏa đáng, tốt đẹp hơn, thì cũng cho phép cứ thực trình bày, chờ Chỉ tuân hành”.


    Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh ở Nghệ An tâu nói : “Các viên thổ Tri huyện và Huyện thừa ở các huyện Xa Hổ, Sầm Tộ thuộc phủ Trấn Biên, thám báo có giặc Nam Chưởng độ hơn 1 vạn, đến ở đồn châu Ninh Biên thuộc Hưng Hóa, cướp bóc quấy nhiễu dân Man và phao ngôn rằng sắp sửa đến các phủ Trấn Biên và Trấn Man. Vả lại Nam Chưởng là một thuộc quốc phải triều cống nước ta, nay hùa đảng với Xiêm làm bậy, quấy nhiễu dân biên giới. Đáng lý ra cũng sẽ đánh dẹp, không trì hoãn được. Duy phủ Trấn Biên ở một nơi chân trời hẻo lánh, cách tỉnh thành hơn 20 ngày đường, núi khe rất hiểm trở. Hỏi các văn võ của tỉnh, không ai am tường tất cả. Nay số lính hiện ở tỉnh có ít. Nếu chỉ phái độ 200, 300 người đi phòng giữ, thì không những khó giữ trọn vẹn muôn phần, mà nghìn dặm tải lương, không khỏi khó khăn chật vật. Bọn thần đã hạ trát sức cho thổ ty các phủ huyện sở tại tập hợp lấy nhiều thổ dõng để giữ đất đai bờ cõi : nếu quân giặc quả đến thật thì hiệp sức lại, đánh giết, đừng để chúng xâm phạm bờ cõi gây sự. Và đã tư báo cho tỉnh Thanh Hoa biết”.


    Vua phê : “Phải, nói rất phải”. Lại dụ rằng : “Nam Chưởng là đất nhỏ mọn, quân lính không mấy, làm gì có đến hàng vạn, hàng nghìn ? Chẳng qua chúng mượn tiếng giặc Xiêm, phô trương thanh thế hão, để dọa nạt dân ngoài biên. Đó cũng là thói quen của người Man, Lạo đấy thôi. Nay những toán lớn quân giặc ở ngoài biên, nơi nào cũng bị quan quân đánh lui, chúng đương ôm đầu, trốn lủi như chuột chưa xong, lũ tiểu yêu ấy làm được trò gì ! Phải truyền sức ngay cái ý ấy cho khắp các thổ ty, thổ mục để chúng yên tâm hết sức chống đánh. Không nên phái nhiều biền binh đi xa xôi cho phải lặn lộn vất vả”.


    Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng cũng tâu nói : “Huyện Trình Cố thuộc phủ Trấn Man có báo rằng giặc Nam Chưởng lại sai người từ Ninh Biên tới ép phải phục tòng chúng, nếu không, chúng sẽ quây bắt hết dân. Thần đã sức vát nhiều lính thổ dõng giữ địa giới. Vả lại, trong khi thổ phỉ nam, bắc chưa yên hết, nên dự phòng trước để khỏi lo vội vàng không kịp. Nay xin phát của kho ra chế các trường thương, áo chiến, nón trận, mỗi thứ 200 chiếc, gặp khi cần kíp, lập tức điều động các hương dõng thuộc hạt hiệp cùng lính thổ hai phủ Thiệu Hóa, Thọ Xuân, mang đi, quây bắt giặc.


    Vua phê : “Bất tất cuống quít, chỉ nên trấn tĩnh để yên lòng mọi người. Ta đoán Nam Chưởng tất không làm gì được ; nếu chúng dám gây sự, thì chỉ là tìm lấy cái chết thôi !”.


    Lại dụ sai sức khắp thổ ty, thổ mục các phủ huyện [tỉnh Thanh Hoa] đều vát thổ dõng, chiếu theo địa hạt mà tuần phòng. Nếu giặc quả đến thì hiệp sức đánh giữ và báo tỉnh để dựa làm bằng mà đối phó. Việc chế sẵn trường thương, áo chiến, chuẩn cho làm như lời xin.








    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxxii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa xuân, tháng ba. Đổi 6 châu Thất Toán, Văn Quan, An Bác thuộc Lạng Sơn và Thạch Lâm, Thượng Lang, Quảng Uyên thuộc Cao Bằng làm huyện. Đặt tri huyện và giáo chức (Thạch Lâm thuộc phủ Trùng Khánh kiêm lý thì đặt giáo thụ, còn 5 huyện thì đặt huấn đạo). Sai đình thần lựa chọn quan Kinh sung bổ. Khi sớ tâu lên, có thư lại được nghị bổ huấn đạo.


    Vua cho rằng thư lại không xuất thân từ khoa mục, không cho. Còn về những người được chọn bổ khác thì sắc nói : Phàm ai thự hàm((1) Thự hàm : được bổ tạm, nhưng còn phải qua thời kỳ thí sai, nếu làm được, mới cho thực thụ.1) phải sau 3 năm mới được thực thụ, ai đã thực thụ rồi, phải đủ 3 năm mới được thăng hay đổi. Làm thế để tư cách được rõ ràng.


    Lính các cơ Định Tường, Định Thắng (nguyên là lính đồn điền dồn lại) bỏ trốn hầu hết. Vua sai quan tỉnh cứ số hiện còn lại, đồn làm 2 đội, cho theo tỉnh sai phái. Những kẻ trốn về, cho ghi vào sổ làng để chia thuế khóa.


    Cho viên bị cách là Hoàng Tế Mỹ được khai phục làm ngạch ngoại Tư vụ ở Nội vụ phủ.


    Trước kia, Mỹ làm Bố chính Hải Dương, có lỗi, bị cách chức, được theo Bộ, gắng sức làm việc chuộc tội : đến bấy giờ lại được dùng.


    Sai tỉnh Quảng Bình chế 500, 600 ống phun lửa trữ vào kho.


    Hộ lý Tuần phủ Định Tường là Ngô Bá Tuấn có tội, bị miễn chức.


    Tuấn làm quan có nhiều vết xấu. án sát Nguyễn Công Tú vạch ra các tội : tha phạm nhân, tự tiện giết người, tra tấn riêng, cưỡng ép hòa giải, giấu giếm kẻ theo giặc và hút thuốc phiện, làm thành tập mật tâu lên để tham hặc.


    Vua dụ Nội các : “Ngô Bá Tuấn, trước đây, đã không hay liều chết chống giữ để thành bị hãm, đã chẳng để đâu hết tội. Khi thu phục tỉnh thành, chẳng qua nhân người khác mà làm nên việc, ưa may mà nhận lấy công, được cất nhắc rất chóng. Sau đó, lại mắc tội mạo công nhận thưởng, đã bị đình thần nghị tội : phạt trượng và tội đồ. Vì nghĩ đương khi làm việc, còn thiếu người để dùng, nên chưa kịp xuống Chỉ phân xử, còn rộng cho lưu dùng, mong biết sửa đổi về sau.


    “Không ngờ lượng nhỏ đễ dầy, tự tiện tác uy tác Phước. Nay bị người ta tham hặc, thì ra mọi việc đều là tự ý làm càn, u mê không sợ pháp luật. Vậy lập tức cách chức, bắt xích lại, giao cho Bố chính Vĩnh Long là Đoàn Kiêm Quang thân hành tra hỏi, nghiêm xét làm sớ tâu lên”. Khi án xong, Tuấn bị khép vào tội trảm giam hậu.


    Vua ngự ở điện Vũ Hiển, vời Phan Thanh Giản ở bộ Hình đến, bảo rằng : “Ta xem cái án tỉnh Vĩnh Long xét xử việc quan phạm tội là Ngô Bá Tuấn, có tên ngụy Điển sự là Nguyễn Văn Chấn : Khi Lê Phước Bảo bị bắt, ai cũng thương xót, mà tên này lại bảo : “Tuy bắt được Lê Phước Bảo, việc cũng chưa xong”. Nó nói thế là ý thế nào ?”.


    Giản thưa : “ý nó nói phải bắt cả Lê Đại Cương nữa mới xong việc”.


    Vua nói : “Lòng người khác xưa đến như thế ư ! Vả lại, dân Gia Định vốn có tiếng là dân trung nghĩa. Ngươi sinh trưởng ở đất ấy, há lại không rõ : Trước kia Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, đóng quân ở Bình Thuận, cầm cự với Tây Sơn. ở lại giữ thành Gia Định chỉ có Hiếu khang hoàng hậu, Cao hoàng hậu, Hoàng thái hậu và mấy anh em ta thôi. Ngày đó, đánh nhau thua luôn, mọi người đều ngay ngáy lo sợ. Hơn nữa, hàng tướng Tây Sơn lưu lại ở đó khá nhiều. Trong lúc lòng người hoang mang như vậy, tưởng tất đến dao động, xiết đổ cả ! Vậy mà binh lương có thiếu thốn vẫn nhất nhất lấy được ở dân, thậm chí có khi thu thuế, lấy tiền và gạo trước đến hai ba năm trở đi, và lấy lính, lấy đến cả hạng học trò. Tuy thuế má, binh, dịch nặng nề như vậy mà dân vẫn một lòng hướng về việc nghĩa, ai cũng không chút kêu ca. Lòng trung nghĩa sao mà đến thế !


    “Nay thiên hạ đương lúc thái bình, kho tàng đầy ắp, binh giáp tinh nhuệ, tuy có việc giặc Khôi khởi biến, nhưng, với sức triều đình, tiễu trừ có khó gì. Vậy sao kẻ kia an tâm với việc bội nghịch mà thốt ra lời cuồng bạo càn rỡ như vậy ?


    “Ta thường bảo : Bắc Kỳ, phong tục kiêu ngạo, nên nhân dân thích nổi loạn. Không ngờ nơi dựng nghiệp vua, nay cũng có cái thói kiêu ngạo ấy, thì so với Bắc Kỳ, có hơn được một nấc không ? Đêm khuya nghĩ đến việc này, ta bất giác bàng hoàng, ngủ không yên giấc”.


    Thăng án sát Định Tường là Nguyễn Công Tú lên thự Bố chính ; Tri phủ Tân Thành là Trương Phước Cương lên Viên ngoại lang bộ Hình, thự án sát Định Tường. Cả hai cùng hộ lý dân quan phòng của Tuần phủ.


    Thăng Giám sát Ngự sử đạo Kinh Kỳ là Lê Văn Luyện lên thự Đại lý tự thiếu khanh, sau đó lại cho làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, theo làm việc với bộ Lại.


    Sai Nguyễn Văn Xướng, thự Phó vệ úy vệ Giám thành mang biền binh thuộc hạ đi đo đạc hình thế núi sông các hạt từ Phú Yên trở về phía nam, vẽ thành bản đồ dâng lên. Sau đó cho rằng địa hạt An – Hà có liên quan đến việc biên phòng, nếu đợi lần lượt mới làm đến thì thế tất phải chậm, nên lại sai Xướng đi ngay đến thành Nam Vang, phàm các miền ở Chân Lạp tiếp giáp với địa giới nước Xiêm và các đường xung yếu thông được sang nước Xiêm, đều phải đi khắp mà ngắm đo, vẽ thành bản đồ có biên chú minh bạch, đệ trình vua xem trước. Rồi lại đến Hà Tiên, xét những đường bộ có thể thông sang Xiêm, như ở các phủ Khai Biên, Quảng Biên và các hình thế chỗ hiểm trở, chỗ bằng phẳng, ở các cửa biển nhất nhất đều miêu


    tả vẽ ra. Khi bản đồ dâng lên, thưởng cho Xướng 10 lạng bạc và biền binh 1 tháng tiền lương.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Các đảo thuộc hải phận các địa phương, có nhiều nhân dân ở. Trước giờ Nhà nước chưa cấp phát cho thuyền và khí giới. Một khi có giặc biển nhân sơ hở, đến cướp bóc, thì họ không có gì để đề phòng, đánh đuổi. Nay phải truyền dụ cho tổng đốc, tuần phủ, bố chính và án sát các tỉnh ven biển, xét xem những hòn đảo nào có dân ở thuộc về hạt mình, thì sức sai sửa sang chỉnh đốn những thuyền đánh cá đi thực mau lẹ, số dân nhiều thì 3 chiếc, ít thì 2 chiếc, mỗi thuyền chứa được độ trên dưới vài chục người, phí tổn bao nhiêu, Nhà nước sẽ trả. Rồi liệu cấp phát cho trường thương, súng điểu sang và thuốc đạn, khiến họ đi tuần tiễu. Nếu gặp giặc biển, thì một mặt đem nhau chống đánh, một mặt ruổi thuyền đi báo để khỏi chậm trễ lỡ việc. Nhưng đó chỉ là một cách tùy tiện tạm làm để bảo vệ dân. Còn như việc làm cho hải phận được yên lặng lâu dài, tất phải một phen xếp đặt có quy củ. Vậy chuẩn cho các viên được suy xét, tính toán kỹ, hoặc nên đặt pháo đài, phái binh đến phòng giữ, hoặc nên mộ hương dõng ở đó, để phòng vệ cho dân ; làm thế nào cho đi đến chỗ tốt đẹp thỏa đáng, thì bàn kỹ tâu lên, chờ Chỉ để thi hành.


    Hai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường tuân dụ xét hỏi về tình trạng những quan võ thuộc tỉnh, làm thành danh sách tâu lên :


    Các võ chức thuộc tỉnh Vĩnh Long ; hoặc vì gặp giặc, bị thua, hoặc vì thất thủ, bỏ trốn, sau lại lần lượt theo tỉnh sai phái. Kẻ nào có công trạng thì cách lưu, hèn kém thì cách chức, bắt về làng. Các võ chức thuộc tỉnh Định Tường : có tên đã bị giặc bắt ép đi theo, có tên lại đã nhận chức của giặc, thừa lúc sơ hở trốn thoát. Nay đều cách chức, cho theo tỉnh sai phái, để gắng sức làm việc chuộc tội.


    Đổi lại lệ thưởng về việc bắt hổ (Lệ trước, mỗi con thưởng 30 quan. Nay đổi là 15 quan và không phải nộp đuôi hổ).


    Chở những súng mã sang hạng ngắn ở Kinh đến các tỉnh từ Quảng Trị trở ra Bắc, để cấp theo voi (mỗi thớt voi, phát 2 cây súng, mỗi cây súng có 10 viên đá lửa, và 50 phát đạn thuốc). Sau đó, lại phát thêm loại súng này cho các tỉnh. (Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, mỗi tỉnh 50 cây súng ; Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, mỗi tỉnh 30 cây ; Quảng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, mỗi tỉnh 20 cây. Mỗi cây súng được 100 phát đạn thuốc).


    Dụ sai các tướng sĩ, suất đội trở lên, khi được sai phái đi bắt giặc, nếu là người thạo bắn súng, thì cho mang theo để giết giặc.


    Lê Đạo Quảng, Tuần phủ Lạng – Bình, từ tỉnh thành Cao Bằng tiến đến đồn Nhượng Bạn, hội với Tổng thống Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ bàn bạc việc quân. Cho thám thính thấy ở mặt trước : Trung Thảng, Thông Sơn phía giữa, Tháp Na phía tả và Khuy Lĩnh phía hữu, trở lên tới giáp Ngọc Mạo, quân giặc còn nương rừng, tựa hiểm, mưu ngăn trở quân ta. Họ bèn ấn định ngày chia đường cùng tiến đi tiễu : Đường giữa, Vũ Văn Từ cùng Lãnh binh Nguyễn Văn Thuận với hơn 1.800 binh dõng, một người do núi Công, một người do núi Hiên Lĩnh tiến lên Trung Thảng ; Đường tả, Phó lãnh binh Văn Hữu Xuân, với hơn 1000 binh dõng, do Gia Bằng tiến đến Tháp Na ; Đường hữu, Lê Đạo Quảng, với hơn 1000 binh dõng, do Tĩnh Oa tiến đến núi Khuy Lĩnh. Tạ Quang Cự thì ở phía sau, mang hơn 1000 binh dõng và 40 thớt voi tiến lên đóng ở Bà Đông, để tùy cơ điều khiển. Lại phái 400 binh dõng giữ đồn Gia Bằng, và 100 giữ đồn Nhượng Bạn. Sớ vào đến Kinh. Vua dụ rằng : “Gần đây, quan quân luôn luôn thắng trận, tinh thần quân sĩ hăng hái gấp bội. Cần nên nhân cái thắng thế đó, lần lượt mau chóng tiễu trừ đảng giặc, một dải thượng du, rồi tức thì ấn định ngày, hội cùng hai đạo quân Tuyên – Thái đánh thẳng vào Ngọc Mạo, Vân Trung, cốt sao một trận thành công để xứng đáng với sự đã ủy thác”.


    Bọn Quản cơ cơ Hữu chấn là Đỗ Văn Quyền, Phó quản cơ cơ Thiện võ là Đỗ Văn Nhẫn và Suất đội đội Hữu định là Hà Độ ở Hà Nội, năm ngoái được tỉnh phái đem biền binh theo nguyên Tuần phủ Lạng – Bình là Hoàng Văn Quyền đi tiễu thổ phỉ. Trận thua ở Lạng Chung, lũ Đỗ Văn Quyền đều bị hại. Đến đây, Tổng đốc Đoàn Văn Trường mới hỏi được tình trạng, tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Lũ Đỗ Văn Quyền đi tiễu lần ấy, làm hỏng việc, đáng lý không được cấp tiền tuất. Nhưng nghĩ việc điều khiển sai lầm là tội của Hoàng Văn Quyền, trách nhiệm có người chịu rồi. Còn bọn y ra trận bỏ mình, tình cũng đáng thương. Nay gia ân đều chiếu theo phẩm hàm cũ, cấp tiền tuất gấp bội”.


    Sai Hộ thành binh mã Phó sứ Trương Viết Súy đi nguồn Hữu nguyên chế xe “thủy hỏa ký tế” (cách làm : lợi dụng sức nước xô mạnh để máy xoay chuyển, không tốn công sức) và chiếu theo các bài thuốc súng mới chế theo mà luyện thuốc (bài Hồng Phương, bài Hùng Phương, bài Hộc Phương, mỗi thứ 2 vạn cân). Lại phái các viên ty thuộc các Bộ, các Viện và người ở các đội thị vệ, kim thương đến xem để suy nghiệm.


    Vua cùng bầy tôi nói đến phép chế luyện than làm thuốc súng, nhân bảo họ rằng : “Ta ở trong cung, cứ đến trước tiết Đông chí và Hạ chí, thường lấy đất và than cân nặng bằng nhau, rồi để đó để chiêm nghiệm khí hậu ; đến tiết Hạ chí thì đất nặng, than nhẹ ; mà đến tiết Đông chí thì đất nhẹ, than nặng. Vì đất thuộc khí âm, tiết Hạ chí thì nhất âm sinh, cho nên đất nặng ; than thuộc khí dương, tiết Đông chí thì nhất dương sinh, cho nên than nặng. Đó vì khí âm và khí dương, loài nào theo loài ấy. Suy lẽ đó ra, cái lý âm, dương tốt hay xấu, cái cơ quân tử, tiểu nhân thịnh hay suy, cũng có thể biết được”.


    Lại nói : “Ta thấy trong cung dùng nước phải gánh, xách rất phiền, nhân chế ra cái xe nước, từ đó đỡ được biết bao nhân lực (cách thức : đục một cái lỗ từ phía ngoài tường trong cung thông vào phía trong, hình dạng khuất khúc, trong ngoài không trông thấy nhau. Trong tường để một chiếc chậu đồng lớn. ấn định giờ lấy nước, phía ngoài tường, đẩy xe nước đến rót vào miệng lỗ cho chảy vào chậu ; trong cung, mọi người đều đến nơi đó lấy nước).


    “Trước giờ, những chỗ đông nhà ở, mùa hè rất sợ cháy. Ta đã chế cái xe chữa cháy. Nếu dùng chữa cháy thì đỡ tốn sức mà lửa nào cũng phải tắt. Rồi sau đem xe ra cho bầy tôi xem”. (Cách thức : nước chứa vào trong một cái thùng. Trong thùng làm một cái máy đẩy nước. Lại lấy da cuộn thành một cái vòi tròn mà dài. Khi chữa cháy, 4, 5 người kéo xe, một người cầm cái sào dài buộc vòi da vào đầu sào giơ lên ; 4 người theo hai bên xe vặn máy, thì nước trong thùng chạy qua vòi da tuôn lên


    như mưa).


    Sai Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Thượng thư bộ Hộ là Nguyễn Khoa Minh kiêm coi cả Tào chính.


    Cho Lê Bá Tú được khai phục, làm Hàn lâm viện Kiểm thảo và sung làm hành tẩu ở Nội các.


    Vệ binh vệ Cẩm y ở Gia Định về, đi đường qua Bình Thuận, Tuần phủ Hoàng Quốc Điều không cấp lương ăn đường. Việc đến tai vua. Vua sai truyền Chỉ sức hỏi. Quốc Điều cãi vì không có thông hành của tỉnh Gia Định cấp. Vua phạt Quốc Điều 3 tháng lương.


    Ngô Doãn Phú, thự Phó vệ úy Hữu vệ dinh Thần cơ, trước được phái đi việc quân ở Bắc Kỳ, vì đi trận, bị thương chết.


    Vua được tin, thương xót, cho thực thụ ngay, lại thưởng thêm 20 lạng bạc, phát cho gia đình.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm các đội linh tinh ở Kinh lệ thuộc các nha, nếu có thí sai suất đội đều do bộ Binh cấp bằng. Việc này được ghi làm lệ.


    án sát Nguyễn Mưu và Phó lãnh binh Nguyễn Văn ưng đạo Thái Nguyên, đánh nhau với giặc ở phố Bắc Nậm, bị thua (Bắc Nậm thuộc xã Nhạn Môn, châu Bạch Thông, giáp địa phận xã Bằng Thành, cách Vân Trung một ngày đường).


    Trước kia, bọn Mưu tiến đến Bắc Nậm, chỗ này bốn mặt đều là núi, ở giữa có một cái khe lớn ngăn cách, bèn chia quân ra đóng đồn ; Mưu đóng ở ngọn núi phía tây bắc đằng trước khe ; Ưng đóng ở ngọn núi phía đông nam đằng sau khe. Bỗng bọn giặc hơn 1000 tên từ Cổ Đạo kéo đến, đánh nhau với đạo quân của Mưu, trọn ngày chưa phân được, thua. Ngày hôm sau, giặc giả cách giữ chỗ hiểm ở mặt sau, bắn súng, rồi dồn hết quân đánh mặt trước. Từ sáng sớm đến trưa, quân ta đạn dược gần hết, viện binh thì cách trở không tiến được. Quản cơ cơ Tiền thắng là Nguyễn Văn Anh và Cai đội cơ Bắc thuận là Nguyễn Đình Cát đều chết trận. Mưu bị giặc bắt. Giặc lại bốn mặt vây đánh quân Ưng. Ưng đánh không lại, phá vòng vây chạy lối Chợ Rã về đồn Bắc Cạn, biền binh, súng lớn và khí giới phần nhiều thất lạc. Vũ Văn Sơn, Quản cơ gia hàm Phó vệ úy, ở cơ Thái Nguyên, cũng bị giặc bắt, rồi bị giặc giết.


    Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ được tin báo, lập tức phái Quản cơ cơ Tả uy là Nguyễn Hiếu, gấp đến theo Ưng để chống giữ. Rồi đem việc tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Gần đây, cứ tờ tâu báo, thì đạo binh này đi đến đâu, phu mỏ và thổ mục đều đem nhau ra đón hàng, gươm không phải dính máu, sự cơ tưởng đã thuận lợi. Nay vụt có chuyến thất bại này, tóm lại là bởi bọn họ khinh địch, vào sâu nơi trọng yếu để giặc thừa cơ. Vậy, hẵng cho cách lưu Nguyễn Văn Ưng để y cố sức làm việc chuộc tội, Nguyễn Mưu cam chịu để giặc bắt, chiếu theo cái nghĩa không chết vì việc nước thì thực khó trốn tội được. Vậy cách ngay hết chức, hàm cũ của Mưu. Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Đình Cát ra trận bỏ mình, tình thực đáng thương. Nay truy tặng : Nguyễn Văn Anh chức Phó vệ úy, hàm Tòng tam phẩm, lại thưởng 30 lạng bạc ; Nguyễn Đình Cát, chức Phó quản cơ, hàm Tòng tứ phẩm ; cả hai đều được chiếu theo hàm mới tặng mà cấp tiền tuất. Vũ Văn Sơn bị giặc giết, cũng cho cấp tiền tuất theo lệ định.


    “Nay một dải đường núi Thái Nguyên chưa được yên ổn, mà đạo quân Tuyên Quang, tính đường đã sắp tới Vân Trung, thì đảng giặc không khỏi có cái lo ở phía sau, chính là lúc nên định ngày giáp công để chóng xong việc.


    “Cho phép Nguyễn Đình Phổ khi tiếp dụ này, lập tức thân đến tỉnh thành Thái Nguyên đóng để điều khiển, chiêu tập những quân còn lại, và liệu vát 1.000 binh dõng thuộc hạt giao cho Nguyễn Văn Ưng, mang đi để cùng với đại binh Cao Bằng – Tuyên Quang hội tiễu. Lại điều lính thú ở vệ Tráng dũng Sơn Tây kíp đến quân thứ Nguyễn Văn Ưng để hiệp lại làm việc bắt giặc”.


    Cho Tư vụ Tôn Thất Lương làm Viên ngoại lang bộ Hình, thự chức án sát


    Thái Nguyên.


    Ngô Huy Tuấn, Tuần phủ Hưng Hóa, tâu nói : “Tỉnh hạt Hưng Hóa xa rộng, tiếp giáp với Ninh Bình và Tuyên Quang, còn nhiều những kẻ can phạm ẩn nấp những nơi rừng rậm, nhằm những chỗ sơ hở mà nhòm ngó. Nay ở Ninh Biên vừa có cấp báo mà số lính hiện có ở tỉnh còn ít. Vậy xin mộ dân ngoại tịch bất cứ người Nam hay người Bắc, dồn cho đủ 5 đội, đặt làm cơ thứ 2 của Hưng Hóa, để điều khiển lúc lâm sự”.


    Vua cho rằng đương lúc có việc, cần sai phái, cho phép được quyền biến


    thi hành lời đã thỉnh cầu. Lại sai Hà Nội chuyển vận đến phát cho 2.000 cân thuốc súng.


    Bọn Tướng quân, Tham tán quân thứ Gia Định tâu nói : “Quân giặc trong thành lần lượt ra hàng đã đến hơn 100 tên, người ta đều nói : những tên tướng giặc : Tả quân Nguyễn Vụ, Thủy quân Vũ Công Tước, Giám thành Nguyễn Văn Định, ngụy Lễ bộ Thái khanh Nguyễn Văn Hòa đều đã chết rồi ; ngụy điều khiển Nguyễn Văn Chắm cũng ốm sắp chết. Hiện còn ngụy Hậu quân Vũ Vĩnh Lộc xưng là ngụy tiết độ ; Lưu Tín, Đỗ Văn Dự xưng là ngụy bảo hộ, cùng đồng đảng hơn 1.800 người, bị thương, bị bệnh rất nhiều. Vả lại, thế giặc đã rất cùng quẫn.


    “Bọn thần đương khẩn đốc trù bị những đồ vật đánh thành, chờ khi binh dõng các đạo rút về đầy đủ, sẽ định ngày đánh hạ thành”.


    Vua dụ rằng : “Nay, bọn giặc còn sót lại ở Phiên An ngày càng khốn quẫn, những đầu đảng ngày một chết dần. Hiện tại lũ liều chết, không còn bao nhiêu, mà bị thương, bị ốm lại đến một nửa. Cơ hội này rất nên nắm lấy, quyết không có lý nào lại cứ lần chần, đóng im lâu ngày để nhụt mất khí thế. Hiện nay quan quân tập
     
    Despot thích bài này.

Chia sẻ trang này